quốc tế cộng sản 
  HỒ CHÍ MINH
The Truth about Ho Chi Minh


Sự Thật về Hồ Chí Minh

quoc te cong san 

Âm Nhạc Không Biên Giới: Chấp Nhận Hay Không?

Từ khi thi hành chính sách đổi mới và những văn hoá phẩm đưa ra hải ngoại được thông suốt không bị chống đối, CSVN sau đó bắt đầu liên tục gửi ra những đoàn trình diễn văn hóa nghệ thuật như múa rối nước, triễn lãm tranh ảnh, đại nhạc hội ..v..v..

Theo báo chí, ngày 23-2-2001 bản tin từ AP, qua lời tuyên bố của viên chức nhà nước CSVN, cho biết một phái đoàn ca sĩ gồm Thu Phương, Phương Thanh, Hồng Vân, Lam Trường, Huy MC, Quang Huy sẽ qua Mỹ biểu diễn dưới sự điều động của ông Điệu Hùng, nguyên là phó giám đốc của “Tập Đoàn Trình Diễn Văn Nghệ thành phố HCM”.Thế rồi chỉ 6 tháng sau đó ca sĩ Lam Trường lại xuất hiện qua “Nhạc Hội Hè” tại Anaheim Nam Cali và tháng 7- 2002 với “Đêm Lam Trường” tại San Jose. Những buổi trình diễn như thế thường tạo ra sự chia rẽ giữa những người ủng hộ và những người biểu tình chống đối.

Theo báo Việt Mercury Bắc Cali thì “đa số” ủng hộ những chương trình văn nghệ đó với lý do “nhạc tình không dính dáng đến chính trị và không thể ép buộc nghệ thuật phải theo một chiều hướng chính trị nào”! Bầu show thì khẳng định “chương trình chúng tôi thuần túy văn nghệ không nhằm mục tiêu chính trị ”. Riêng Đặng Dzũng, phó lãnh sự đặc trách Văn hoá và Thông tin thuộc lãnh sự quán CSVN tại San Francisco, lại cố tình quên đi chỉ thị của CSVN ngày 22-1-2000 là “ yêu cầu Bộ Văn Hóa Thông Tin phải phối hợp cùng Bộ Ngoại Giao tổ chức các hoạt động tuyên truyền văn hóa nghệ thuật tại hải ngoại nơi có đông kiều bào cư ngụ” khi lên tiếng cho rằng “Những đoàn văn nghệ này không được sự bảo trợ của nhà nước VN”

Tại các nước tự do, quyền tự do tư tưởng được tôn trọng nên “nghệ thuật vị nghệ thuật”. Ngược lại dưới chế độ cộng sản thì nghệ thuật luôn luôn phải phục vụ cho chính trị, cho chế độ. Hãy nghe Hồ Chí Minh đọc lá thư “Gửi các hoạ sĩ” nhân dịp triễn lãm hội hoạ tại Hà Nội năm 1951 nguyên văn như sau”

Gửi anh chị em hoạ sĩ,
Biết tin có cuộc trưng bày…, tôi nói vài ý kiến của tôi đối với nghệ thuật, để anh chị em tham khảo.

…Văn hoá nghệ thuật cũng là một mặt trận. Anh chị em là chiến sĩ của mặt trận ấy.Cũng như các chiến sĩ, chiến sĩ nghệ thuật cần có nhiệm vụ nhất định, tức là: phụng sự kháng chiến, phụng sự tổ quốc, phụng sự nhân dân, trước hết là công, nông, binh.

Để làm tròn nhiệm vụ, chiến sĩ nghệ thuật của nhân dân có lập trường vững, tư tưởng đúng,nói tóm lại là phải đặt lợi ích của kháng chiến, của tổ quốc, của nhân dân lên trên hết, trước hết.

Về sáng tác thì cần thấu hiểu, liên hệ và đi sâu vào đời sống của nhân dân…

Chắc có người nghĩ: cụ Hồ đưa nghệ thuật vào chính trị.

Đúng lắm, văn hoá nghệ thuật cũng như mọi hoạt động khác, không thể đứng ngoài mà phải ở trong kinh tế và chính trị.”

Ngày 10 tháng 12 năm 1951.

Hồ Chí Minh.

(Trích quyển “ Văn Hồ Chủ Tịch”, tác phẩm chọn lọc dùng trong nhà trường, trang 233, nhà xuất bản Giáo Dục Giải Phóng 1973)

Cũng trong quyển sách này coi như là quyển “ Quốc Văn Giáo Khoa Thư “,được mang ra dạy tại tất cả các trường trung học tại VN, Hồ Chí Minh còn có bài dạy “ Cách Viết”(trang 210 ngày 17-8-1952)  có đoạn như sau:

“…Phải đặt câu hỏi: Viết cho ai?
_ Viết cho đại đa số : Công -Nông –Binh.

Viết để làm gì?

_Để giáo dục,giải thích, cổ động, phê bình. Để phục vụ quần chúng.


Thế thì viết cái gì?

_Trong vấn đề này cũng phải có lập trường vững vàng: Ta Bạn Thù thì viết mới đúng.

Viết để nêu những cái hay, cái tốt của dân ta, của bộ đội ta, của cán bộ ta, của bạn ta…

Còn đối với địch thì như thế nào?

_ Thì nêu những cái xấu của nó để cho bộ đội ta, đồng bào ta biết là chúng nó độc ác như thế nào, để gây lòng căm thù đối với quân địch.

Sự hung ác xấu xa của nó rất nhiều, nếu biết gom góp tài liệu thì tha hồ mà viết. Có những chuyện nó làm, bên ngoài thì như là tốt, mà bên trong thì là xấu, ta phải giải thích cho nhân dân ta hiểu.

Thí dụ: Trong vùng địch, Pháp có khi “phát chẩn” hay là Mỹ “giúp” để tuyên truyền, để mua chuộc. Sự thật là chúng đã cướp chỗ này rồi “giúp” chỗ khác. Một thí dụ ấy đủ biết cái xấu của nórõ rệt rồi. Nhưng nếu không biết xem xét thì tưởng nó làm như thế là tốt…”

(ngưng trích)

Hai bài viết trên đây đã thể hiện rõ “tư tưởng văn hoá của Hồ Chí Minh” mà hiên nay giới lãnh đạo VN coi đó như là khuôn vàng thước ngọc trong chiến dịch “Học Tập Và Làm Theo Tấm Gương Đạo Đức Của Bác Hồ”, cho nên sống ở hải ngoại mà lại nhìn về VN qua lăng kính của đất nước tự do thì e rằng chúng ta lại bị lừa thêm một lần nữa!

Sau 30-4-75, CSVN đốt phá hết sách báo, băng nhạc, tiêu diệt nền văn hoá của miền Nam mà họ cho là đồi trụy. Đến khi CS Liên Xô sụp đổ thì chính sách “đổi mới” bắt đầu nhưng đổi mới để làm giàu mạnh cho Đảng chứ không phải để phản nghịch đe doạ Đảng. Nghị quyết 36 đã được soạn thảo ngay từ khi người Việt tị nạn CS đặt chân lên vùng đất tự do với tên là “ Làm Tốt Công Tác Vận Động Cộng Đồng Người VN Ở Nước Ngoài” và được thi hành triệt để sau đại hội Đảng kỳ 6 năm 1989.

Bộ môn ca trù lúc đầu bị CSVN coi là phong kiến cấm triệt để, sau này “đổi mới” lại phong chức cho cụ Quách Thu Hồ, người có tài về bộ môn này, là “Nghệ Sĩ Nhân Dân”!

Để vinh danh chiếc áo bà ba, vào Nam CSVN cắt hết những vạt áo dài. Đến khi “đổi mới học làm người, đua đòi theo tư bản” thì chiếc áo dài lại được xuất hiện trong những buổi trình diễn thời trang. Mới đây, hai cuộc thi hoa hậu thế giới người Việt 2010 và hoa hậu VN 2010 tổ chức trong cùng tháng 8 tại VN cho thấy những gì mà CS chửi bới người miền Nam trước đây như “ tàn dư của tư bản”, “phồn vinh giả tạo”…thì rõ ràng họ đang chửi vào mặt họ!

Nhạc sĩ dương cầm Đặng Thái Sơn bị Đảng trù dập không cho du học vì lý lịch cha anh có chân trong Nhân Văn Giai Phẩm. Sau nhờ vị giáo sư người Nga khám phá tài năng của anh đã làm áp lực buộc CSVN phải cho anh qua Nga học, mọi chi phí do ông bảo trợ. Đến khi Đặng Thái Sơn đoạt được giải dương cầm quốc tế Chopin thì Đảng lại ôm anh vào lòng tặng cho chức vụ “nghệ Sĩ Nhân Dân” và hãnh diện “Đặng Thái Sơn, tiếng đàn vọng lên từ những căn hầm trú ần. Tiếng đàn bay cao hơn tiếng bom Mỹ nổ.Tiếng đàn vọng lên từ dưới những gốc mít của các trại sơ tán của trường nhạc VN. Đặng Thái Sơn, những nỗi đau của một dân tộc đấu tranh đòi độc lập…”

Đoàn múa rối nước Sông Ngọc có từ lâu đời cha truyền con nối ở tỉnh Hà Nam và Sông Ngọc là tên của một con sông ở đó. CSVN đã buộc đoàn Sông Ngọc phải dạy nghề cho những người mà Đảng đưa về học. Sau đó Đảng lập ra ba đoàn múa rối nước trực thuộc nhà nước là đoàn của bộ Văn Hoá Trung Ương, đoàn Thăng Long (đã 3 lần qua Mỹ trình diễn) đoàn Hồ Chí Minh và nay có thêm hai đoàn là Hải Phòng và Đắk Lắk. Kể từ đó, bộ Văn Hóa tìm cách gây khó khăn cho đoàn Sông Ngọc từ địa điểm cho đến nội dung những vở tuồng mà đoàn trình diễn. Năm 1993 CS bắt họ trình diễn những vở tuồng ca tụng Hồ Chí Minh nhưng đoàn lại đi trình diễn vở tuồng “Sự tích Chuột”. Đoàn bị kết tội chống Đảng, nghệ sĩ bị bắt bớ, dụng cụ trình diễn bị đập phá và những phiền nhiễu xảy ra liên tục khiến đoàn, nhân cơ hội xin phép lưu diễn tại Úc năm 1997, đã phải xin tị nạn. Một năm sau, với sự vận động mạnh mẽ của cộng đồng người Việt Úc Châu, đoàn đã được tị nạn chính trị và định cư vĩnh viễn tại Úc. Như vậy CSVN có tôn trọng nghệ thuật không nếu nghệ thuật đó không đi theo con đường của Đảng? Sự kiện này nói lên được rằng “ Chống đây là chống âm mưu CS dùng nghệ thuật múa rối nước để ngụy tạo tuyên truyền CSVN đã thay đổi, đã phát huy truyền thống dân tộc,trong khi đối với đoàn Múa Rối Sông Ngọc họ lại cố tình tiêu diệt”.

Viết về sự có mặt của thành phần ca sĩ trong nước, tờ VietWeekly lại binh vực một cách vụng về khi cho rằng “họ không hề tuyên truyền cho CS vì không hát những bài hát của CS, cũng như những bài ca tụng HCM” mà không hiểu hoặc cố tình không hiểu rằng lối tuyên truyền của CS ngày nay rất tinh vi. Bài hát “Lời Cha” ca tụng “cha già” suốt đời nhớ ơn người, nếu đằng sau người ca sĩ không có tấm phong họa cái lăng của ông Hồ thì khó mà kết luận đó là tuyên truyền. Chẳng lẽ phải trắng trợn huỵch toẹt “Đêm qua em mơ gặp bác Hồ” hay “Bác cùng chúng cháu hành quân” thì mới gọi là tuyên truyền hay sao? Hồ Chí Minh dĩ nhiên làm sao có thể thiếu được trong những cuốn video do trung tâm Thế Hệ Trẻ phát hành! Hình ảnh ông Hồ tưới cây (vú sữa?), vui đùa với các thiếu nhi hay đứng bên mấy chị em Giải Phóng Miền Nam, cũng được lồng vào trong bài hát Bàn Tay (DVD Học Đánh Vần1).

Kể từ khi vụ treo cờ đỏ của Trần Trường tại Nam Cali thất bại, CSVN tìm mọi cách để phô trương biểu tượng này một cách mập mờ nơi có đông người Việt định cư. Ngôi sao vàng thường được thay thế khi thì cái tô vàng như tờ thực đơn tại nhà thương Fountain Valley Nam Cali, hoặc là bản đồ VN màu vàng trên nền đỏ tại một nhà thờ VN ở Phoenix Arizona.

(Nguồn: Forum trungtamasia.com)

Thời điểm đồng bào Cao Nguyên đứng lên chống lại CS về sự hà khắc chiếm đất, diệt chủng đến nỗi Liên Hiệp Quốc phải can thiệp thì bản nhạc “Thị Trấn Mù Sương”ca tụng đời sống an lành hạnh phúc của người miền Núi được chính tác giả, nhạc sĩ Thanh Sơn từ VN qua, giới thiệu trong cuốn DVD PBN 83 chủ đề Khúc Hát Ân Tình, thì đây có phải là một hình thức giải độc không?

Không khác gì tân nhạc, sau 1975, bộ môn cải lương cũng đã bị dẹp bỏ, nghệ sĩ trở về quê kiếm sống qua ngày. Chính sách đổi mới được giao cho “tiến sĩ” cải lương Bạch Tuyết nắm giữ. Đào kép cũ lần lượt xuất hiện qua những vỡ tuồng của sân khấu miền Nam mà một thời đã làm khán thính giả say mê nay được chính những diễn viên năm xưa đó đảm nhận. Thời Việt Nam Cộng Hoà, nghệ thuật không dinh dáng gì đến chính trị nên những vở tuồng thường được viết dựa trên những sự kiện xảy ra trong xã hội, có yêu thương, có hiếp đáp, có vùi dập có chia lìa…nhưng rồi kết cuộc lúc nào cũng có hậu tức người hiền bao giờ cũng gặp lành, kẻ ác phải bị trừng trị. Nay CS cho phép diễn lại nhưng không trọn vẹn nguyên cả tuồng mà chỉ cho trình diễn những đoạn nào phản ảnh xấu xa về chế độ miền Nam và có lợi cho sự tuyên truyền của Đảng, như tuồng Ông Cò Quận Sáu thì khai thác đoạn ông Cò hóng hách bắt nạt người dân, như chuyện Đời Cô Lựu thì trích phần nói lên nỗi khổ đau của người con gái trước những cảnh bất công của xã hội, như Thái Hậu Dương Vân Nga thì đề cao màn đánh đuổi giặc xâm lăng …

Đó là lý do tại sao có lối diễn tuồng “trích đoạn” mà người  MC. TT giới thiệu thật nhuần nhuyễn, biết nhấn mạnh chỗ nào cần đề cao, liếng thoắng mời  gọi khán giả nếu thấy tên Bạch Tuyết ở bất cứ đâu thì nhớ mua vé đi xem, thúc đẩy thính giả lên tặng tiền cho “tiến sĩ”. Không những thế anh còn là cây cầu nối liền các văn nghệ sĩ , hằng năm vẫn duy trì lễ “giỗ Tổ” tại nhà anh, một dịp cho các nghệ sĩ trong và ngoài nước họp mặt. Nếu đem so với người chủ của anh, một nhà làm truyền thông kiêm nhà văn thì tài ăn nói của anh vượt xa ngàn dặm. Tiếc rằng đêm văn nghệ của ĐVH đã bị rắc rối chứ không thì vai trò MC của anh còn có cơ hội tiến xa hơn nữa!

Hình : nhà báo Thanh Hiệp và MC Thanh Tùng

(nguồn: báo Người Lao Động 9-9-2010)

Âm nhạc là bộ môn dễ đi vào lòng người nghe nhất, CS coi đó là lợi khí hữu hiệu tuyên truyền cho chế độ, nhưng lại rất sợ phản ứng ngược với những băng nhạc ghi lại hình ảnh của miền Nam tự do sản xuất tại hải ngoại. Chủ đề của những video do trung tâm Thúy Nga phát hành trước 1990 đã gây lo sợ cho CS không ít nên ca sĩ nằm vùng đã được gài vào. Giám đốc trung tâm Thúy Nga vốn là người có đầu óc thương mãi, thấy có gì lợi thì nhảy vào. Những năm tháng đầu tiên người tị nạn còn nhớ nhà luyến tiếc quê hương nên những video chủ đề về Quê Hương tăm tối về Ngày Quân Lực… được dàn dựng. Sau đó, khi đời sống người tị nạn đã ổn định, hoà đồng vào cuộc sống mới, bang giao hai nước được thiết lập thì TT.Thúy Nga nghĩ ngay đến số lượng băng sẽ tiêu thụ ở quê nhà nên không ngần ngại hoàn thành cuốn Mẹ 40 để làm vừa lòng nhà nước CSVN, phỉ báng quân lực VNCH, Chúa Phật cũng không so sánh được với sự lớn mạnh của chế độ CS…một lỗi lầm khó bỏ qua cho trung tâm này!

Việc đem lực lượng ca sĩ VN ra hải ngoại không kết quả, hai bầu show nổi tiếng ở Bắc Cali đã đổi chiến thuật bằng cách pha trộn thành phần ca sĩ, trong và ngoàii cùng hát chung.Tại Bắc Cali, chưa bao giờ lại có nhiều đêm ca nhạc như vậy. Chỉ một cuối tuần có đến 3 đêm văn nghệ nào là Nhạc Mùi ,Nhạc Quê Hương,Tình Khúc Vượt Thời Gian, Nhạc Tình Chiều Chủ Nhật, Kim Lợi 12 Năm Kỷ Niệm, v v…ngay cả ca sĩ Thái Thanh mà cũng bận rộn không kém. Thêm vào đó là những bài báo của ký giả tờ VietWeekly quảng cáo cả trang trên Thời Báo Bắc Cali, khen ngợi ca sĩ trong nước không tiếc lời. Khi người ta đã quen với những buổi trình diễn như thế, không tỏ thái độ phản đối, thì hai ông bầu show cũng tự động rút lui, vắng bóng một cách khó hiểu. Ca sĩ trong nước thoải mái trình diễn nhưng vấn đề nhập cảnh khó khăn tốn kém nên chiến dịch “kết hôn với ngoại kiều” đã được thực hiện. Không những ca sĩ mà cả đạo diễn, giáo sư đờn tranh đờn cò cũng tìm đến nâng khăn sửa túi cho Việt kiều.

Để phù hợp với tình thế, âm nhạc phim ảnh(kể cả phim hải ngoại được thực hiện trong nước) cũng thay đổi theo từng giai đoạn.Thời kháng chiến chống “ngoại xâm” thì phải có dao búa chém giết. Khi người Việt bỏ nước đi tìm tự do thì tuyên truyền kín đáo hơn, ca tụng công lao Hồ Chí Minh với tuổi trẻ (Ba Mùa, Tình Cha),ngợi khen kháng chiến (Giòng Máu Anh Hùng, Hà Nội mùa Thu, Mùa Thu Cho Em)… hay sâu xa hơn mô tả nỗi thống khồ thời Pháp thuộc (Mùa Len Trâu), thời chiến tranh(Áo Lụa Hà Đông) v v…Ngày hôm nay thì phải “ru ngù” bằng loại nhạc tình được chọn lọc từ các nhạc sĩ miền Nam như Từ Công Phụng, Ngô Thụy Miên, Trầm Tử Thiêng…phim ảnh thì phô trương cảnh ăn chơi, giàu sang sung sướng (Để Mai Tính). Qua mấy năm quanh quẩn các sòng bài thì thời điểm này “thần tượng” Đàm Vĩnh Hưng bắt buộc phải xuất hiện tại các cộng đồng người Viêt hải ngoại.

Sau khi bị Lý Tống xịt hơi cay, ca sĩ Đàm Vĩnh Hưng họp báo cho biết “ĐVH không giữ một chức vụ nào của chính quyền ngoại trừ họ (nhà cầm quyền CS) nhận ra giọng ca ĐVH có sức lôi cuốn giới trẻ nên đưa Hưng vào là một nhân vật trong số 60 người thanh niên tiên tiến (Hôi Liên Hiệp Thanh Niên) dùng ảnh hưởng của mình kêu gọi những thanh niên lầm đường xì ke ma túy trờ về con đường ngay”

Nên nhớ, múa rối nước là một môn nghệ thuật phát xuất từ tỉnh Hà Nam và Đoàn Sông Ngọc là con cháu tay nghề cha truyền con nối nhưng vì không phải là đảng viên nên đã bị loại bỏ đề những đoàn múa rối phục vụ cho Đảng ra đời. ĐVH thú nhận giọng ca của anh có sức lôi cuốn gìới trẻ nhưng chủ yếu đối tượng có phải là giới trẻ nghiện ngập hay không? Thành phần này Đảng đâu có màng tới, thuốc lắc từ Trung cộng tràn sang Đảng đâu có dẹp?, đường giây buôn lậu bạch phiến lại do chính đảng viên cầm đầu rồi vì cạnh tranh nhau đưa đến hành động xử bắn oan khiêng cho bà Nguyễn Thị Hiệp (ngày 25-4-2000), người Canada gốc Việt, mặc cho chính phủ Canada giận dữ cắt đứt ngoại giao vì không để cho họ qua VN điều tra vụ án khi mà họ nắm được bằng chứng trong tay? Đảng chỉ muốn mỗi khi ĐVH xuất hiện thì giới trẻ nắm tay nhảy nhót, hò hét điên cuồng, quên đi hình ảnh hào hùng bất khuất của Lê Thị Công Nhân, Nguyển Văn Đài, Lê Công Định, Nguyễn Tiến Trung, LM Nguyễn Văn Lý…Đảng cũng không muốn người dân bận tâm đến Hoàng Sa Trường Sa, đến Bauxite đến “tàu lạ” nên sắp đặt cho một đại nhạc hội sẽ mở ra nay mai cho Tuấn Ngọc, Lệ Thu được phép trở về lại để ru ngủ đồng bào!

Theo chương trình vạch định, tháng 3 năm nay ĐVH qua Âu châu hát chung với Như Quỳnh cho quen mắt khán giả, tháng 7 ĐVH đến Mỹ xuất hiện một loạt tại cộng đồng các nơi trên đất Mỹ. Thử hỏi nếu không có chuyện Lý Tống thì chuyện gì sẽ xảy ra? “Duyên Dáng VN” tái xuất hiện? hay chương trình văn nghệ thu hình của TT Thúy Nga “đã đổi chủ”,tăng cường thêm bởi sự quay về của Ngọc Hạ, Như Quỳnh?  và với một lực lượng hùng hậu gồm thành phần ca sĩ hải ngoại từng được phép cho về VN hát, ca sĩ kết hôn với ngoại kiều, tất cả đang nằm chờ đợi chuyến đi này của ĐVH…

Nhưng may thay! Chúng ta phải cám ơn Lý Tống. Bao năm trời ròng rã biểu tình chống đối bị mấy ông ký giả cho là “cực đoan” là “hận thù” là  “thiếu văn  minh”, nay chỉ một cú “xịt” của Lý Tống đã giải toả được nhiều vấn đề. Bị gán cho là “vô văn hoá” cũng không sao miễn là  đấm được một cú thật mạnh vào mặt Đảng cho thấy người tị nạn không phải ai cũng vì tiền trở thành tay sai cho Đảng, dằn mặt được những bầu show trá hình, những toan tính hô hào lỗ lã của ông giám đốc tham tiền muốn biến trung tâm của mình trở thành “ bình mới rượu cũ”, kể cả loại nhà báo viết lách theo tấm check hằng tháng, thức tỉnh những ai còn thờ ơ để CS lợi dụng “âm nhạc không biên giới” che mắt cho những hành động đàn áp tù đày các nhà dân chủ trong khi đó lại quì lạy dâng đất dâng biển cho quan thày, lảm ngơ để chúng uy hiếp ngư dân mình mà không một lời phản đối và nhất là sở thuế IRS đã nhập cuộc khiến cho đêm văn nghệ Hoa Hậu Hoàn Vũ lần thứ 6 phải hủy bỏ một cách bất ngờ… thì vô văn hoá hay tù tội đối với Lý Tống có nghĩa gì khi mà anh có cơ hội đưa tội ác CS ra trước pháp đình?

Tháng Tám vừa rồi nhân dịp qua Florida, khi đến mua hàng ở khu Opera Plaza, chủ nhân của tiệm La Casa De La Guayaberas đã nhắc đến Lý Tống và nói với chúng tôi “ Lý Tống là một anh hùng”. Người Cuba ở Miami đổ ra đường chào mừng biết ơn Lý Tống sau khi anh bay qua Cuba rải truyền đơn gọi Fidel Castro là “Con Khủng Long Già”, trong khi đó một đảng phái trong cộng đồng chúng ta lại dè bỉu “một con én không làm nên mùa Xuân”, có kẻ còn gọi anh là “anh Khùng”! Thế mới biết chúng ta thua xa CĐ Cuba về sự đoàn kết. Nhờ đoàn kết tạo nên sức mạnh mà CĐ Cuba đã biểu quyết xúc tiến việc loại bỏ các sách của CS Cuba kể cả sách do Hà Nội xuất bản ra khỏi các thư viện trong học khu Miami-Dade vì giới phụ huynh cho rằng không trung thực. Cũng nhờ sự đoàn kết mà cộng đồng Cuba đã không chấp nhận “âm nhạc không biên giới” khiến cho chương trình trao giải thưởng Latin Grammy Awards hằng năm đã phải dời về Los Angeles thay vì tổ chức ở Miami Florida vào năm 2001 vì trong chương trình có sự xuất hiện của các ca sĩ từ Cuba sang!

Nay, CSVN tung văn hóa vận ra hải ngoại không ngoài mục đích củng cố địa vị, duy trì chế độ đã làm tan nát quê hương hơn nửa thế kỷ nay. Là người Việt Nam tị nạn CS, nếu còn nghĩ một chút gì cho quê hương thử hỏi chúng ta có thể nào tiếp tay với con buôn, với kẻ mưu đồ chính trị, đi ủng hộ cho những chương trình văn nghệ một chiều như thế này mãi hay không?

Bắc Cali tháng 9/2010

Nhàn SF

Chung Quanh Vụ Biển Đông

Khi chiến hạm USS John S. McCain, được đặt tên sau hai vị sĩ quan hải quân là ông nội và cha của Thượng Nghị Sĩ John MacCain, đang đến bờ biển miền Trung thì tại Washington John McCain đã tuyên bố: “...Ngay thời điểm này, tôi tin rằng 2 quốc gia chúng ta cùng hợp tác vào việc an ninh, phát triển, và tôi tin một ngày nào đó đến vấn đề tự do của tất cả những quốc gia và nhân dân trong vùng Châu Á Thái Bình Dương.” Thế giới đang nhìn về Việt Nam với độ nóng hơn và cũng là cơ hội cho thế hệ sanh sau tìm hiểu thêm về nguồn cội của chiến tranh Việt Nam.


Hai ngày trước, 8/8/2010, chiến hạm đội 7 USS George Washington cũng đã đậu cách bờ Đà Nẵng không xa, một trong những chiến hạm lớn nhất thế giới có sức chứa 70 chiếc máy bay, hơn 5,000.00 thủy thủ, và 4 triệu pounds bom. Phái đòan của quân đội cộng sản vui mừng bước lên tàu trong sự tiếp đón từ phía Hoa Kỳ.

Hiện tượng 2 chiến hạm này tới Việt Nam trong những ngày gần đây không phải là dấu hiệu làm người ta ngạc nhiên. Thật ra, 11/2006 chiếc USS Lassen đã đến cảng Đà Nẵng với vị chỉ huy chiến hạm là Trung Tá Lê Bá Hùng, một người Mỹ gốc Việt, và trước đó, 11/2003, chiếc USS Vandergrift đã ghé cảng Saigon. Chương trình hợp tác và huấn luyện quân sự đã bắt đầu từ thời điểm đó. Bộ Trưởng Quốc Phòng Việt Cộng Phạm Văn Trà đã có buổi họp với Bộ Trưởng Quốc Phòng Hoa Kỳ Donald Rumsfeld tại Pentagon 2 tuần trước khi Vandergrift tới Saigon.


Lần này, lời tuyên bố vào 7/2010 của Ngọai Trưởng Hoa Kỳ,bà Hillary Clinton, tại Hà Nội rằng Hoa Kỳ sẽ giúp giải quyết những tranh chấp trên vấn đề vùng biển đông và các hải đảo mà Trung Cộng đang muốn khống chế. Hai chiến hạm đến đậu, dù là một thời gian ngắn, đang được dư luận coi như thêm một bước tiến mạnh trước thế bành trướng quyền lực của nước cộng sản đàn anh.


Chung quanh hiện tượng biển đông và những điểm đáng ghi nhận


Liên quan tới lý do an ninh trong vùng, vụ chiến hạm của Nam Hàn bị chìm vào 3/2010 làm thiệt mạng 46 hải quân do Bắc Hàn làm ra mặc dù họ từ chối những cáo buộc đó. Trước khi tới Việt Nam, USS George Washington cũng đã làm một cuộc thao diễn quân sự trong 4 ngày với Nam Hàn, mục đích phô trương sự kiên cố vững mạnh của hải quân Hoa Kỳ. Hôm Thứ Hai Aug 9, Bắc Hàn đã phản pháo lại trong vị thế phòng thủ khỏang 110 lọat hướng ra biển gần biên giới nơi xảy ra vụ chiến hạm của Nam Hàn bị chìm. Ông P.J. Crowley, phát ngôn nhân của Bộ Ngọai Giao Hoa Kỳ, nói đùa rằng
“Bình Nhữơng dường như đã làm cả đám cá bị chết.”

Thăng bằng quyền lực. Vùng biển đông được xem như từ nhiều năm nay là nơi chuyên chở hàng hóa, phân nửa đòan tàu của thế giới, một vùng biển rất quan trọng về mặt kinh tế. Ông David Lausman, vị chỉ huy của chiến hạm George Washington, đã phát biểu
“Vùng biển này không dành cho riêng ai, mà cho tất cả mọi người.”

Hoa Kỳ trong việc bàn luận có nên giúp Việt Nam qua tính cách dân sự về nhiên liệu hạt nhân và kỹ thuật để có thể tạo thêm chất uranium trong lòng đất. Tin này đã làm Trung Cộng không vui mấy như báo tại Bắc Kinh đã loan trên hàng đầu.


Những mâu thuẫn trong nội bộ Đảng và chính sách tuyên truyền.


Không thấy dấu hiệu gì rõ rệt trong các thành phần thuộc Bộ Chính Trị, Trung Ương Đảng, về việc có chiều hướng nghiêng về Mỹ. Trong những lần hội họp người ta thấy các lãnh đạo vẫn kiên quyết lập trường giữ thành trì cộng sản mang nhãn hiệu xã hội chủ nghĩa, và luôn đề cao nhân vật quốc tế cộng sản Hồ Chí Minh.
“Tình hữu nghị” với Trung Cộng được tô vẽ đậm đà thêm. Những hành vi mở rộng đường lối cho Trung Cộng vào Việt Nam dễ dàng, chiếm đóng vùng đất cao nguyên trung phần. Phía Việt Nam phản ảnh cho có lệ về việc Trung Cộng chiếm cứ Hòang Sa và Trường Sa. Bắt giam, trù dập sinh viên chống đối Trung Cộng, khó chịu với hàng chữ “Trường Sa, Hòang Sa là của Việt Nam”. Nông Đức Mạnh vẫn tiếp tục thăm viếng hay họp hành với Trung Cộng khi cần thiết.

Việt Nam xuất cảng ngày càng nhiều qua Hoa Kỳ kể từ khi có bang giao vào 1995 - 15.4 tỷ Mỹ kim trong năm 2009. Con số những đảng viên giàu có, nhà cửa đồ sộ, làm chủ cơ sở kinh doanh. Xã hội 2 tầng lớp giàu nghèo cách biệt quá xa.


Về tuyên truyền thì Việt Nam vẫn gieo rắc mức độ “chính nghĩa” khi tiếp tục rỉ rả việc “
cam vàng” hy vọng ăn sâu vào tâm não người dân trong nước về di hại đối với sức khỏe của một số người trong thế hệ sinh sau do người Mỹ làm ra, mặc dù không có một bằng chứng nào cụ thể. Những khoa học gia của Mỹ đã về Việt Nam khám nghiệm và trình bày rằng những dị tật không do cam vàng, chất hóa học mà Mỹ đã rải trong rừng làm trụi lá để Việt cộng không thể ẩn núp trên công tác xâm lăng miền Nam trước 1975.

Đàm Vĩnh Hưng là một văn công nằm trong kế họach tuyên vận và thực hiện Nghị Quyết 36. Người ca sĩ này vào 9/2009 đã là nhân vật chánh trong việc thực hiện một chương trình ca nhạc với tựa đề
“Nghĩa Tình Trường Sơn”, nội dung ca ngợi, ghi công bộ đội vượt trường sơn vào Nam “chống Mỹ cứu nước” . Chương trình này tiếp tục cho tới 2011 (báo VNExpress, 15/9/2009). Việc chống Mỹ vẫn phải chống, bợ đỡ Mỹ vẫn phải làm.

Ý nghĩa của sự trở lại biển đông lần này của Hoa Kỳ cũng có thể làm sáng tỏ hơn mục đích của sự nhúng tay của Mỹ vào miền Nam Việt Nam làm đồng minh năm 1965. Đối thủ của khối tự do, đứng đầu là Hoa Kỳ, là cả khối cộng sản quốc tế trong đó có Trung Cộng mà miền Nam là một tiền đồn trong cuộc chiến tranh ý thức hệ . Ngày nay Trung Cộng bành trướng thế lực không dựa vào ý thức hệ mà nền kinh tế nhờ giao thương với khối tự do.


Có bình luận cho rằng nếu phải có chiến tranh để giải quyết vấn đề khi Trung Cộng đi quá độ thì sự lo ngại đi về phía Trung Cộng nhiều hơn, vì xét ra vũ khí của Hoa Kỳ vượt hẳn phe đối thủ, hơn nữa Hoa Kỳ đã có kinh nghiệm chiến trường trong một thời gian khá dài. Nhưng Trung Cộng có chờ thái độ của Hoa Kỳ hay không hay lại ra tay trước bằng một thứ vũ khí tàn độc nhất hiện nay?


Sự hiện diện của nền kinh tế tư bản chưa hòan hảo vẫn còn bị cái đuôi lòng thòng
“định hướng xã hội chủ nghĩa” dù sao cũng đưa ra chứng nghiệm cho tòan dân thấy sự thất bại từ cốt lõi của chủ nghĩa cộng sản. Đảng đã từng hô hào tiêu diệt tư bản, như nguyên tắc mà Hồ Chí Minh và tập đòan chủ trương dựa vào, rồi làm ra cuộc chiến tranh Nam Bắc để thực hiện ráo riết, nhuộm đỏ cả Việt Nam và thừa lệnh đàn anh đưa thế giới tới đại đồng, một thế giới vô sản không còn giai cấp.

Khó mà ra đi một cách êm thắm khi bản thân Đảng đã không có chút chính nghĩa và gieo quá nhiều hận thù trong dân gian. Đảng chưa muốn buông xuôi khi quyền lực coi như tối thượng, vật chất thì tràn đầy, và sự tòan trị bao trùm cả mọi khía cạnh trong đời sống xã hội. Thế nhưng, trong hòan cảnh hiện nay người ta nghĩ đến một sự tan rã có thể xảy ra khi có hai khối đi riêng rẽ? Và tình trạng hai lối đi này có nguy cơ trên mảnh đất Việt Nam có thể xảy ra một "killing field"? Cũng có thể là một lối đu giây đứng giữa hai thế lực, cố chịu đấm ăn xôi để không bị chao đảo cho tới lúc phải bị té ngã. Cũng có thể Việt Nam phải có chế độ tự do để tránh cuộc chiến xảy ra, và chỉ có cách này là tốt nhất để tiết kiệm xương máu và cơ hội đưa đẩy Việt Nam tiến bộ.


Sự bưng bít ngày càng giảm hiệu quả bởi hệ thống thông tin bén nhạy tòan cầu, bởi sự giao tiếp với khối tự do, người ta có dịp so sánh cái hay cái dở của độc tài và đa nguyên đa đảng. Ai chính nghĩa, ai gian tà từ từ đang lộ diện mỗi ngày một rõ nét. Mục rã từ hệ thống hành chánh, mạnh ai nấy hốt, chức quyền càng cao thì càng dễ tham ô, ăn chơi, mua bán thân xác phụ nữ, bán lao nô ra nước ngòai, không ai còn nghĩ tới quyền lợi của quốc gia và dân tộc. Sự thiêu hủy nền móng đạo đức luân lý là một hệ quả mà phải mất rất nhiều năm để xây dựng lại. Nhiều người nhìn ra tệ trạng của đất nước kể cả giới trẻ có ý thức.


Chưa thấy gì đáng ghi nhận về việc làm lung lay chế độ. Những nhà đấu tranh dân chủ đã hy sinh, còn lại thì lai rai vào khám ra tù từ hơn 3 thập niên qua. Hai chữ “nhân quyền” được dùng làm vũ khí họat động khi nhà nước cộng sản Việt Nam trở thành một bộ phận của quốc tế và phải tuân theo luật pháp sau khi đã ký vào.Trên thực tế thì cộng sản vẫn trân tráo vi phạm, chà đạp lên quyền làm người, xem thường luật lệ quốc tế. Những vụ cướp đất cướp tài sản của dân, của các cơ sở tôn giáo luôn còn diễn ra.


Sự sợ hãi. Chủ trương khủng bố và đàn áp tất cả mọi chống đối, có khi không bằng giấy tờ. Công cụ của Đảng là công an có thể thừa lệnh miệng của cấp trên ngay cả đánh đập đến chết dân để giải quyết vấn đề. Hiện tượng này liên tiếp xảy ra những năm gần đây. Người dân không biết dựa vào đâu để trình bày những nỗi oan ức. Riêng giới trí thức và đảng viên thức tỉnh thì một số chỉ muốn an thân, một số lên tiếng trong giới hạn, còn lại một số chỉ trích cái tồi bại, xuẩn động của tập đòan chop bu, cái sai lầm của chủ nghĩa cộng sản... Nhưng rồi đa số lại tránh né nói về Hồ Chí Minh. Nhân vật họ Hồ này từ hơn 10 năm nay là đề tài nổi cộm mà nhà trường bắt buộc tuổi trẻ phải nghiên cứu học hỏi, nhất là ‘tư tưởng’, một thứ mà các sử gia và học giả thế giới cho rằng Hồ Chí Minh chưa bao giờ có.


Nhận xét


Không gì hơn là sự thúc đẩy tác động ngay trong lòng dân chúng. Cựu tổng thống George W. Bush đã từng tuyên bố rằng người Mỹ sẵn sàng giúp bất cứ quốc gia nào đang bị cai trị độc tài đòi quyền tự do. Hoa Kỳ không thể ngang nhiên can thiệp vào hiện tình nước khác khi không có lý do chính đáng.


Trích dẫn một vài đọan trong Diễn Văn Cổ Võ Tự Do Dân Chủ Của Tổng Thống Goerge Bush tại Prague, Crech Republic, ngày 5 tháng 6, 2007:


Việc chấm dứt một chế độ độc tài đòi hỏi phải có sự ủng hộ cho các tiếng nói của lương tâm ở ngay trong lòng những xã hội bị đàn áp...Trong cái nhìn của nước Mỹ, các nhà đấu tranh dân chủ ngày hôm nay là các người lãnh đạo dân chủ trong tương lai. Do đó, chúng tôi đang đi những bước mới để đẩy mạnh sự hỗ trợ của chúng tôi. Chúng tôi vừa thiết lập một Quỹ Bảo vệ Nhân quyền, để cung cấp tài chính cho việc hỗ trợ về pháp lý và tốn kém thuốc men cho các nhà bất đồng chính kiến bị bắt giữ hoặc bị đánh đập bởi các chế độ độc tài.
Những người đang sống dưới một thể chế độc tài cần biết rằng họ không bị lãng quên. Người dân Bắc Hàn sống trong một xã hội khép kín, đối kháng bị đàn áp khốc liệt, và họ bị cắt đứt liên hệ đối với anh chị em của họ ở miền Nam…. Người dân Cuba đang tuyệt vọng để có tự do – và là một quốc gia đang tiến vào giai đoạn chuyển tiếp, chúng ta phải nhất định đòi hỏi tự do bầu cử, tự do ngôn luận và tự do hội họp. Và tại Sudan, tự do bị từ chối và nhân quyền bị vi phạm bởi chính quyền đang theo đuổi chế độ diệt chủng với chính công dân của họ. Thông điệp của tôi đối với những ai đang sống dưới ách độc tài là: Chúng tôi sẽ không bao giờ miễn thứ cho những kẻ đàn áp các bạn.
Chúng tôi sẽ luôn luôn tranh đấu vì tự do của các bạn.
Tự do cũng đang bị tấn công tại những quốc gia đã có qúa trình phát triển. Tại Venezuela, lãnh đạo đã dùng hạ sách mị dân để hủy bỏ dân chủ, gia tăng sự kiểm soát và duy trì quyền lực. Chính quyền của Uzbekistan tiếp tục bịt miệng những tiếng nói độc lập bằng cách bỏ tù những nhà hoạt động nhân quyền. Và Việt Nam gần đây đã bắt giữ và cầm tù nhiều nhà hoạt động tôn giáo và chính trị ôn hòa.
Chiến hạm USS John S. MacCain là chiếc thứ 4 đáng kể tiến về đậu tại vùng biển Việt Nam kể từ 2003. Trong tinh thần cỗ võ tự do dân chủ, ông Bush đã đề ra và việc đó đến bao giờ xảy ra trong thực tế? Khi chiến hạm đang tiến vào bờ biển Đà Nẵng thì tại Washington DC trên miệng của Thượng Nghị Sĩ John McCain cũng phát ra “...Tôi tin một ngày nào đó đến vấn đề tự do của tất cả những quốc gia và nhân dân trong vùng Châu Á Thái Bình Dương.” Một lời nhắc nhở, không những cho dân tộc Việt Nam mà cả những quốc gia đang bị ảnh hưởng và gọng kìm của Tàu cộng. Ảnh hưởng của Hoa Kỳ trên toàn thế giới về làn sóng tự do dân chủ không chỉ một chiều, vì đó cũng chính là quyền lợi của cường quốc này.

Không gian vùng biển đông đang có thêm nét sống động khi 2 thế lực mạnh đang đóng chốt và là đề tài cho thiên hạ bàn tán, còn không khí ngột ngạt thế nào, nếu có, sẽ phải theo ngọn gió thổi về Hà Nội và Bắc Kinh.


Bên cạnh chuyện biển đông, những người tù bất khuất trong Nam vừa lết tấm thân tàn ra khỏi trại tù khổ sai sau hơn 23 năm, 33 năm, 34 năm…Còn nhiều nữa những tù nhân chính trị vô danh, họ sẽ về đâu? Hay chỉ được biết đến tên tuổi sau nhiều năm lao khổ như Trương Văn Sương, Nguyễn Anh Hảo… Người ta cũng đang hướng về một người tù “thâm niên”, đôi mắt đã bị mù loà, hơn 34 năm với bản án chung thân. Đó là anh Nguyễn Hữu Cầu, một cựu đại uý Quân Lực Việt Nam Cộng Hoà, đã viết hơn 500 lá đơn, không phải xin ân xá, mà chỉ kêu oan, nhưng tuyệt nhiên không được cứu xét.


Một luồng gió mới nữa thổi tới miền Nam nước Việt. Tân Tổng Lãnh Sự người Mỹ gốc Việt, ông Lê Thành Ân, sẽ bay về Saigon nhậm chức vào 9/2010. Được biết, Tổng Lãnh Sự Hoa Kỳ tại Saigon sẽ có một bộ phận, trong số hơn 300 nhân viên, nhận đơn cứu xét, và chắc chắn văn phòng này sẽ rất bận rộn trong những ngày tháng tới.


Bút Sử

10/8/2010

Sources: http://www.foxnews.com/world/2010/08/10/warship-visits-foe-vietnam-china-warns-stay-yellow-sea/

-------------------------------------------------------------------------

Tai Sao Dam Vinh Hung bi Chong Doi

Rất nhiều ca sĩ từ Việt Nam qua Mỹ và các nước khác để hát “show” trong nhiều năm nay, nhưng trong số những ca sĩ đó chỉ có Đàm Vĩnh Hưng (ĐVH) là nhân vật bị coi như cái gai mà cộng đồng người Việt cần phải nhổ. Thử đưa ra những dẫn chứng tại sao cùng nhận xét.

Những chống đối âm ỉ mỗi lần có sự xuất hiện của ĐVH, từ Hoa Kỳ đến Úc Châu và các nơi. Dư luận xôn xao hơn khi có bài viết phỏng vấn ĐVH đăng trên báo Công An Nhân Dân ra ngày 25/10/2007 có tựa “Phía sau những chuyến bay show hải ngoại: Cạm bẫy và đố kỵ.” Trong bài viết này ĐVH đã chê trách một vài ca sĩ hải ngọai ganh tỵ với anh ta, nói xấu những ca sĩ khác.
Những ngày đầu tiên tôi sang hát, một nam ca sỹ hải ngoại ghét tôi ra mặt… Đơn giản vì tôi và anh ấy cùng phong cách nhạc sôi động và anh ấy cũng hát bài "Trái tim tình si", nên khi hát cùng show bài của anh ấy bị cắt và tôi được hát. Rất nhiều ca sỹ hải ngoại không ưa tôi vì lý do đó,…Ngay trong làng nghệ sỹ hải ngoại, chuyện bỏ show, chuyện bầu tranh giành ngôi sao, thậm chí chuyện ca sỹ đánh ghen… cũng không có gì là lạ, các báo của người Việt hải ngoại thường xuyên có những tin như vậy.”
ĐVH không quên nói theo tinh thần của một cán bộ cộng sản không hơn không kém:Vừa qua đó đã quay lưng với đồng nghiệp và một cách gián tiếp, quay lưng lại với đất nước mình... Đã có một buổi họp báo tại Little Saigon ngày 20/11/2007 để lên tiếng về hành động hống hách, hồ đồ của ca sĩ ĐVH, gồm các ca sĩ Như Quỳnh, Nguyễn Hồng Nhung, Trần Thu Hà, Bằng Kiều…Các ca sĩ đại diện này yêu cầu ĐVH tỏ thái độ phục thiện bằng lời xin lỗi chậm lắm là ngày 30/11/2007. Không thấy có bản tin nào về việc đáp lại của ĐVH.

Vào mùa hè năm nay, vấn đề ĐVH bùng nổ lớn hơn, không liên quan nhiều tới cung cách một người ca sĩ, mà đằng sau ĐVH là cả một sự sắp xếp có đường lối liên quan tới chủ trương và kế họach của Đảng và Nhà Nước Công Sản Việt Nam.


Có phải như vậy nên mới có hiện tượng người phụ nữ tặng hoa (Lý Tống giả dạng) xịt hơi cay vào mặt ĐVH khi anh ta vừa dứt bài ca diễn, bước khom người tới nhận hoa, tại hội trường Santa Clara, miền Bắc California, hôm Chủ Nhật, 18/7, vừa qua. Bên ngòai thì hằng trăm đồng hương biểu tình, có cả sự hiện diện của dân biểu liên bang Cao Quang Ánh.

Lý Tống bị bắt. Nhiều bản tin dồn dập, báo Mỹ lẫn Việt. Khi bài viết này sắp lên mạng thì tin từ báo Mercury News rằng Lý Tống sẽ được “bail” ra tối nay để kịp thời gian chuẩn bị về Nam California dự cuộc biểu tình tại Anaheim Arena ngày Thứ Bảy 24/7/2010.


Thật vậy, việc nhục mạ ca sĩ hải ngọai là chuyện nhỏ, vì bên cạnh đó có những sự việc nghiêm trọng hơn liên hệ tới những sinh họat đấu tranh chính trị trong cộng đồng. Có nhiều lý do để người ta xuống đường tỏ thái độ, nhưng không gì hơn là vạch mặt ĐVH, một công cụ của Nghị Quyết 36 của Bộ Chính Trị Đảng Cộng Sản dành cho người Việt ở nước ngòai.


Trong bài viết giới hạn này, xin vắn tắt trình bày một số chi tiết cần thiết để chứng minh ĐVH là ai và đang làm gì.


Anh Huỳnh Minh Hưng (ca sĩ Đàm Vĩnh Hưng - áo trắng) trở thành thành viên của Ủy ban Hội Liên hiệp thanh niên TP.HCM - Ảnh: Trung Uyên
, báo Tuổi Trẻ

Một số bản tin ghi nhận ĐVH là Chủ Tịch Hội Nghệ Sĩ Nhân Dân.Theo báo Tuổi Trẻ 15/10/2009, ĐVH là đại biểu trong số 69 đại biểu được chọn trong một đại hội lần 6 gọi là Đại Biểu Hội Liên Hiệp Thanh Niên Việt Nam diễn ra tại Saigon ngày 15/10/2009, và sau đó họ chọn ra 22 đại biểu để dự tại Hà Nội với cùng một mục tiêu cho niên khóa 2010-2015.

ĐVH:Tôi cũng lo lắng khó chu toàn trách nhiệm với chức vụ này vì lịch làm việc ca sĩ dày đặc của mình. Nhưng khi được anh Bùi Tá Hoàng Vũ - chủ tịch Hội Liên hiệp thanh niên TP.HCM - và nhiều người khác động viên, tôi thấy vững lòng hơn. Tôi rất quan tâm đến những vấn đề của thanh niên và sẽ cố gắng hết sức có trách nhiệm với chức vụ này.


Không thấy hình ảnh hay bản tin gì đặc sắc trong lần đại hội tại Hà Nội. Tuy nhiên, trên youtube xuất hiện vào ngày 16/11/2009 một video tựa đề “Khi Tổ Quốc Cần, Ca Khúc Chính Thức của Đại Hội Đại Biểu Hội Liên Hiệp Thanh Niên Việt Nam, 2010-1015”. ĐVH là nhân vật chánh trong phim với hình ảnh từng đòan người diễn hành ngòai đường gồm học sinh, sinh viên, công nhân, công an, cán bộ, v.v..ĐVH mặc áo xanh có biểu hiệu cờ đỏ sao vàng.

Video này do Phạm Đăng Khương thực hiện, đạo diễn, và ông cũng chính là tác giả bài hát, đồng thời là Phó Giám Đốc Nhà Văn Hóa Thanh Niên TP HCM.
Trên báo ThanhNien online 15/4/2010, có đăng tin về vai trò của ĐVH.Trước ngày đại hội chính thức vào tháng 10/2009 thì 6/2009 có một buổi họp. ĐVH có mặt với vai trò ủy viên Ban Thư Ký của Hội Liên Hiệp Thanh Niên Việt Nam.
Sau khi được chính thức “trình làng” tại Đại hội Hội LHTN TP Hồ Chí Minh vào tháng 10.2009, Khi Tổ quốc cần “đến tay” Đàm Vĩnh Hưng là do anh mời hay ca sĩ tự nguyện hát?
- Trong đại hội ấy, Đàm Vĩnh Hưng cũng có mặt với tư cách là Ủy viên Ban Thư ký Hội LHTN VN TP.HCM. Ban đầu, tôi ngỏ ý mời Đàm Vĩnh Hưng thu âm, xuất phát từ ý thích đơn giản thôi, Hưng có đắn đo... Nhưng sau khi nghe hết, anh đã tình nguyện hát. Khi thu âm, tôi xin quay hình Hưng luôn, rồi về dàn dựng, lồng thêm hình ảnh các hoạt động của thanh niên vào thành clip tương đối hoàn chỉnh, chỉ định sử dụng nó trong những buổi sinh hoạt của Đoàn, Hội. Bất ngờ hơn, trong cuộc họp của Hội LHTN VN vào đầu năm 2010, khi chiếu lên cho hội nghị xem, mọi người rất xúc động (trước hình ảnh một Đàm Vĩnh Hưng trong chiếc áo xanh tình nguyện của thanh niên, thể hiện tinh thần rất thanh niên) và anh Võ Văn Thưởng - Bí thư thứ nhất Trung ương Đoàn, Chủ tịch Hội LHTN VN, đã quyết định chọn ca khúc này làm bài hát chính thức cho Đại hội Hội LHTN VN lần VI
Theo báo Vietbao.vn, ngày 13/6/2002, ĐVH đã tổ chức ca nhạc gây quỹ cho “các bà mẹ Việt Nam anh hùng” tại Huế để tỏ lòng tạ tội, sau khi lỡ nhắc về quá khứ lần vượt biên hụt bị bắt nhốt 6 ngày nên rất quý tự do, trước mặt khán giả, và liền sau đó bị công an “làm việc”.
Đàm Vĩnh Hưng tự nhận: "Không hiểu sao lúc đó tôi lại bốc đồng nói năng và hành xử như vậy. Đó đúng là những phút giây không kiểm soát, không biết dừng lại đúng lúc. Một bài học đắt giá cho tôi. Tôi buồn và hối hận lắm. Chỉ sau vài ngày mất ăn mất ngủ, tôi đã sụt 4 kg. Mong khán giả hiểu và thông cảm cho tôi. Điều tôi mong mỏi hiện nay là được xin hai chữ đại xá".
Sắp tới, anh đứng ra tổ chức một chương trình gây quỹ bảo trợ các bà mẹ Việt Nam anh hùng ở Huế vào 25/6 tại Nhà Văn hoá TP Huế. Anh coi đây như một lời xin lỗi tới người dân Huế.
ĐVH cũng đã từng nằm trong chương trình "giao lưu văn hoá" "Duyên Dáng Việt Nam". Với mục đích "văn hoá vận", chương trình này ra đời vừa sau khi Hoa Kỳ bỏ cấm vận đối với Việt Nam.

Báo VNexpress, ngày 15/9/2009, đăng tin về ĐVH trong đêm nhạc tựa đề “Nghĩa Tình Trường Sơn” tổ chức tại nhà hát Hòa Bình.

Đàm Vĩnh Hưng hát vì 'Nghĩa tình Trường Sơn’. Các ca sĩ sẽ trình bày 14 ca khúc chọn lọc về Trường Sơn. Các tiết mục thể hiện trên sân khấu được thiết kế tái hiện lại hình ảnh con đường lịch sử trong thời kỳ chống Mỹ cứu nước…."Nghĩa tình Trường Sơn" là đêm nhạc do báo Sài Gòn Giải Phóng và các đơn vị phối hợp tổ chức, nhân dịp phát động chương trình cùng tên, kéo dài đến năm 2011.


Cũng tin từ các báo cộng sản trong nước, ngày 6/9/2009, có buổi lễ gọi là "Chung Tay Thắp Sáng Nhà Giàn DK1" tại Vũng Tàu. ĐVH đóng góp bằng "Bài Ca Nhớ Bác."
Những chi tiết trên về ĐVH thể hiện rõ vai trò của một cá nhân trong cương vị khác hơn là một ca sĩ đơn thuần. Dĩ nhiên, từng hành động, từng việc làm của anh ta không thể qua khỏi sự kiểm sóat của thành phần thuộc hệ thống Đảng. Tất cả những DVD của ĐVH đều bị kiểm duyệt kể cả DVD “Khỏang Cách” là tên được đặt sau khi “Lạnh Cảm” bị “các cơ quan chức năng” bác bỏ. Một vài tin cho rằng ngay đêm 18/7/2010 tại hậu trường Santa Clara có sự hiện diện của nhân viên Tòa Tổng Lãnh Sự Việt Cộng tại San Francisco Phan Thị Thu Hằng, và điều này cũng không gì làm ngạc nhiên.

Nghị Quyết 36 có ghi:

Đảng và Nhà nước ta luôn luôn coi cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài là một bộ phận không tách rời của cộng đồng dân tộc Việt Nam, đã đề ra nhiều chủ trương, chính sách rộng mở và biện pháp cụ thể nhằm tạo điều kiện ngày càng thuận lợi hơn cho đồng bào về thăm đất nước, người thân, đầu tư, kinh doanh, hợp tác khoa học - công nghệ, hoạt động văn hóa và nghệ thuật. … . Việc phát hiện, bồi dưỡng những nhân tố tích cực.
Việc làm của ĐVH trong những năm qua có phải đi đôi với lời trong nghị quyết? Dũng Đen là một trong những người bầu show chuyên làm những nhạc hội mướn ca sĩ từ Việt Nam qua có phải được Đảng “bồi dưỡng”?

Có lẽ vì thiếu thông tin nên một số người còn hoang mang không hiểu sao ca sĩ ĐVH bị chống đối. Vụ xử ông Lý Tống sẽ tiếp diễn và nẩy nở tinh thần đấu tranh khí thế hơn, bằng chứng là đã có hơn trăm người (theo Mercury News) đứng bên ngòai trong mỗi lần có phiên tòa những ngày qua.

"He fights for freedom in my country," said 64-year-old Y Van Le, one of the supporters. "Half my family died by the communists."- Ông ấy chiến đấu cho tự do trong đất nước tôi, phân nửa người trong gia đình tôi bị cộng sản giết chết. Đó là lời của Y Van Le, 64 tuổi, một trong những người ủng hộ Lý Tống.
Dù bản án ghi ra 5 tội trạng, nhưng chắc chắn luật sư Nguyễn Tâm sẽ dùng khả năng nghề nghiệp của mình để chứng minh hành động của Lý Tống là chính trị mà thôi. Nó thể hiện trong hòan cảnh tương tự như cựu quân nhân Hoa Kỳ, ông Michael Smith, vào 4/2005, đã phun nước thuốc lá ông ngậm trong miệng vào mặt cô đào phản chiến Jane Fonda, người đã bay về Hà Nội 1972 thăm bộ đội cộng sản, khi cô có buổi ra mắt sách tại Kansas City. Ông trả lời với báo chí rằng việc làm của ông là làm thay cho những đồng đội đã chết trong chiến tranh cũng như còn sống đã bị Jane phản bội khi đi về phe kẻ thù. Smith bị tội rất nhẹ là “disorderly conduct” và bị phạt giam một thời gian ngắn.

Người ta chưa quên trước đây, 2002, chiến sĩ gan dạ Nguyễn Thị Ngọc Hạnh đã tự thiêu nhưng không thành công để phản đối Nguyễn Tấn Dũng khi Dũng qua Mỹ. Sau một thời gian bị giam, cô Hạnh được tha, nhưng cô muốn ở tù tiếp để có dịp lập hồ sơ đưa vào tòa những tội ác của Hồ Chí Minh và Đảng đã làm trong những thập niên qua.


Một hành động nhỏ nhưng có ảnh hưởng rất lớn. Có phải đây cũng cùng ý với chánh án Gilbert Brown khi ông phát biểu (Mercury News 23/7/2010):

"I have no doubt that Mr. Tong will show up for his next court appearance,'' the judge said. "I think he's actually looking forward to it as a political forum.'' – Tôi chắc chắn rằng ông Tống sẽ ra trình tòa vào phiên tới. Tôi nghĩ ông ta thực sự đang hướng về nơi đó như một diễn đàn chính trị.
Bút Sử
23/7/2010

80 Năm Co`n Ngủ Chưa Tỉnh Thức

 
Năm 2009, chủ tịch nước cộng sản Nguyễn Minh Triết đã cho người Việt Nam trên thế giới có những trận cười nghiêng ngả khi ông xuất hiện tại Cuba và trong đại hội chiêu dụ “Việt kiều” tổ chức tại Hà Nội với những lời phát biểu rất ngô nghê. Một số không ít đã tặng cho Triết biệt hiệu “danh hài 2009.” Nay thì 2010, những nụ cười có thể thấm thiá hơn khi nhìn toàn Đảng xảy ra tại đại hội kỷ niệm 80 năm ngày thành lập Đảng Cộng Sản Việt Nam.

Biết rồi khổ lắm nói mãi!


Ngày 3/2/2010 Đảng Cộng Sản Việt Nam gom tụ hầu hết các lãnh đạo và được đưa lên truyền hình cho dân chúng xem cũng như trên thế giới qua youtube. Người ta đã chê Triết làm trò cười khi hô hào ca ngợi Đảng thì trong lần này các ông bà đảng viên có gỡ gạc “thanh danh” cho Đảng chút nào không?


Đài truyền hình của Đảng đã trình bày khá trung thực về hình thức buổi lễ này. Phải quay phim trình chiếu để phô trương
“lực lượng nồng cốt" đang “xây dựng Đảng.” Mới vào buổi lễ thì cũng có vẻ xôm tụ khi các công thần chấp tay chào cung kính, và mọi ngươi đều vỗ tay. Để thấy não trạng của các ông bà đảng viên thế nào người xem chỉ nhìn vào gương mặt, tư thế ngồi, và họ có lắng nghe Tổng Bí Thư Nông Đức Mạnh nói hay không.


Đoạn phim chiếu nhiều lần hầu như nhiều góc cạnh trong phòng. Không biết anh quay phim có bị kiểm thảo không, chứ người xem thấy hàng ghế nào cũng có nhiều người không
“nghiêm túc.” Họ không ngủ gục thì ngáp, không ngáp thì mặt mày lơ đãng phóng hồn đâu đâu. Trên bục thì Nông Đức Mạnh cứ gục đầu vào trang giấy mà đọc thao thao có tuyệt. Nó không bất tuyệt tại vì có gì mới lạ đâu để hấp dẫn người nghe. Cũng là những câu nhàm chán trên những lưỡi gỗ của các ông đảng viên sừng sỏ trải dài trên 80 năm qua.




Nông Đức Mạnh: Đảng ta vẫn là đảng cầm quyền


Nhật Bản sau 15 năm bị 2 trái bom nguyên tử đất nước tan hoang đã trở thành một quốc gia giàu mạnh phát triển. Việt Nam sau 35 năm người dân vẫn còn bị cấm đoán quyền tự do phát triển trí tuệ. Thế mà những lưỡi gỗ như Ngô Thành Dương, gọi là giáo sư trưởng khoa triết học tại Hà Nội, vẫn phát biểu
“vận động học tập tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh” để “tăng thêm niềm tin của đảng viên và nhân dân…” Thế thì đến 80 năm sau đảng viên và nhân dân vẫn chưa có niềm tin gì ở Hồ Chí Minh và Đảng mà đến nay lãnh đạo vẫn luôn phải nhắc nhở và nhắc nhở mãi …20 năm, 30 năm nữa chăng ? Hay hơn thế nữa vì Đảng vẫn chủ trương độc tài toàn trị muôn đời trên mãnh đất Việt Nam. Nhưng mà theo cái đà ngủ gục này thì không biết Đảng sống được mấy năm nữa?



Thật vậy, với ý đồ mị dân, lưỡi gỗ Nông Đức Mạnh đã phát biểu là
“…đến năm 2020, về cơ bản Việt Nam sẽ trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại.” Thế thì Việt Nam đến nay vẫn chưa có gì gọi có phương cách hiện đại, mà còn đi xuống nữa nhất là về mặt văn hoá trong đó có tôn giáo? Ước vọng của Mạnh là giấc mơ của Đảng chỉ về cơ bản thôi chứ không dám mơ tới hệ thống công nghiệp quy mô. Nhưng mà Mạnh đã đi quá sai với sự tính toán của chuyên gia thế giới, phải là ít nhất 158 năm Việt Nam mới theo kịp Singapore, đừng nói chi tới Hoa Kỳ và các nước tiến bộ khác.



Đó là tại sao các ông bà đảng viên ngáp dài ngáp vắn ngủ ngáy khò khò…Các
“đồng chí” trẻ tuổi có thể tin chút ít về một Việt Nam có một “cơ bản” tiến bộ, nhưng mà các “đồng chí” già đã có quá nhiều kinh nghiệm nghe lưỡi gỗ rồi, và trong não trạng cũng đã hiểu quá rõ là dưới chế độ độc tài toàn trị việc hô hào tiến lên xã hội chủ nghĩa chỉ là một cái bánh vẽ mà thôi.

Nông Đức Mạnh nói như thét:
“…Chúng ta tin tưởng vững chắc Đảng Cộng Sản Việt Nam nhất định sẽ hoàn thành xuất sắc trọng trách của mình…quyết tâm xây dựng nước Việt Nam hoà bình, độc lập, thống nhất, dân chủ giàu mạnh để tiến lên chủ nghĩa xã hội.” Thế thì 35 rồi Đảng vẫn hát hò giống nhau, vẫn chưa hoàn thành trọng trách, vẫn còn trên đường để Việt Nam có hoà bình (Đảng chiến tranh với toàn dân mỗi ngày), độc lập (Đảng phải nghe theo Trung Cộng đến phải dâng đất nhượng biển của tổ tiên), thống nhất (lòng dân chưa là một với Đảng). Còn 2 chữ “Tự Do” thì không thấy ai đề cập đến trong ngày này. Dân chủ kiểu của Mạnh nói với ý là “dân làm chủ mà nhà nước lãnh đạo” thì mọi người đều biết.

Mọi người dường như có thói quen trong mỗi lần hội hop. Sau khi nghe Mạnh la to "Chủ Tịch Hồ Chí Minh vĩ đại sống mãi trong sự nghiệp của chúng ta" thì họ bắt đầu mở mắt tỉnh táo lại chút ít để sửa soạn ra về sau khi làm xong phận sự.

Bút Sử

6/2010


 

Người  Đi "Hàn Gắn Vết Thương Chiến Tranh”

 

Kể từ khi cựu Tổng Thống Bill Clinton bãi bỏ cấm vận và thiết lập bang giao với Việt Nam thì những chuyến thăm viếng Việt Nam thường xuyên được tổ chức cho các cựu chiến binh Hoa Kỳ trở lại nơi mà họ đã từng chiến đấu để bảo vệ tự do cho Miền Nam nói riêng và vùng Đông Nam Á nói chung. Họ đã được nhà nước cộng sản Việt Nam niềm nở tiếp đón long trọng. Người thì được đưa đến khu nghĩa trang liệt sĩ Trường Sơn, đó là ông Gary Canant, để thổi kèn bài Tiến Quân Ca như một lời tiễn đưa các liệt sĩ mà trước đây họ đã từng cầm súng bắn nhau. Kẻ thì đến Việt Nam để ra mắt cuốn sách “ Không Thể Chuộc Lỗi” mà tác giả, một người trước đây là lính thủy quân lục chiến mang tên Hồi giáo Allen Hassan, đã cho tờ Lao Động Cuối Tuần (số 16 ngay 29-4-2007) biết rằng “hình ảnh 40 trẻ em Việt Nam bị lính Mỹ bắn vào đầu tại Quảng Trị năm 1968 (Mậu Thân) đã ám ảnh ông trong suốt thời gian dài cho mãi đến khi hoàn thành cuốn sách này thì tâm hồn ông mới được thanh thản”. Đồng thời Allen Hassan nhấn mạnh “khi đọc xong cuốn sách này, mọi người sẽ hiểu bây giờ dù làm bất cứ việc gì nước Mỹ cũng không thể chuộc lại tội lỗi của mình đối với người dân Việt Nam”. Ngưòi khác như ông Leon F. Rowland, người lính Mỹ gốc Phi Châu, nay là giám đốc dự án có tên “Peace Trees Vietnam”, một tổ chức phi chính phủ hoạt động tại Việt Nam, thì “mong muốn giúp đỡ hàn gắn những vết thương chiến tranh, hàn gắn những nỗi đau của quá khứ, phát triễn Việt Nam và sự kết nối Việt Nam- Hoa Kỳ”…

Cứ như thế, người cựu chiến binh nào đến Việt Nam được báo chí cộng sản ca tụng thì đều là nhân chứng trong những vụ thảm sát hoặc là người đã từng cầm súng giết dân Việt Nam vô tội (y như những lời tường trình của Thượng Nghị sĩ John Kerry trước Quốc hội Hoa Kỳ vào năm 1971,và cũng không khác gì câu chuyện Tom giết người trong đặc san “ Ngày Em Hai Mươi Tuổi” của thiền sư Thích Nhất Hạnh), nay ăn năn hối cãi trở về Việt Nam “chuộc tội” bằng cách  hàn gắn lại vết thương qua các vận động cho vụ kiện Da Cam cũng như dọn dẹp những bom mìn còn sót lại. Họ không đến Việt Nam đơn lẻ mà đi từng đoàn do tổ chức mang tên “Vietnam Veterans Memorial Fund” (VVMF “ Quĩ Tưởng Niệm Các Cựu Chiến  Binh Mỹ Ở Việt Nam” ) do vị chủ tịch là jan Scruggs cầm đầu.

nguồn: VOA- Jan Scruggs người thành lập Bức Tường Tưởng Nhớ

Jan Scruggs đã từng tham chiến tại Việt Nam lúc 19 tuổi trong đơn vị Lữ Đoàn Tác chiến hạng nhẹ. Ông cũng là người đứng ra quyên góp để thành lập Đài Tưởng Niệm Cựu Chiến Binh Mỹ trong chiến tranh Việt Nam (The Vietnam Veterans Memorial) tại Washington DC. Trong tiết mục “Câu Chuyện Việt Nam” ngày 9-1-10,  ký giả Nguyễn Trung cho thính giả đài VOA biết  một phái đoàn cựu chiến binh Mỹ sẽ đến thăm Việt Nam vào tuần tới*.Theo hướng dẫn viên Jan Scruggs thì  đây là chuyến viếng thăm thứ 11 kể từ chuyến đi đầu tiên năm 1999. Mục đích của  những chuyến đi, cũng theo Scruggs,  là giúp cho các cựu chiến binh Mỹ tiếp xúc được với “ các viên chức địa phương” để thấy rằng Việt Nam đã thay đổi.Tự cho mình là người “đi hàn gắn vết thương chiến tranh”, ông Scruggs cho biết: “Từng dẫn nhiều đoàn cựu chiến binh Mỹ quay trở lại Việt Nam, tôi nhận thấy họ trân trọng người Việt Nam vì sau những gì trải qua, người Việt Nam không tức giận hay thù nghịch, mà vẫn chào đón các cựu chiến binh cũng như các khách du lịch Mỹ. Người dân Việt Nam đều rất thân thiện, nên tôi có cảm giác mọi người đang cùng hàn gắn vết thương sau cuộc chiến thảm khốc…”.*

Thế nhưng câu chuyện ông Thor Halvorssen được Ỷ Lan phỏng vấn trên đài Á Châu Tư Do ngày 25-3-10 mới đây thì lại khác hẳn*.Thor Halvorssen, nhà sản xuất điện ảnh, đồng thời là chủ tịch sáng lập hội Nhân Quyền (Human Rights Foundation) tại New york. Là một người tranh đấu cho nhân quyền, ông Thor Halvorssen đã đến Thanh Minh Thiền Viện thăm Đại Lão Hoà Thượng Thích Quảng Độ thì bị công an phường đánh đập, thẩm vấn bắt giam. Ông cho biết như sau: “… sau cuộc viếng thăm, mới bước ra, bốn người công an liền áp đến tôi. Một trong bọn họ đánh thúc vào lưng tôi.Cả bốn tên cùng la hét tại sao tôi vào chùa, tôi đến chùa làm gì! Rồi họ dẫn tôi về đồn công an, ở đây tôi bị một sĩ quan năm sao thẩm vấn và giam giữ trong một tiếng rưỡi đồng hồ. Sau đó họ để cho tôi ra về vì tôi nói thẳng với họ rằng không thả tôi ra họ sẽ gặp khó chứ tôi chẳng bị khó khăn gì đâu. Thật là một kinh nghiệm hãi hùng. Tôi phải nói rằng tôi quá vui sướng khi thoát khỏi Sàigòn”.

Nguồn : RFA-Chủ tịch sáng lập hội nhân quyền tại New York, Hoa Kỳ, ông Thor Halvorssen

 và hình ông Thor Halvorssen bị đánh bầm lưng

(Photo courtesy of alterpresse.org)

 

 

Gần  đây nhất, công an CSVN đã hành  hung  nhà ngoại giao Hoa Kỳ, ông Christian Marchant , ngăn cản không cho ông vào thăm cha Lý. Họ lôi ông vào xe và dùng cánh cửa xe đập liên tục vào ông (theo AP). Báo CS thì lại loan tin “một nhân viên Đại sứ quán Mỹ gây rối trật tự, quát tháo chửi rủa tục tĩu bằng tiếng Mỹ lẫn tiếng Việt, gạt ngã nhân viên sở Ngoại Vụ (CS) đến khuyên giải, đấm vào mặt một ng ười dân đứng gần và xô ngã cả đám đông Công an kịp thời đến mời người này về sở Ngoại Vụ tỉnh Thừa Thiên giải thích các qui luật của luật pháp VN nhưng ông này tự cho mình là nhân viên ngoại giao, tỏ thái độ bất hợp tác bỏ ra về”. (Bản tin này đăng trên báo Thanh Niên ngày 7-1-2011 và chỉ vài ngày sau là xóa đi mất)

 

 

 

(Nguồn:Người Việt- ông Christian Marchant trong lần gặp gỡ sinh viên VN

 

 

 

 

Thời gian qua Việt Nam, Thor Halvorssen đã có dịp thấy tận mắt hình ảnh của một đất nước mà theo ông thì “sự tuyên truyền tẩy não thật kỳ dị. Màu sắc tuyên truyền sâu rộng trang trải khắp nơi, Hồ Chí Minh là Che Guevara của Việt Nam. (*) Hình ông ta được dán khắp nơi, ông theo dõi chúng ta khắp nơi. Một chính quyền tuyệt đối Cộng sản nhưng đồng thời cũng là tư bản, thật là điều quá ư kỳ quặc. Điều thấy rõ là họ chỉ nhắm tới một chuyện mà thôi. Bằng mọi giá họ muốn

thu tóm tiền bạc của du khách và của nước ngoài. Nhưng họ chẳng quan tâm một tí ti nào cho nhân quyền”

Nhận xét của Thor Halvorssen đáng cho Jan Scruggs suy nghĩ. Nhà cầm quyền CSVN niềm nở ân cần với vị chủ tịch VVMF phải chăng vì ông này là người đã mang lại cho họ nhiều lợi nhuận trong dự án “tháo gỡ bom mìn“, trợ giúp các nạn nhân mà theo hội VVMFcủa Jan Scruggs, từ 1975 đến nay có đến hơn 100,000 người Việt Nam tử vong hoặc bị thương do bom mìn và nhiều loại vật nổ khác sót lại sau chiến tranh? Để vận động thêm cho dự án này, Jan Scruggs đã phài nhờ đến những bài viết kèm theo hình ảnh nạn nhân đạp phải mìn tại Việt Nam của David Lamb, ký giả tờ Los Angeles Times (người đã từng viết sách cho rằng Hồ Chí Minh không phải là cộng sản), đồng thời John Kerry, người bạn cùng chí hướng với Jan Scruggs cũng góp công không nhỏ vận động trong Quốc Hội Hoa Kỳ. Kết quả tháng Tư năm 2005, Hoa Kỳ lần đầu tiên đã bằng lòng cung cấp cho VVMF 5 triệu mỹ kim qua chương trình tháo gỡ bom mìn.

Phó chủ tịch Liên hiệp Các tổ chức hữu nghị Việt Nam Trần Đắc Lợi thân mật tiếp đoàn cựu chiến binh Mỹ . ảnh: Tùng Lâm (nguồn: báo Thanh Niên 27-4-05)

Tin mừng này được đưa ra trong lúc Jan Scruggs cùng nhóm 25 cựu chiến binh Hoa Kỳ đang đi thăm Hà Nội, chuyến viếng thăm lần thứ 10 của ông. Nói thế không có nghĩa từ 1999 đến nay ông chỉ có 11 chuyến  viếng thăm Việt Nam mà đây chỉ là 11 chuyến đi “đặc biệt” thường  tổ chức vào Tháng Tư dẫn dắt các nhân vật  vốn là cựu chiến binh Hoa Kỳ nay thành công trên thương trường về giúp ông “hàn gắn vết thương chiến tranh”. Vui mừng vì thành quả này, trả lời cho Việt ngữ BBC, Jan Scruggs đã ca tụng đất nước Cộng Hoà Xã Hội chủ Nghĩa Việt Nam Tự Do Hạnh Phúc này là một đất nước “tuyệt vời và văn minh”.

Mỗi năm cứ gần đến thángTư thì “Bom mìn nổ chậm” lại được báo chí Đảng thổi phồng. Năm nay rõ ràng là Việt Nam đang đưa tín hiệu cầu cứu đến ông chủ tịch hội VVMF với hàng tít lớn “Tai Hoạ -Tai Nạn” (VNExpress  28-1-10) . Một quả đạn đại bác 75 ly phát nổ ngày 27-1-10 tai địa điểm hốt rác cạnh trường học Nguyễn Huệ thành phố Đông Hà tỉnh Quảng Trị. Tin này cũng đưọc xuất hiện trên bản tin của hãng thông tấn AP. Số người chết từ 1975 đến nay theo bàn tin này là hơn 42000 và bị thương là khoảng 62000.

Trong buổi chuyện trò với ký giả Nguyễn Trung đài VOA, Jan Scruggs cho biết dự án Project RENEW của ông có mục đích “giải quyết hậu quả chiến tranh Việt nam”.  Chứng minh cho điều này là ngay lúc đó tiếng nói từ Việt Nam của ông Đỗ Thiên Đăng, nạn nhân đạp phải mìn cụt hai chân, đã cho VOA Việt ngữ biết, qua sự giúp đỡ của Project  RENEW mà từ 2003 đến nay gia đình ông có cuộc sống khá giả con cái đỗ đạt thành tài.

Tuy nhiên trên tờ Công An số 1206 phát hành ngày 25-12-03 một bài viết buộc người ta phải đánh dấu hỏi. Qua tựa đề “ Hàng Trăm Trẻ Học Chung Với Tử Thần” nội dung câu chuyện xin được tóm tắt  như sau:

“Đầu năm 2002 trong giờ lao động, học sinh trường tiểu họcTiên Thuận D Tây Ninh đã vô tình phát hiện được trái đạn M79. Không hề biết trên tay mình là một thứ vũ khí có thề gây chết ngườ, lại do tuỗi trẻ hiếu động, bọn trẻ cầm trái lựu đạn liệng khắp sân trường.  May không có chuyện gì xảy ra Mặc dù người bảo vệ trường đã thu trái lựu đạn đào hố chôn phía hàng rào sau trường nhưng cô hiệu trưởng không an tâm, gọi điện báo Xã Đội đến lấy đi. Cô hiệu trưởng còn báo cáo lên cấp lãnh đạo Xã Huyện trong những buổi họp đầu năm và nhắc lại tại các buổi toạ đàm của phòng giáo dục huyện. Ban lãnh đạo hứa sẽ giải quyết nhưng sau đó vẫn không nhắc gì đến mà đạn thì vẫn cứ tiếp tục phát hiện.Sau mỗi lần như vậy thì công việc của cơ quan chức năng Xã là nhặt đạn mang đi tiêu hủy, còn công phát hiện đạn luôn luôn vẫn là của thầy trò trường Tân Thuận và người… bán ve chai!

Bất an, mòn mỏi đợi chờ, trường chỉ còn biết khoanh vùng nguy hiểm không cho trẻ đến gần.Mà làm sao có thể kiểm soát được trong suốt giờ giải lao? Cuối cùng cô hiệu trưởng Trần Thị Thiệu, ngày 4-4-2003 đã quyết định làm tờ trình lên các cấp lãnh đạo “khẩn thiết đề nghị ban lãnh đạo quan tâm đến việc rà phá bom mìn còn sót lại vì tính mạng của 321 em học sinh”. Vì được báo cáo trên mặt giấy tờ nên ngay hôm đó cán bộ xã điện về đề nghị trường lập biên bản, xác minh mật độ bom mìn. Dù không chuyên môn nhưng vì nóng lòng muốn cơ quan chức năng đến giải quyết nên nhà trường thành lập đoàn xác minh mật độ bom mìn do chính cô hiệu trường Thiệu làm trưởng đoàn. Việc kiểm tra chỉ dựa trên phán đoán và vùng đất 60m2 được khoanh vùng chờ được giải quyết…May mắn cán bộ Huyện xuất hiện nhưng lại không làm gì hết, một cán bộ cho biết… “vì kinh phí quá lớn ngân sách Huyện không đủ khả năng chi ra!

Việc chưa được giải quyết thì 6 tháng sau, ngày 28-11 người bán ve chai lại tình cờ đào được hai quả lựu đạn cách mặt đất khoảng 20cm. Lo sợ lựu đạn nổ, người này vội vàng trả lại chỗ cũ lấp đất sơ sài. Lần này lựu đạn phát hiện không nằm trong khu vực 60m2 mà lại trước cửa văn phòng nơi thầy trò qua lại hằng ngày. Quá bức xúc, ngày 3-12 cô hiệu trưởng báo cáo khẩn đến các cấp lãnh đạo xã đội,công an, Đảng Ủy, UBND xã Tiên Thuận nhờ lấy hoặc hủy bỏ. Sau một tuần chần chừ, đùn đẩy trách nhiệm cho nhau, xã đội mới cử người đến mang đi.”

 

                                                                                                         (nguồn: báo Công An)

 

Cuối cùng thì cô hiệu trưởng chỉ vào những khoảng sân cỏ mọc um tùm ngậm ngùi nói với nhà báo “ Nếu phòng giáo dục có phê bình vì công tác vệ sinh yếu kém thì chúng tôi cũng chịu thôi, ai dám giỡn với bom mìn!”

(Ngưng trích) g

 

Vâng, chẳng ai dám đùa giỡn với bom mìn kể cả các đảng viên đảng CSVN, nhưng nếu phải hi sinh 321 mạng người của trường tiểu học Tiên Thuận D đề “ giải quyết hậu quả chiến tranh” Đảng chắc chắn không từ! Bỏ qua việc rà phá khu vực 60m2, chỉ yêu cầu đến lấy mang đi huỷ bỏ hai quả lựu đạn, thế mà từ Xã đội, Công an, cho đến Đảng Ủy đến Uỷ Ban Nhân Dân xã Tiên Thuận… đã chần chờ đùn đẩy trách nhiệm cho nhau để rồi một tuần sau xã đội mới cử người đến mang đi, thì… đây có phải là “lệnh của Đảng” hay không? Con số nạn nhân hơn 100 ngàn kể từ 1975 đến nay mà Jan Scruggs đưa ra chẳng biết trong đó có em nào của trường Tiên Thuận D không?  Và có biết bao nhiêu trẻ thơ, người dân vô tội đã bỏ mạng trong chiến dịch “chết theo cấp số” đề ra của Đảng từ những năm 2000 đến 2004 dùng làm bằng chứng cho cái gọi là “tội ác chiến tranh” để lãnh được trợ cấp 5 triệu Mỹ Kim cho Jan Scruggs đi “hàn gắn vết thương chiến tranh”?

Sau năm 1975 chiến tranh chấm dứt, Jan Scruggs nảy ra ý định thành lập một đài tưởng niệm các chiến sĩ đã hi sinh trong trận chiến Việt Nam. Để thực hiện sáng kiến này, năm 1979 Jan Scrugg vận động quyên góp thành lập “Quĩ Tưởng Niệm các cựu chiến binh Mỹ ở VN “ (VVMF) và tháng 11 năm 1982 đài Tưởng Niệm  được khánh thành do sự đóng góp của quĩ VVMF lên đến 8 triệu mà không qua một sự trợ giúp nào của chính phủ. Quĩ Tưởng Niệm vẫn được duy trì cho đến nay, theo Jan Scruggs, “có mục đích duy trì bảo tồn Đài Tưởng Niệm và nhất là thúc đẩy nâng cao các hoạt động nhận thức về hậu quả của chiến tranh VN cũng như tổ chức các chuyến đi mang tính hàn gắn tới đất nước khu vực Đông Nam Á này”.

Ngày lễ Cựu Chiến Binh Hoa Kỳ 1-11-1996, Jan Scruggs đã cùng nhóm phản chiến tổ chức buổi lễ tại Đài Tưởng Niệm cho Kim Phúc lên phát biểu. Họ sắp đặt cho mục sư John Plummer tự nhận mình là kẻ ném bom làm cô Kim Phúc bị thương ở Trảng Bàng năm 1972. Cả hai ôm chầm lấy nhau, người xưng tội, kẻ tha thứ, trước sự chứng kiến của hàng ngàn cựu chiến binh Hoa Kỳ. Câu chuyện tha thứ cao cả này được giới truyền thông loan đi khắp nơi. Một năm sau, qua sự điều tra của tờ báo Baltimore Sun bên miền Đông Hoa Kỳ, mục sư John Plummer đã phải lên tiếng xin lỗi ngay trên tờ báo này vì ông chẳng phải là viên phi công ném bom mà cũng không phải là người chỉ huy ra lệnh ném bom mà đây chỉ là vở kịch do nhóm Jan Scruggs đạo diễn. Cựu trung tá hồi hưu Ronaldn Timberlake đã viết trên tạp chí Mỹ có tên Vietnam số tháng 4-2000 như sau:

“…Câu chuyện láo khoét này được dựng lên vì nó mô tả được sự gớm ghiếc của chiến tranh. Trảng Bàng là trận chiến giữa người Việt Nam với người Việt Nam. Quân lực VNCH đang chiến đấu chống lại cuộc xâm lăng của miền Bắc Việt Nam. Liệu cô Kim Phúc có biết được người phi công đã dội bom làm cô bị thương chính là người cùng xứ sở với cô chứ không phải là người Mỹ? Sự phổ biến câu chuyện láo khoét này được xem như một chiến lược đắc lực mà Kim Phúc dùng để đánh vào chiến trường . Kim phúc được bầu “Đại Sứ Thiện Chí”của Unesco và đã sáng lập ra tổ chức trong nước Mỹ lấy tên “Kim Foundation” để quyên tiền dưới tên cô. Chúng ta nên đặt câu hỏi trước khi gửi đi tấm chi phiếu đóng góp vào lời kêu gọi về sự tha thứ này. Sự xuất hiện của Kim Phúc tại bức tường Tưởng Nhớ phải chăng được dùng như một thủ đoạn để làm tiền? Vậy thì những đồng đô la quyên được sẽ về tay ai?  (http://www.vnafmamn.com/TrangBang_incident.html)

Những đồng đô la quyên được, như lời Jan Scruggs, sẽ dùng vào việc giải quyết hậu quả chiến tranh VN mà hậu quả chiến tranh không gì khác hơn là Bom Mìn và Da Cam. Dĩ nhiên mục tiêu này không phải dừng nơi đây, phải làm sao cho thế giới thấy được “tội ác của đế quốc Mỹ” buộc chính phủ Mỹ phải có trách nhiệm bồi thường chiến tranh điều mà CSVN hứa không được đòi hỏi khi đặt bút ký kết xin được bang giao.Thử hỏi nếu không có thành phần phản chiến Mỹ lập mưu tính kế, liệu CSVN có làm được không?

Một Jan Scruggs, người đứng ra xây dựng bức tường, thay vì để tưởng nhớ đến những người lính Hoa Kỳ đã hi sinh trong cuộc chiến như ông từng tuyên bố khi lập quĩ Tưởng Niệm, thì ngay tại bức Tường này ông ta lại bịa đặt câu chuyện láo khoét để phỉ báng 58 ngàn chiến binh Mỹ đã nằm xuống, bôi nhọ danh dự tổ quốc mình, đem chính nghĩa về cho kẻ ác. Phải chăng vì những toan tính đó mà Jan Scruggs, ngay từ đầu, đã không muốn nhờ đến sự trợ cấp của chính phủ Hoa Kỳ khi xây dựng Đài Tưởng Niệm?

Người thứ hai tiêu biểu cho công tác “đi hàn gắn vết thương chiến tranh” là Allen Hassan, gốc người Hồi Giáo, tham gia chiến tranh Triều Tiên,về Mỹ được tiếp tục học trở thành bác sĩ, qua Việt Nam phục vụ tình nguyện tại bệnh viện Quảng Trị từ tháng năm 1968.

nguồn: BS Allen Hassen.Quàng Trị 1968

báo Lao Động.Ảnh TL

Như đã giới thiệu ở phần mở đầu, năm 2007 Allen Hassan qua Việt Nam ra mắt cuốn sách “Không Thể Chuộc Lỗi”(Failure To Atone). Cuốn sách này được CSVN mua đứt bản quyền, coi như một khám phá chưa ai biết về “tội ác của đế quốc Mỹ” qua câu chuyện 40 trẻ em ( từ nằm ngửa đến 5 tuổi) đã bị Thủy quân Lục Chiến Mỹ sát hại bằng những viên đạn xuyên qua đầu vào năm 1968. Câu chuyện tàn ác như thế mà chỉ chiếm có 5 trang trong số 309 trang của cuốn sách, và không có lấy một hình ảnh nào dẫn chứng cho câu chuyện ,( trong khi đó thì đầy dẫy những tấm hình chụp nhà thương Quảng Trị nơi Allen làm việc). Allen đã phải dùng kéo cắt hai dải băng đeo tay có viết giòng chữ “Thủy Quân Lục Chiến Mỹ Thẩm Vấn” lấy từ thi thể các em coi như  đó là “bằng chứng”. Thế nhưng, cuối cùng thì Allen lại kêu lên“ Giờ đây tôi chẳng có một chứng cờ gì hỗ trợ cho những gì mình đã thấy tận mắt vì hai dải băng này bị đánh cắp bởi hai nhân viên CIA mà theo ông  họ trong chiền dịch Phượng Hoàng, thủ tiêu bất cứ ai mà họ thấy  “có vấn đề” kể cả việc thủ tiêu người Mỹ!

Câu hỏi đặt ra nếu lúc đó mà có vai trò CIA hoạt động lộng hành như thế ở Việt Nam thì tại sao Seymour Hersh, người phanh  phui câu chuyện thảm sát Mỹ Lai  chỉ cách trước đó 2 tháng, đã không hề hấn gì mà còn được lãnh giải thưởng  Pulitzer vào năm 1970? Seymour Hersh  cho đến nay vẫn gây khó khăn cho chính phủ Mỹ , tiếp tục dùng ngòi bút cho nổ vụ nhà tù Abu Ghraib năm 2004 và tiếp đó 2006 là vũ khí nguyên tử của Iran. Nếu nước Mỹ mà độc tài như Allen mô tả thì làm sao giải thưởng Pulitzer lại có thể tuần tự trao cho Peter Arnett, cho Nick Ut, cho Stanley Karnow, cho David  Halberstam...và  làm sao cô đào Jane Fonda có thể  bay qua lại Hà Nội ngồi trên khẩu súng phòng không chụp hình với kẻ thù, sinh con với Tom Hayden lại ngang nhiên đặt tên con là  Trổi ???

Giả dụ nếu hai giải băng không bị “CIA đánh cắp” mà còn nằm trong tay,Allen Hassan cũng không sao đủ bằng chứng để kết tội Hoa Kỳ khi mà giải băng chỉ ghi vỏn vẹn mấy chữ “Thủy Quân Lục chiến Mỹ thẩm vấn”. Đây cũng là lý do tại sao câu chuyện thảm sát 40 trẻ em của Allen đã không được ai tin mặc dù về Mỹ ông đã cho phổ biến, đã viết thư cho Tướng Colin Powell, John McCain cho cả Bộ Quốc Phòng. Nếu Allen có đủ tài liệu minh xác cho câu chuyện của mình thì truyền thông như  New York Times, Washington Post, CNN, AP, Walter Cronkite… đã nhanh tay vồ lấy đâu phải đợi đến năm 2007 cho CSVN mua  đứt bản quyền ? Những cơn ác mộng vây quanh Allen cũng không khác gì âc mộng của mục sư John Plummer trong chuyện cô Kim Phúc. Bây giờ thì Allen mãn nguyện lắm rồi vì ít ra cuốn sách của ông kêu gọi nước Mỹ “phải xám hối, phải chuộc tội” cũng đã được phát hành quảng bá ở Việt Nam nơi mà con người luôn được nhồi sọ bằng sự điêu ngoa dối trá!

Ngoài câu chuyện “ Bốn Mươi Trè Em Bị Lính Mỹ Tàn Sát”, ngòi bút  Allen tập trung nhiều vào chất độc Da Cam. Ngay cả tấm ảnh chụp bà bác sĩ Nguyễn thị Ngọc Phượng giám đốc “xưởng đẻ” Từ Dũ đang “bảo quản các bào thai dị dạng” ở chương Da Cam ( trang 278) cũng có vấn đề.

 

 Thời Việt Nam Cộng Hoà, nhân viên nào đã từng làm việc tại bệnh viện Từ Dũ, cùng với những sinh viên y khoa thực tập tại đây và nhất là những ai thuộc chương trình “ Bảo Vệ Mẫu Nhi” ( một vài vị hiện đang sống tại Canada) họ đều thấy và biết rõ những bào thai dị hình này có từ thời Pháp thuộc, được trưng bày trong các chiếc lọ chứa phoọc- môn để sinh viên nghiên cứu học hỏi. Thế mà chiếm miền Nam, CS vơ vét luôn cả những quái thai này, coi như tài sản quí báu đem đi trình diện khắp mọi nơi, từ viện bảo tàng Tội Ác Chiến Tranh đến những cuộc triễn lãm. Khi có nhà báo ngoại quốc nào đến xem thì cán bộ kè kè theo giảng giải. Chả thế mà nhà báo người Anh, Hugh Warwich, đã tin tưởng đó là sự thật khi ông viết : “Có lẽ di hại hãi hùng nhất của chất độc da cam sẽ được tìm thấy bên trong một căn phòng khoá trái tại bệnh viện Phụ Sàn Từ Dũ ở Sài Gòn. Tại đây, các bức tường kín đầy những bình đựng những bào thai bị hư và cả những thai nhi có hình hài đầy đủ.” (trang279))

Dĩ nhiên không thể nào phủ nhận được hậu quả của chất độc diệt cỏ, nhưng con số nạn nhân mà CSVN đưa ra trong các vụ kiện lên đến hàng triệu cần phải xét lại. Cũng như những nạn nhân đạp phải mìn, Đảng CSVN đã không từ bất cứ một tội ác nào miễn đạt được mục tiêu. Theo cố giáo sư Lê Cao Đài, giám đốc điều hành Quĩ BảoTrợ nạn nhân chất độc da cam Việt Nam, cho biết:Chất dioxin có thể di truyền qua nhiều thế hệ và ở Viêt Nam di chứng da cam đã truyền sang thế hệ thứ ba. Theo điều tra mới đây, mỗi năm ở Việt Nam có 1/1000 trẻ em sinh ra bịnh dị tật” (trang 278)

Nhà nước CSVN đã thiếu trách nhiệm bổn phận, cố tình bỏ phế cho dân lạm dụng các chất hoá học độc hại trong vấn đề trồng trọt, bảo quản thức ăn. Thậm chí một nhà khoa học, Tiến sĩ Nguyễn Quốc Tuấn, lên tiếng báo động có chất diệt cỏ tẩm trên trái cây đưa qua từ Trung cộng thì bị nhà nước phạt kỷ luật với tội danh “ cung cấp thông tin cho báo chí làm lộ bí mật của khách hàng” !!! Nếu biết lo cho mạng sống người dân, CSVN chắc chắn đã không ngăn chặn những mẫu máu, mẫu đất, mẫu cây ra khỏi phi trường Tân Sơn Nhất khi các khoa học gia Mỹ muốn mang về nước để nghiên cứu! Nếu nghĩ đến cả một thế hệ tương lai, CSVN ắt phải nghiêm chỉnh hợp tác với phái đoàn Hoa Kỳ tìm hiểu tận nơi nguyên do nào mà mỗi năm có đến 1/1000 trẻ em sinh ra bệnh dị tật?(con số do CS đưa ra). CSVN không muốn tìm hiểu nguyên nhân vì ngay tại buổi họp giữa Hoa Kỳ và CSVN tại Hà Nội tháng 3-2002, Nguyễn Trọng Nhân đã lên tiếng “ Với số tiền thay vì nghiên cứu thì tốt hơn Hoa Kỳ nên dùng nó để giúp đỡ ngay bây giờ cho các nạn nhân”. Chỉ một lời nói đó cũng cho thấy ý đồ của CSVN. Tại sao lại sợ tìm ra căn nguyên chất độc Da Cam? Thời chiến, phụ nữ lên rừng hộ lý cho bộ đội, sanh con bỏ cho cô nhi viện.Thử hỏi những đứa trẻ mồ côi đó sau này lập gia đình với nhau sanh con dị dạng thì đó cũng do chất độc da cam hay sao?

 Ngoài Jan Scruggs, Allen Hassan còn có Seymour Hersh. Tet Mâu Thân và vụ Mỹ Lai chỉ cách nhau hai tháng, thế mà Seymour Hersh không hề nhắc gì đến cảnh CS tàn sát chôn sống gần 3000 người dân Huế mà chỉ khuấy động câu chuyện Mỹ Lai. Vụ Mỹ Lai giờ lại được nhà đạo diễn Oliver Stone quay thành phim. Trong chiến tranh Việt Nam, cần phải nhắc thêm  đến Jane Fonda, Tom Hayden, Daniel Ellsberg, Peter Arnett, Ramsey Clark, Bernadine  Dorhn, Bill Ayers,….Họ là ai? Họ là người Mỹ nhưng lại luôn luôn chống đối nước Mỹ, đứng về phía cộng sản coi Mỹ là kẻ thù chung. Ngày hôm nay, họ vẫn lợi dụng quyền tự do tư tưởng để làm hại nước Mỹ. Chính vì thế mà tiến sĩ Roger Canfield, trong một cuốn sách xuất bản mới  có tên “How The Ameri –Cong Won The Vietnam War Against The Common Enemy - America” (Mỹ Cộng đã thắng trong cuộc chiến Việt Nam như thế nào) được đài VOA giới thiệu, đã gọi họ là Mỹ Cộng (Ameri-Cong)*.Quả thật vậy,nước nào cũng có cộng sản chẳng lẽ nước Mỹ lại không?

Riêng với người Viêt Nam tị nạn chúng ta thì lại cần phải phân biệt rõ ràng hơn: Có hai nước Mỹ, một nước Mỹ ủng hộ chúng ta và một nước Mỹ chống lại chúng ta, để rồi đừng bao giờ lên án những người Mỹ đứng bên ta là “Khi Đồng Minh Tháo Chạy”!

 

Berlin  Tháng4/năm2010- 2011

Nhàn SF

 

(*)Che Guevara người Argentina được cộng sản Nga đưa ra như một anh hùng chống lại Mỹ tại các nước Nam Mỹ cũng không khác gì Hồ Chí Minh của Việt Nam. Thời chiến tranh Việt Nam, những cuộc biểu tình rầm rộ tại Mỹ đòi Hoa Kỳ phải rút quân khỏi VN thường có hình ảnh kèm theo những tiếng la “ Che! Che! Hồ!  Hồ!!!

 

*http://www1.voanews.com/vietnamese/news/vietnam-story/a-19-2010-01-09-voa23-82834507.html

* http://www.rfa.org/vietnamese/in_depth/NY-human-rights-activist-got-beaten-and-interrogated-by-police-after-visiting-venerable-thich-quang-do-YLan-03252010215159.html

 

 

*http://www.voanews.com/vietnamese/news/Comrades-In-Arms-How-The-Ameri-Cong-Won-The-Vietnam-War-Against-The-Common-Enemy-America-03-23-10-88945392.html

 

 

 

 

Tai Sao Co Chien Tranh Viet Nam?

Có những người luôn phê bình tổng thống Johnson về điểm yếu của ông trong chính sách đương đầu với cộng sản miền Bắc trong giai đoạn chiến tranh, ông đã không chủ trương muốn chiến thắng. Nhưng kiểm lại tài liệu lịch sử thì thấy rằng ông Johnson đã không hẳn là vậy. Nguyên do của sự lưng chừng không dứt khoát đi ra từ những vấn đề phức tạp liên quan mà chúng tôi sẽ trình bày trong một tiêu đề khác. Cũng như tại sao Johnson đã không tái ứng cử.

 

We have learned at a terrible and brutal cost that retreat does not bring safety and weakness does not bring peace. It is this lesson that has brought us to Vietnam - Chúng ta học ở một cái giá khủng khiếp và tàn bạo rằng sự rút quân không mang lại an toàn và sự yếu đuối không mang lại nền hòa bình. Nó là bài học này mà đã đưa chúng ta tới Việt Nam.

 

Câu nói trên của tổng thống Lyndon Johnson trong một buổi họp báo tại Toà Bạch Ốc vào năm 1965 khi chuẩn bị tăng cường quân sự để đạt mục đích chiến thắng trong cuộc chiến hết sức cam go.

 

Tại Sao Có Chiến Tranh Việt Nam?

 

Một chút ít hậu cảnh khi nói về chiến tranh Việt Nam là cuộc chiến giữa Việt Minh với Pháp từ 1946-1954 kết thúc tại Điện Biên Phủ. Nguyên do có cuộc chiến này cũng vì sự xuất hiện của Hồ Chí Minh sau thế chiến thứ 2 kết thúc. Làn sóng đỏ bắt nguồn từ Hồ tại Á Châu là mối đe doạ cho khối tự do mà chính tổng thống Richard Nixon đã phải nhấn mạnh. Ông Nixon cho rằng nhiều người còn lầm tưởng đó là cuộc chiến có tinh thực dân của Pháp, nhưng thật ra đó là cuộc chiến tranh chống cộng sản (It is not colonialism, it is communism, No More Vietnams, trang 36).

 

Trong phim tài liệu "Why Vietnam" do John Ford thực hiện, ghi nhận hiện tượng coi như dị thường rằng có 3 nhóm người chống nhau tại 3 khu vực: nhóm Việt không cộng sản chống Việt cộng sản, và trong 2 nhóm đó có số người chống Pháp.

 

Sau khi thua trận Điện Biên Phủ (vũ khí của Tàu Nga cung cấp hùng hậu cho Việt Minh) Pháp rời Việt Nam. Lúc này cờ đỏ bay càng nhiều hơn trong mọi nẻo đường miền Bắc. Hiệp Định Geneva do Tạ Quang Bửu, đại diện cộng sản Bắc Việt, ký với Pháp chia đôi lãnh thổ Việt Nam tại vĩ tuyến 17, miềm Bắc thuộc cộng sản, miền Nam có chính phủ theo thể chế tự do.  Nếu cộng sản miền Bắc chấp hành những gì ghi trong hiệp định thì dù chia đôi nhưng dân chúng hai bên vẫn sống trong hoà bình yên ổn. Trường hợp Nam Hàn chẳng hạn, quân đội Hoa Kỳ vẫn đóng đó hàng chục năm, nhưng không ai cho rằng đó là hành động xâm lăng mà với mục đích giống như tại miền Nam Việt Nam là ngăn chặn làn sóng đỏ từ Bắc Hàn. Hơn nữa, quân đội Hoa Kỳ còn đó và trong hơn 3 thập niên qua, Nam Hàn đã và đang phát triển kinh tế vựot bực so với các quốc gia tiến bộ khác.


Riêng việc chia đôi Việt Nam thì phải hiểu đó là kế họach của Nga Tàu đưa ra cho tay sai Hồ Chí Minh thực hiện. Thực tế  thì nó là một thiết bị cho sự thắng lợi về phe cộng sản. Hình bên chúng ta thấy Chu Ân Lai lộ vẻ vui mừng thỏa mãn sau khi Pháp-Việt cộng sản ký xong Hiệp Định Geneva. Bắc Kinh cho rằng cái công thắng Pháp tại Điện Biên Phủ là do phe Trung Cộng làm thành; mà thật vậy, từ cố vấn chỉ huy, nhân sự tiếp trợ, đến vũ khí đạn dược đa phần do Trung Cộng cung cấp. Có thể nói từ thời điểm đó về sau Hà Nội bị một cái tròng nặng hơn vào cổ khó gỡ. Việc Phạm Văn Đồng thừa lệnh Hồ Chí Minh ký công hàm bằng lòng chấp nhận Hòang Sa-Trường Sa là của Trung Cộng vào 1958 cho thấy rõ tư thế của phe Hồ bị lệ thuộc như thế nào.

 

Hơn một triệu dân miền Bắc di cư vào Nam vì họ đã kinh nghiệm một thời gian khá dài trong sự cai trị độc tài khắc nghiệt của tập đoàn Việt Minh do Hồ Chí Minh lãnh đạo. Trong đoàn người xuôi Nam tị nạn có nhiều thành phần cộng sản được gài vào mà sau này chính sách báo cộng sản đã công nhận ít nhất 60 ngàn cán bộ.

 

Cộng sản miền Bắc gia tăng đàn áp trên mảnh đất miền Nam. Chính phủ miền Nam bắt buộc phải tạo thế phản công và  đã yêu cầu Hoa Kỳ hỗ trợ. Cộng sản càng gia tăng lực lượng xâm lăng miền Nam thì Hoa Kỳ nhận thấy phải làm rộng thêm phạm vi công tác tiếp tay. Chính sách của Hoa Kỳ, nhấn mạnh hơn dưới thời tổng thống Harry Truman (The Truman Doctrine), lúc nào vẫn giúp các quốc gia trên thế giới, những nơi dân chủ và tự do của con người bị đe dọa.

 

Việc biên giới tại vĩ tuyến 17 trên thực tế đã không có giới hạn rõ ràng để ngăn ngừa làn sóng xâm lăng từ miền Bắc. Trong khi xô đẩy cán bộ vào Nam thực thi những công tác khủng bố người dân trong làng mạc miền Nam thì Hồ Chí Minh ngoài Bắc đóng vai một hiền nhân đức độ.

 

In the North, Ho Chi Minh,  communist leader of North Vietnam plays the kindly smiling grandfather, but behind the smile is the mind that  is planning the range of terrors in South Vietnam, in which  children and adult alike would be the victims - Tại miền Bắc, Hồ Chí Minh, lãnh tụ cộng sản của miền Bắc đóng vai một ông già có nụ cười hiền hậu, nhưng bên cạnh nụ cười là cái bộ óc đang tính toán một dãy của sự khủng bố trong Nam, mà trẻ em và người lớn là nạn nhân.

 

Miền Nam theo thể chế bầu chọn tổng thống và các chức vụ đại diện dân, trong khi tại miền Bắc rõ ràng chế độ cộng sản cho thấy họ không bao giờ nghĩ tới việc bầu cử tự do một cách công khai minh bạch. Năm 1954, tổng thống Eisenhower cũng đã giúp chính phủ miền Nam phát triển và giữ thế vững mạnh để có thể chống đỡ nếu có sự chống phá xảy ra. Năm 1955, Hoa Kỳ và các nước Úc, Pháp, Tân Tây Lan, Pakistan, Phillippines, Thailand và Anh đã ký cam kết bảo vệ an ninh trong vùng chống lại cộng sản. Hiệp ước này gọi là  SEATO (South East Asia Security Treaty Organization).

 

Trong khi miền Nam đang kiến thiết xây dựng kinh tế, phát triển các bộ phận khác như giáo dục, nông nghiệp thì miền Bắc người ta thấy dân ra sức lao động xây dựng những trung tâm huấn luyện hành động và tuyên truyền để chuyển gài cán bộ vào miền Nam. Chương trình của họ gồm cả hành động khủng bố và lật đổ để làm xáo trộn chính phủ miền Nam. Người ta còn nhớ mỗi lần sinh nhật 19 tháng 5 của ông Hồ, ông ta hay lên đài kêu gọi dân chúng nỗ lực thêm trong công tác khủng bố và đưọc vậy thì ông Hồ trọng thưởng những cá nhân đó trong ngày sinh nhật của ông.

 

 

               

 

   

Với cách đánh du kích của quân miền Bắc, hành động rất dã man, không thương xót mạng đồng bào của họ, mục đích là tàn phá, thì Hà Nội gọi đó là "cuộc chiến tranh giải phóng". Việc này không bao giờ đúng đối với hàng ngàn những người chống cộng lúc đó. Lãnh đạo, giáo chức và gia đình họ cùng trẻ con họ bị cộng sản vào nhà ban đêm dẫn đi, có khi xác tìm thấy đâu đó hay mất tích.

 

Vào 1959, tổng thống Dwight Eisenhower nhận ra hiểm họa tại Việt Nam. Ông đã quyết định giúp miền Nam bảo vệ vùng đất tự do chống lại làn sóng đỏ từ Bắc lan vào. Eisenhower đã tuyên bố bổn phận công dân Hoa Kỳ làm gì và cái giá phải trả để bảo vệ tự do tại ngay đất Mỹ phải qua nhiều hình thức khác nhau, kể cả phải hy sinh mạng người tại Đức,Việt Nam, Trung Đông...

 

Đến 1960 thì tại miền Nam có thể nói chiến trận mọi nơi. Càng lúc càng thấy rõ vị thế nước Mỹ phải làm gì và họ đang đương đầu với ai. Trong diễn văn vào 1965, tổng thống Johnson đã nhấn mạnh cho công dân Mỹ biết là:

 

In this war, it is guided by North vietnam and it is furnished by communist China. Its goal is to conquer the South and to extend asia to millions of commuinsts ... Trong cuộc chiến này, nó được chỉ đạo bởi miền Bắc Việt Nam và được trang bị bởi Trung Cộng. Mục đích của cuộc chiến là để thống trị miền Nam và để bành trướng Á Châu có thêm hằng triệu người cộng sản.

 

Không ai thấy rõ âm mưu này hơn những người dân miền Nam. Chính phủ miền Nam, vào 1961, cấp bách gọi Washington DC trình bày về hiện trạng. Hoa Kỳ gởi qua quân cụ, súng ống, và kỹ thuật viên. Họ huấn luyện người Việt cách dùng để đạt hiệu quả. Những cố vấn người Mỹ này là chuyên gia, rất giỏi, và năng động. Họ học cả tiếng Việt để giảng huấn. Ngay trong thời điểm này, những người Mỹ tại Việt Nam chỉ là những cố vấn, không có một căn cứ quân sự nào được thành lập. Nhiều trạm y tế công cộng do người Mỹ dựng lên để giúp tìm bệnh và cho thuốc, cũng như nhiều trường hợp khác trong tinh thần nhân đạo.

 

Chiến Tranh Du Kích (The Guerrilla Warfare, The Latest Technique of the Global Communist Plan)

 

Đương đầu với những trận đánh du kích mọi nơi, mọi tỉnh trong miền Nam là một điều vô cùng khó khăn cho quân đội Việt Nam Cộng Hoà. Việt Cộng lẫn vào dân để sống và hăm doạ dân nếu không làm theo kế hoạch của họ. Tại miền Bắc, thanh niên bị cưỡng ép vào quân đội, nếu không thì tai hoạ cho gia đình, bằng cách này hay cách khác họ sẽ bị hại, có trường hợp nhà nước cộng sản cắt hộ khẩu để không được quyền mua bán gì cả. Có người vì đói quá phải gia nhập quân đội để gia đình bớt đi phần ăn. Những anh bộ đội mặt mày còn non nớt, chưa hiểu rõ nguyên nhân của cuộc chiến, hoặc hiểu theo lối tuyên truyền "chống Mỹ cứu nước" khi mà trước 1965 Hoa Kỳ chưa đặt một cơ cấu quân sự nào cả.

 

Không gì hơn là chính phủ Hoa Kỳ phải tăng cường thêm những phái đoàn cố vấn. Họ đã chứng kiến cảnh chiến tranh không rõ hàng ngũ (no frontlines) bởi vì phe cộng sản là du kích, ẩn hiện mọi nơi, có khi họ bắt dân làm theo họ, và phe quân đội miền Nam phải có cách tìm ra sự thật là vấn đề không phải dễ, nhất là về tâm lý thì cộng sản tuyên truyền quân đội miền Nam tấn công dân chúng. Người Việt với nhau đã khó như thế thì với người Mỹ càng khó khăn hơn.

 

Hình ảnh trong phim tài liệu ta thấy cảnh Việt Cộng tải thương và tử thi thì đó là dấu hiệu cho biết là Việt Cộng còn hiện diện không xa trong địa phận đó. Đây là trạng huống đau đớn mà những người lính Việt Nam Cộng Hoà phải để trong đầu, phải chuẩn bị chiến đấu với địch trong bất cứ lúc nào.

 

Cộng Sản Tấn Công Tàu Maddox

 

Báo Thanh Niên, 30/7/2004, kỷ niệm 40 năm

ngày cộng sản Bắc Việt tấn công Maddox.

Một bằng chứng không thể chối cãi.


Vào tháng 8, 1964, cộng sản miền Bắc mở rộng phạm vi của sự phức tạp. Với sự tăng cường lực lượng vào Nam càng ngày càng nhiều, cùng vũ khí đạn dược do Nga Tàu cung cấp, không gì hơn là làm ra cuộc chiến tranh thật sự gài Mỹ vào trong thế phải nhúng tay trực tiếp vào cuộc chiến. Vì có thế cộng sản miền Bắc mới có cớ tuyên truyền mạnh "Mỹ xâm lăng" và dùng chiêu bài "chống Mỹ cứu nước".Chiêu bài này chỉ cho dân miền Bắc vì ngoài ấy mọi thông tin bị bít kín, ngoại trừ tin của Đảng.

 

Trong tháng 7, 1964, để làm giảm làn sóng ồ ạt đưa vũ khí, người vào Nam, cố vấn của tổng thống Johnson thảo ra nghị quyết có tính trừng phạt cộng sản miền Bắc nếu họ cứ tiếp tục xâm lăng thì miền Nam sẽ tấn công ra Bắc. Nghị quyết chưa được đem ra quốc hội bàn thảo, và việc này, tổng thống Johnson không vội vàng xúc tiến chỉ chờ xem những đợt xua quân xâm lăng có giảm thiểu hay không.

 

Ngày 2 tháng 8, 1964, Bắc Việt tấn công tàu khu trục Maddox của Hoa Kỳ tại hải phận quốc tế gần vùng biển Thanh Hoá. Cộng sản viện lý do tàu Maddox vi phạm hải phận Việt Nam vào tối 31 tháng 7. Ba chiếc phóng lôi (torpedo) tấn công với tốc độ nhanh vào gần Maddox. Những tiếng súng cảnh báo từ Maddox bắn ra nhưng phóng lôi vẫn tiến tới, hải quân Mỹ phải dùng súng 5in bắn ra triệt hạ một tàu và làm hư hại một tàu khác. Cộng sản bắn 2 ngư lôi vào Maddox nhưng không trúng, cách tàu 200 yards. Liền đó, tàu được tiếp viện không vận, cuộc xung đột ngưng. Bên Mỹ không thiệt hại gì cả.

 

Hai ngày sau, 4 tháng 8, tàu khu trục thứ hai tên C. Turner Joy đến tiếp trợ. Người trực radar trên tàu Maddox phát hiện 5 chiếc phóng lôi của cộng sản đang tiến tới. Lúc này  2 chiếc tàu Mỹ biết họ bị tấn công liền gọi không vận yễm trợ và ra lệnh sẵn sàng ứng chiến. Kết quả 2 tàu cộng sản bị bắn chìm và 2 bị hư hại.

 

Chủ trương của Hoa Kỳ lúc này là không tỏ thái độ muốn chiến tranh với miền Bắc (restraint). Sau vụ tàu bị tấn công 2 lần, Hoa Kỳ đo lường được mức độ gây hấn của cộng sản. Các vị chỉ huy quân sự và cố vấn cho rằng cộng sản xem sự hạn chế của Hoa Kỳ đồng nghĩa với thế yếu ớt thiếu nghị lực nên quyết định tấn công. Tổng thống Johnson quyết định trả đủa, và sau đó nghị quyết đã được đem ra bàn thảo và được quốc hội thông qua. Đây cũng là lần đầu tiên những người Mỹ với súng ống, máy bay xả xuống khu căn cứ hải quân của địch tiêu diệt 25 chiếc phóng lôi. Tài liệu sau này cho thấy rõ miền Bắc muốn Mỹ nhúng tay càng nhanh càng tốt  vào cuộc chiến để chính thức phóng ra một cách mạnh mẽ chiêu bài "Mỹ xâm lăng" đệm thêm vào chiêu bài cũ là "giải phóng miền Nam" mà xem ra không có hiệu quả về mặt tuyên truyền.

 

Trong lúc quân đội miền Nam và đồng minh Hoa Kỳ giao chiến với cộng sản miền Bắc thì tổng thống Johnson vẫn trong tinh thần không muốn chiến tranh lan rộng. Hoa Kỳ nhiều lần yêu cầu cộng sản miền Bắc ngồi vào bàn hội nghị để bàn việc ngưng chiến tiến tới một giải pháp tốt đẹp 2 bên, nhưng phe cộng sản không bao giờ chấp nhận. Trái lại, có lần một chiếc tàu chỡ vũ khí tiến vào Nam bị chận bắt, trong đó rất nhiều vũ khí đạn dược do Trung Cộng chế tạo. Có khi phải dội bom để ép cộng sản vào bàn hội nghị cũng vẫn không thành công.

 

Bô Trưởng Ngoại Giao Hoa Kỳ, ông Dean Rush, đã cố gắng vận dụng để đem Hà Nội vào bàn hội nghị. Ngay cả Liên Hiệp Quốc, Anh, Ấn Độ làm cùng một mục đích, nhưng Hà Nội và Bắc Kinh vẫn thái độ từ chối. Tổng thống Johnson đề nghị vào bàn họp vô điều kiện cũng vẫn bị Hà Nội và Bắc Kinh từ chối và còn cho đó là trò đánh lừa của Mỹ. 17 nước, không là đồng minh của Hoa Kỳ, cũng đề nghị một giải pháp hoà bình vô điều kiện vẫn không thay đổi thái độ của Hà Nội và Bắc Kinh.

 

Thế giới thấy rõ cộng sản đang muốn thống trị miền Nam. Hà Nội quyết định không chọn giải pháp tiến tới hoà bình, còn Bắc Kinh thì trắng trợn hơn, họ tuyên bố chủ thuyết và mục đích của cộng sản Trung Hoa không thể thay đổi, sự tiến tới một Đông Nam Á cộng sản, và sau đó là đại đồng thế giới.

 

Johnson: We do not seek the destruction of any government or make any territory. We always insist the people of South Vietnam shall have the right of choice, the right to shape their own destiny in  free elections in the South, or throughout all Vietnam  under international supervision. They should not have any government imposed upon them by force and terror so long as we can prevent it. We do not want an expanding  struggle with consequences that no one can perceive. We will not surrender and we will not retreat - Chúng tôi không chủ trương phá hoại bất cứ chính phủ nào hay tìm vùng ảnh hưởng. Chúng tôi luôn khẳng định người dân miền Nam nên có quyền tự chọn hình thức cho vận mệnh của họ qua những cuộc bầu cử tự do, hoặc là cho cả toàn dân Việt Nam dưới sự kiểm soát của quốc tế. Họ không nên có một chính phủ nào áp đặt cho họ bằng bạo lực và khủng bố trong lúc chúng ta đang còn có thể ngăn ngừa chuyện đó. Chúng tôi không muốn một cuộc tranh đấu kéo dài với hậu quả mà không ai biết trước. Chúng tôi sẽ không đầu hàng và chúng tôi sẽ không rút quân.

         

             

 

Trong cuộc chiến chống lại dân chúng, những loại chất nổ mạnh không chỉ nhắm vào những người đàn ông mang vũ khí, nhưng Toà Đại Sứ tại Saigon chính nó cũng trở thành một trận điạ lớn. Những tên khủng bố Việt cộng đã chọn nơi này để đặt bom. Họ đã có tính toán kỹ lưỡng và tiếp tục chiến dịch tạo khủng bố chống lại người Mỹ, quân lực Việt Nam Cộng Hòa, và công dân Việt tại miền Nam.

 

Lực lượng đồng minh Hoa Kỳ càng được tăng cường để đối kháng lại địch quân càng ngày càng có chiến lược tinh vi hơn, gồm cả giương đông kích tây, nhất là những trận du kích khó đóan biết, những vụ gài mìn trên đường lộ để làm tắt nghẽn lưu thông, đặt bom phá cầu, khủng bố những nhà kinh doanh bằng cách vào nhà ban đêm để thu tiền (đóng hụi chết cho cộng sản), chặt đầu trưởng ấp ban đêm rồi treo tòn ten trên bìa rừng cây cao su dọc quốc lộ 1 Saigon Tây Ninh, một hình thức khủng bố cho dân sợ.v.v..

 

 Tổng thống Johnson nói: Nếu tự do còn tồn tại trong từng nhà người Mỹ tại Hoa Kỳ thì tự do trước đó đã được gìn giữ duy trì tại nơi như Việt Nam.Ông cũng cho rằng hầu hết dân vùng Á Châu không thể tự mình bảo vệ chống lại cộng sản, một lọai người mang chủ nghĩa không tưởng đang lan tràn sanh sản nhanh chóng mà ông ví họ như lòai chuột trong đám cỏ có nọc độc.

 

Đội quân chiến đấu Hoa Kỳ đã đến. Sứ mệnh của họ rất đơn giản - chiến đấu cho tự do tại Việt Nam. Họ biết rằng cái gọi là "chiến tranh giải phóng" chỉ là một hình thức xâm lược và nó sẽ bị đánh bại. Người Mỹ cũng đã thấy rõ rằng cộng sản miền Bắc đã chọn con đường xâm lăng vào Nam và làm hằng triệu dân miền Nam chịu tổn thất, đau khổ.

 

As long as there are men who hate and destroy, we must have the courage to resist ...we did not choose to be the guardians at the gates, but there is no one else, said Johnson - Ngày nào còn những người chỉ biết thù ghét và tàn phá, chúng ta phải có can đảm để chống lại. Chúng ta không chọn để trở thành người bảo vệ tại các cỗng, nhưng mà không còn ai cả ngòai chúng ta.

 

Bút Sử

 

Sources:

Why Vietnam, John Ford, 1973

We Will Stand in Vietnam, 1965

The Vietnam War, Bernard C. Nalty, 1998

 


Đêm của Con Rồng (Night of the Dragon, 1966)

Night of the Dragon, DVD, Narrator: Charlton Heston, 1966

Trong một năm trúng mùa, vùng đồng bằng sông Cửu Long tạo hơn 350 ngàn tấn gạo, một trong những vùng đất phì nhiêu của Á Châu...

Gần 40 ngàn quân du kích bắc Việt của cộng sản được gài vào miền Nam mà người ta gọi là Việt cộng. Họ đã tổ chức và làm ra chiến tranh, tạo khủng bố chống lại dân chúng.



Sau 6 năm trong cuộc chiến, quân đội miền Nam vẫn cố gắng bảo vệ ranh giới chống lại miền Bắc. Những vùng biên giới rất là khó để kiểm sóat. Tại vùng biển, hải quân miền Nam được lệnh bảo vệ ranh giới gần 2 ngàn kilometer chiều dài.

Vào tháng 2, 1965, một chiếc tàu bị chận bắt; tàu này từ miền Bắc vào, chở vũ khí gồm 100 tấn đạn dược, súng ống, súng liên thanh, vũ khí hạng nặng, khi họ đi ngang qua vùng bờ biển đó. Một tàu bị bắt thì cũng có những tàu khác chạy thóat.


Với biên giới mở cửa như vậy nên cộng sản được gài vào mà không có hàng ngũ nào bảo vệ. Những người đàn ông trẻ trong Nam phải đánh lại và tước vũ khí kẻ thù, mà họ ở rải rác mọi nơi trên lãnh thổ. Những vũ khí bị tịch thu gồm súng máy do cộng sản chế tạo, mật hiệu, tài liệu phương cách mới về xâm lăng.



Bất chấp thỏa thuận hứa tôn trọng hòa bình, cộng sản miền Bắc tuyên bố họ có quyền làm ra chiến tranh trên các quốc gia lân cận không cộng sản. Mục tiêu chánh của họ là quần chúng. Trong vòng 5 năm qua, Việt cộng đã giết và làm bị thương hằng 10 ngàn người dân. Người dân trong những địa phương này họ không bao giờ quên chuyện đó.

     
Rất nhiều nạn nhân, họ không chết vì tai nạn trong chiến tranh, mà họ bị chọn để chết bởi lý do làm gương chính trị, bởi vì ông đó không chịu hợp tác với Việt cộng, bởi vì họ chọn làm nghề lái xe bus nhưng kẻ địch thì không muốn vậy, bởi vì chồng của bà làm vịêc cho chính phủ, bởi vì người trong làng đó không đóng góp gạo để được yên thân, bởi vì người đàn ông trong gia đình đó làm nghề dạy học, bởi vì ông ta được bầu làm thành viên trong hội đồng thị xã, bởi vì họ đang đi trên đường...

 
Trong 6 năm qua, dân chúng miền Nam đã chôn cất những nạn nhân của cuộc chiến tranh xâm lăng. Làng của họ bị nhiễm lan bởi hệ thống của bọn người khủng bố. Những ai chống lại Việt cộng thì bị khai báo và ban đêm tóan giết người tới nhà bắt cóc và giết họ. Trong lúc kẻ địch gồm một tóan nhỏ lẫn trốn trong dân, được dân che giấu thì cũng là lúc đòan quân tấn công vào vùng. Nhiều vùng ngọai ô, Việt cộng tạo ra cuộc chiến khủng bố giữa người dân và chính phủ của họ.

   
Quân đội có thể bào vệ đa phần lãnh thổ vào ban ngày, nhưng họ không thể ngăn chặn hết những cuộc tàn sát giết người của Việt cộng vào ban đêm. Đa số tín đồ Phật Giáo họ không chấp nhận cuộc chiến, họ đòi hỏi quyền được bình yên. Hằng triệu tín đồ Công Giáo mà gia đình họ đã chạy thóat từ miền Bắc cộng sản, những người mà họ chỉ có mảnh ruộng vườn nho nhỏ, nhưng đối với Vịệt cộng thì họ xứng đáng bị chết.

   
Nhiều người đã chôn cất những bạn bè thân cận. Điều đó không dễ và thú vị gì, nhưng họ vẫn chưa ngưng. Thế giới tự do mới vừa bắt đầu hiểu ra căn nguyên. Người Mỹ, bởi vì họ không thấy một tương lai sáng sủa cho con cháu họ nếu cuộc chiến xâm lăng này được cơ hội thành công. Những cán bộ chuyên môn từ Nhật, từ Nam Hàn, từ Úc Châu, từ Tân Tây Lan, giáo sư từ Tây Đức, tóan y tế từ Philippines, tất cả họ đã nhận biết ra thế nào về những hàng chữ trước nay khi cộng sản nói về "giải phóng": viên đạn cho đứa con trai của anh nông dân, trái lựu đạn cho người học trò, một quả mìn cho em bé 5 tuổi.

Mặc dù đang bị khủng bố, dân chúng vẫn cố gắng bảo vệ lãnh thổ của họ. Họ có sai và thất bại, nhưng họ bắt đầu kiểm sóat từng vùng biên giới để bảo vệ.

Dù trong chiến tranh và có biến động chính trị, nhưng chính phủ miền Nam vẫn gởi trẻ em đến trường học. Thật vậy, lúc này đã có nhiều trường ốc và giáo viên chưa từng có trong lịch sử. Họ dạy học trọn đời. Học sinh thì coi trọng về học vấn giống như bao nhiêu người khác trên trái đất này.

Những địa phương vừa được củng cố nền an ninh thì "chiến tranh của hòa bình" lại bắt đầu. Dân chúng đang cần bác sĩ, bác sĩ như là anh hùng. Đó là lý do tại sao kẻ địch liệt kê họ vào danh sách để ám sát.

Đối với nông dân, chính phủ cung cấp những lọai thuốc xịt dùng trong vịêc trồng trọt. Khi yên, miền Nam có thể làm ra gầp 2 lần lúa gạo. Họ học cách xử dụng máy móc hiện đại và vẫn giữ những thông tục tốt mà cha ông đã để lại.



Họ là những người tự trọng và có lập trường. Khi chiến tranh bắt đầu tới giờ, cây cầu này được dân sửa và dựng lại 3 lần rồi.




 

Những vùng an ninh thì người dân dùng quyền bầu cử để bầu chọn người đại diện., Bầu cử tại địa phương được thực hiện qua phương cách để lại xưa nay từ đời cha ông với ý niệm một xã hội tự do mà người dân muốn sống. Nhiều thanh niên có quyền chọn hướng đi cho tương lai của họ. Hai ứng cử viên có một vấn đề giống nhau là Vịệt cộng hăm dọa thủ tiêu cả hai.



Trong miền đất có cả trăm kênh, sông ngòi, quan niệm về tự do cá nhân là một phần của phong tục. Họ đã quen là muốn đi đâu là do họ lựa chọn. Mặc dù cái thế của kẻ địch đang có còn đó, người dân vẫn tiếp tục mang hàng hóa ra chợ. Họ tích cực muốn nền kinh tế phát triển. Thức ăn thì nhiều và rẻ. Dù đời sống không phải dễ, nhưng rất ít người đói khát.

     

Dọc theo các con đường lớn có nhiều dấu hiệu cho thấy sự phát triển kinh tế đang tiếp tục một cách rõ rệt: chương trình hệ thống nước đúng tiêu chuẩn vệ sinh, hầm mỏ, hệ thống dây điện, xí nghiệp...Theo những chuyên gia giảm định, họ cho rằng dân đang trên đà có một sự phát triển lớn mạnh về kinh tế khi cho họ được yên ổn. Sau 6 năm xảy ra chiến tranh, thủ đô Saigon có tài cán đáng ghi nhận: xí nghiệp rộn rịp, sinh viên của các trường đại học được tự chọn cho mình một nghề riêng khi có nền hòa bình trong tương lai.

       

Họ có học và lễ giáo thờ phụng cúng kiến qua nhiều thế kỷ. Mặc dù họ chống chế độ thực dân nhưng nghệ thuật tiến bộ của Âu Châu là một phần trong đời sống tri thức .


   
     

Một lần mỗi năm trẻ em miền Nam có hưởng thú vui: họ tổ chức đêm du hành lên trăng, kết nhau, tay cầm bánh và lồng đèn, bỏ qua cả sự khủng bố của cộng sản ban đêm. Ban đêm được thấp lên bởi một dấu hiệu của sự đổ lỗi, trẻ em la khóc vì tiếng động bất ngờ, người ta hy vọng có thể sống sót tới sáng ngày hôm sau.

Sáu năm qua, những làng mạc tại miền Nam phải sống trong sự căng thẳng với một câu hỏi đầy lo sợ: Những kẻ giết người có tới tối nay không?


Buổi sáng phe bảo vệ chuyển sang thế tấn công. Cuộc đụng độ xảy ra.. Dân làng tị nạn khai là kẻ địch vũ trang bằng súng liên thanh, súng cối, súng nòng, và trang bị rất dồi dào...

Kết quả tùy thuộc vào những người đàn ông trẻ của miền Nam. Họ đã bị tổn hại và hơn 50 ngàn đã hy sinh trong vòng 5 năm qua.

Buổi sáng hôm nay, tuy vậy, không có gì thay thế cho sự can đảm của họ. ..Sự đáp xuống làm kẻ địch ngạc nhiên... . Những thanh niên miền Nam phải trả một giá đắc trong tháng này cho quyền được sống trong hòa bình...Họ cần hỗ trợ. Địch quân đã bỏ lại hơn 150 xác chết tại chiến trường. Người dân đã thất bại trong việc che giấu họ. Qua tiêu chuẩn quân đội của chính phủ thì con số thiệt mạng nhẹ.


Qua cái giá của sự đau khổ và hy sinh, quân đội miền Nam đã thắng trận chiến này cho nhân dân của họ. Ngày nào cộng sản miền Bắc còn xâm lăng miền Nam thì những người đàn ông trẻ này vẫn phải chiến đấu.









Những hàng rào kẽm gai vẫn còn đó, đêm lại cứ trôi qua một lần nữa.
..

Nếu người ta vẫn chưa làm sạch con đường của hòa bình và tự do, họ chọn đi với những bước chân can đảm cho tới khi nào thành công. Những người Mỹ đã và đang đi với họ cho tới khi nào sự xâm lược ngưng để cùng ngồi vào bàn luận một cách vô điều kiện, và chỉ có thế mới tiến tới một nền hòa bình danh dự cho mọi người.

Bút Sử chuyển dịch
 
-------------------------------------------------------------------------

NM Triet va Nhung Trich Dan cua TT Hoa Ky

Ngay lúc bài viết này sắp lên mạng internet thì ông Chủ Tịch Nước Cộng Hoà Xã Hội Chủ Nghĩa Viêt Nam, Nguyễn Minh Triết,cũng đang trên đường qua Âu Châu.Trong chuyến công du này ông Triết sẽ gặp Đức Giáo Hoàng Benedict tại Vatican. Ông Triết được người nước ngoài biết vì ông ta xuất ngoại nhiều so với những lãnh đạo khác, nhưng người Việt Nam trong và ngoài nước nhắc đến ông không ít bởi những lời phát biểu của ông.

Hơn 200 năm về trước, tổng thống đầu tiên của Hoa Kỳ là George Washington. Người dân Mỹ ghi công ông không chỉ đơn giản ông là vị tổng thống thứ nhất làm nền tảng xây dựng đất nước, nhưng lòng ái quốc và khả năng lãnh đạo của ông. Tại sao thế giới vẫn luôn đề cao Hoa Kỳ là quốc gia thật sự đại diện cho nền tự do dân chủ ? Được như vậy bởi vì tại đất nước này từ ngày lập quốc đã có những con người có nhận thức cao về tự do dân chủ.
If the freedom of speech is taken away then dumb and silent we may be led, like sheep to the slaughter. George Washington – Nếu tự do ngôn luận bị tước đoạt thì sau đó chúng ta sẽ có thể bị dẫn dắt bởi ngu dốt và câm lặng, giống như con cừu trước kẻ giết thú vật.
Hơn 170 năm sau, 1945, kể từ ngày Washington phát biểu thì người dân Việt Nam tại miền Bắc là bằng chứng cho câu nói như chân lý trên, và đã hơn 34 năm qua toàn dân chứng nghiệm thêm về thân phận làm người như những con thú trước những bàn tay giết thú một cách tàn bạo. Người lãnh tụ chủ trương tước đoạt quyền tự do ngôn luận, tự do phát biểu, làm thay đổi hoàn cảnh đất nước và sự sống của dân tộc Việt Nam chính là Hồ Chí Minh.

Nhận thức sâu sắc về nhân bản, một phát biểu để đời khác của tổng thống:

To err is natural; to rectify error is glory. Washington- Làm điều sai là tự nhiên; phục thiện hay sửa chữa sai lầm là niềm tự hào.
George Washington là một lãnh đạo, một chính trị gia, không phải nhà đạo đức hay xã hội chuyên môn. Ông đề cao tính chân thật trong một con người có tinh thần tiến bộ, dù làm tổng thống hay làm bất cứ nghề gì trong xã hội, đã là con người thì không tránh khỏi có những lúc sai lầm.

Khi Hồ Chí Minh và tập đoàn cầm quyền đất nước Việt Nam thì quyền hạn tự nhiên trở nên những thứ quyền cứng ngắt, đầy tính bạo lực, gán ghép. Tuyên bố để đời của Hồ Chí Minh -Đảng ta là đảng cầm quyền, và ý nghĩa câu này được áp dụng trong điều 4 Hiến Pháp của Đảng Cộng Sản. Đảng áp đặt toàn dân phải tin Đảng và lúc nào Đảng cũng đúng. Đảng toàn quyền thống trị trên mọi mặt trong đời sống con người và xã hội.

Idealism without realism is impotent. Realism without idealism is immoral. Richard Nixon - Lý tưởng/ duy tâm mà không hiện thực thì không hiệu lực. Hiện thực/duy thực mà không duy tâm thì vô đạo đức, trái luân lý.

Giai đoạn ông Nixon làm chính trị là lúc phong trào cộng sản đang hoành hành.Tuyên bố trên của tổng thống Nixon đơn giản nêu lên bản chất của những người cộng sản chủ trương vô thần, bài bác tôn giáo. Họ là những kẻ không có tính thiện. Sau hơn 60 năm bị cai trị bởi chế độ cộng sản, chúng ta chứng nghiệm vô số những con người không có tính thiện này. Nhiều lắm nhưng dễ nhận ra nhất là các nhân vật lãnh đạo, thí dụ ông Chủ Tịch Nước Nguyễn Minh Triết chẳng hạn.

Cách nay không lâu, 22/11/2009, tại một đại hội ở Hà Nội quy tụ gần 1000 người gồm “Việt kiều” và cán bộ, đảng viên, thương gia trong nước, khi trình bày quốc nạn tham nhũng, ông
Nguyễn Minh Triết tuyên bố:
Ở nước người ta đó thì muốn tham những cũng khó vì hệ thống luật pháp nó chặt chẽ. Còn ở VN của mình á thì có khi không muốn tham cũng động lòng tham. Cái người thủ quỹ cứ giữ tiền khư khư, ở quỹ lúc nào cũng có số dư, cho nên lúc bí quá thì để mượn một chút (vỗ tay), mượn không thấy ai đòi hết thì anh mượn thêm, chứ không phải người Việt Nam tham nhũng nhất thế giới đâu. Người Việt Nam tham nhũng nhất thế giới , không phải vậy. Cho nên tôi đề nghị với quý vị ở nước ngoài á, khi nghe những thông tin này, đừng nên khi về Việt Nam á...cũng đừng có...có hốt hoảng. Sao nước mình tiêu cực quá. Ngày xưa oánh giặc sao giỏi thế mà bây giờ tiêu cực thế (vỗ tay). Đây là quy luật muôn đời. (vỗ tay to hơn)
Đấy. Lời tuyên bố đầy tính duy vật trên của lãnh đạo Triết cũng là một nguyên do làm ông thêm “nổi tiếng”. Chỉ có cấp đảng viên có chức vị mới có quyền thấy cái "quỹ" ấy, và các ông bà cứ lấy mãi vì "mượn mà không thấy ai đòi hết" và cứ thế mà làm . Rồi ông chủ tịch kết luận hành động tồi bại đó là quy luật ngàn đời . Thế mà cũng có những nhà chuyên môn nước ngoài về Việt Nam làm thiện nguyện huấn luyện cán bộ cộng sản làm thế nào để giải quyết nạn tham nhũng. Ông Triết tiếp tục mạnh miệng hơn khi “ác tâm” được phơi bày để chứng minh một con người thật là cộng sản. Với nét tự mãn, ông Triết tuyên bố:
...Ổng tuyên bố là ổng sẽ đóng cửa nhà tù Guantanamo mà! Nhưng mà tôi nói rằng, ông Obama ơi, vấn đề này làm khó lắm đó. Tôi chúc ông phải nỗ lực để thực hiện cho bằng được cái này. Tôi nói mà tôi nhìn Obama, tôi thấy ổng... ổng chăm chú lắm á, cũng lắng nghe. Như thế là mình vừa động viên ông Obama, nhưng mà mình vừa phân hoá cái cái nội bộ của ổng.
Nguyễn Minh Triết, hay nói chung, tổng thống Obama và phe cánh chủ trương mềm mỏng muốn thả các tên khủng bố ra khỏi nhà tù Guantanamo. Việc này được bàn cãi nhiều tháng nay, phe Đảng Cộng Hoà trong Quốc Hội, đa phần không tán đồng và cho rằng thả khủng bố ra sẽ bất lợi vì những lý do nào đó. Có lẽ ông Triết nghĩ rằng hà hơi cho Obama tức là làm cho phe Đảng Cộng Hoà yếu thêm, hai bên bàn cãi mãi, và lời nói ngoài miệng của ông đã “phân hoá” nội bộ của chính phủ Obama.

Chủ trương thù hận nằm trong cốt lõi của chủ nghĩa cộng sản. Người ta không ngạc nhiên khi bản chất của ông Triết lộ ra. Sống trong mâu thuẫn cũng là chuyện tự nhiên của người cộng sản, cho nên ông Triết khi ra khỏi khung rào sắt nhiều năm chứa đầy gian dối để đến một thế giới có tình người, có luật pháp công bằng, có văn minh vật chất, có học vấn và kiến thức cao, ông nổi bậc là một người vô sản, thứ tài sản thuộc tinh thần, trí tuệ.


Hoa Kỳ có tiếng một quốc gia văn minh, vật chất tràn đầy, nhưng có ai nhận ra rằng người Mỹ rất có lòng nhân đạo. Nói như vậy không có nghĩa là vì tiền đóng thuế của dân Mỹ đã vào rất nhiều công quỹ giúp các quốc gia nghèo thuộc thế giới thứ ba, trong đó có Việt Nam. Thế giới tự do đã giúp Việt Nam trong nhiều năm qua về mặt phát triển kinh tế và nhân đạo, nhưng Việt Nam vẫn còn tồi tệ. Đó cũng là lý do tại sao lãnh đạo như ông Triết và nhiều phái đoàn vẫn tiêp tục sang Mỹ và các quốc gia tiến bộ khác cầu khẩn hợp tác kinh tế và xin viện trợ, đồng thời các ông luôn áp dụng "lấy công quỹ làm của riêng là quy luật ngàn đời" do các ông tự đề ra.


Dù được giúp đỡ, nhưng Mỹ vẫn là kẻ thù, bởi vì Đảng phải luôn giữ thái độ thù hằn này để che lấp tội lỗi theo lệnh quốc tế cộng sản làm ra cuộc chiến tranh xâm lăng miền Nam, nhưng phải tuyên truyền là vào Nam để “chống Mỹ cứu nước”. Đảng rất sợ bộ mặt thật bị lòi ra, nên cái thứ “chính nghĩa” ngụy tạo ấy bằng mọi giá phải được tô điểm. Thật ra thì ý đồ “chơi” Mỹ kiểu ngoài miệng này của ông Triết chỉ có thể xảy ra tại Việt Nam mà thôi, nó “hợp lý” với một thành phần người dân trong nước và gần 1000 cử toạ phải làm nhiệm vụ “nhất trí” với tiếng vỗ tay.


Có người thắc mắc tại sao Đảng vẫn mãi luận điệu thù hằn Mỹ mà người Mỹ cứ vươn cánh tay ra cứu giúp? Dù với mục đích chính trị cao siêu nào đó, nhưng trên thực tế không thể phủ nhận rằng trên căn bản Mỹ không có ý đồ xấu. Ý thức này được thể hiện qua rất nhiều nhà lãnh đạo. Tổng thống Richard Nixon đương quyền trong lúc chiến tranh Việt Nam cao điểm, thế giới nhìn ông như một “diều hâu”. Trong tinh thần “
To be prepared for war is one of the most effectual means of preserving the peace. George Washington - Chuẩn bị cho chiến tranh là một trong những biện pháp hữu hiệu cho việc giữ gìn hoà bình”, nhưng ông Nixon đã để lại lịch sử qua câu:

Always remember others may hate you but those who hate you don't win unless you hate them. And then you destroy yourself. Richard Nixon – Nên luôn nhớ rằng những người đó có thể đang ghét bạn, nhưng những ai đang ghét bạn không thắng, ngoại trừ bạn ghét lại họ. Và sau đó bạn tự hủy diệt luôn.

Có phải tổng thống Nixon vô cùng thâm hậu? Thế giới cộng sản, với chủ trương hận thù, đấu tranh giai cấp, đã hy sinh trên 100 triệu con người để thắng một số trận chiến, nhưng trên đường dài có phải họ đã và đang thua, vì kẻ thù của cộng sản không chủ trương thù hận để phát triển đất nước.

Vì thấy trước tai hoạ và đe doạ cho nền hoà bình và an ninh của các quốc gia tự do trên thế giới mà Hoa Kỳ phải trở thành đồng minh hỗ trợ quân lực miền Nam đẩy lùi làn sóng xâm lăng ra Bắc. Hiểu được bản chất của chủ nghĩa và con người cộng sản, tổng thống John F. Kennedy đã phải thốt lên:


The world is very different now. For man holds in his mortal hands the power to abolish all forms of human proverty, and all forms of human life. John F Kenneydy- Thế giới ngày nay rất là khác thường. Bởi vì người ta đang nắm quyền lực trong bàn tay ghê gớm để tiêu hủy tất cả những dạng thuộc quyền sở hữu của con người, và tất cả dạng thức thuộc về đời sống con người.

Tổng thống Kenney đã ý thức về tai hoạ mà con người phải đương đầu khi phải bị những bàn tay ghê gớm thọc vào từng nơi, từng nhà, từng cá nhân, từng tổ chức, từng nhà thờ, từng chùa chiền... mà 46 năm về trước ông đã quyết định phải ra tay diệt trừ kẻ ác để bảo vệ hoà bình. Ngày nay vẫn còn, khi thủ lãnh tối cao của nhà nước cộng sản Việt Nam đang gặp Đức Giáo Hoàng tại Vatican thì hiện trạng nhà nước cướp tài sản đất đai của nhà thờ, của dân chúng vẫn còn ầm ĩ.

Khi bị phóng viên đài truyền hình CNN chất vấn về Đảng và Nhà Nước tước đoạt quyền làm người của toàn dân Việt Nam, 2007, Nguyễn Minh Triết trả lời rằng nhân quyền của người Việt không giống nhân quyền của người Mỹ. Đây cũng là lý lẽ được áp dụng tại Việt Nam, và ngay cả trong các hệ thống giáo dục và trường học. Những thứ quyền căn bản của con người mà cá nhân nào cũng cảm nhận được, quyền ấy không phải được ban cho, mà là thứ quyền thiêng liêng, đã là con người thì ai cũng có. Tự do ngôn luận bị cấm tại Việt Nam.


The liberty of the individual is no gift of civilization. It was greatest before there was any civilization. Sigmund Freud - Tự do của mỗi cá nhân không phải là sự ban cho của nền văn minh nhân loại. Đó là cái gì cao quý nhất trước khi có sự khai hoá.

Văn minh nhân loại vào thời của triết gia Freud ở cuối thế kỷ 19 đã là như vậy, nay vào thế kỷ 21, lối nói của ông Triết (cũng như tất cả lãnh đạo cộng sản) đồng nghĩa rằng Đảng và Nhà Nước có quyền định nghĩa quyền và ban quyền cho người dân bị trị. Các danh từ "tự do- dân chủ- nhân quyền" có thể sẽ được ông Triết thốt ra nhiều hơn khi gặp Đức Giáo Hoàng . Nhưng rồi nhiều năm với lối suy nghĩ sơ cứng và ngôn ngữ đầy tính giáo điều, rất khó cho người ta tin ông nói thật, cộng thêm trong quá khứ ông đã từng được coi như là một tên hề diễn trò chính trị.

Muốn tiến bộ thì không ngừng học hỏi, nhưng cái học ở Việt Nam thì sao?
Liberty without learning is always in peril; learning without liberty is always in vain. John F Kennedy - Tự do mà không có sự học hỏi thì luôn trong trạng thái hiểm hoạ; học hỏi mà không có tự do thì luôn ở trạng thái vô hiệu quả.
Thật vậy, thứ tự do ở Việt Nam ngày nay mà giới trẻ đang tận hưởng là tự do tình dục, tự do mua bán gái, tặng gái làm quà sinh nhật, tự do nhậu nhẹt, tự do đánh bài bạc trên đường phố, tự do trái luật (có bảo hiểm là hối lộ) v.v..Có thể nói hàng triệu thanh niên đang thất nghiệp tại Việt Nam, có khi mang bằng cấp kỷ sư, kế toán mà phải làm nghề lặt vặt trong các hotel. Đó là kết quả của một hệ thống giáo dục không có nền móng căn bản của tự do.

Tóm lại, chúng ta đã lướt qua một số câu nói để đời có giá trị của các cố tổng thống Hoa Kỳ kể từ thời lập quốc mà đa số chúng ta có thể không nhớ. Nhưng rồi dù muốn dù không những lời phát biểu ngây ngô của Chủ Tịch Nước Nguyễn Minh Triết chúng ta chắc cũng sẽ không quên. Có thể cho rằng ông Triết không thể nói gì khá hơn những gì ông đã nói trong quá khứ, nhưng vấn đề là người ta muốn xem cách hành xử ngoại giao và ứng đáp của ông giống như chờ xem thêm một trò hề dở ẹt. Và một lần nữa nhiều người sẽ cảm nhận một nỗi nhục chưa thể xoá tan trong một thời gian dài.


Cũng nên quên ông Triết đi mà tưởng đến một lãnh đạo nào đó trong tương lai. I do not think much of a man who is not wiser today than he was yesterday. Abraham Lincoln – Tôi không nghĩ nhiều về một người, người này không khôn hơn hôm nay so với ngày hôm qua.

Bút Sử

10/12/2009
Nguyễn Minh Triết Trước Những Mũi Nhọn

 Được biết Chủ Tịch Nước Nguyễn Minh Triết sẽ có chuyến công du qua Italy, Spain, và Slovakia. Ông Triết sẽ gặp Đức Giáo Hoàng Benedict. Qua việc này, có thể vấn đề Nhà Cầm Quyền Cộng Sản Việt Nam vi phạm Nhân Quyền và Tự Do Tôn Giáo được đem ra làm đề tài bàn luận nhiều hơn. Ông Triết phải chuẩn bị cung cách đáp ứng như thế nào?

Bản tin của Catholic News Agency từ Hà Nội cho biết, Nguyễn Minh Triết sẽ viếng Vatican ngày 11/12/2009, để bàn về việc thúc đẩy liên hệ giữa hai bên. Bản tin của AFP tường trình là không biết vấn đề tài sản đất đai của Giáo Hội Công Giáo bị nhà nước tịch thu có được mang ra bàn thảo không. Tin cũng đề cập những vụ biểu tình thỉnh thoảng xảy ra, có lần bị đụng độ với công an. Du đảng (xã hội đen) được công an bảo vệ hành hung người biểu tình và đập phá những nhà thờ.

AFP còn nhắc tới linh mục Nguyễn Văn Lý bị tù từ 2007 với bản án 8 năm, qua tội danh là tuyên truyền chống nhà nước. Hiện sức khoẻ của linh mục đang yếu kém, theo lời chị của Ngài kể lại.

Tình trạng của linh mục Lý đã là nguyên do của những làn sóng lên án từ các nhà ngoại giao và các tổ chức nhân quyền. Vào 7/2009, 37 Thượng Nghị Sĩ của Quốc Hội Hoa Kỳ đã gửi văn thư đến chủ tịch nước Việt Nam yêu cầu trả tự do cho linh mục Lý. Nhà báo sau cùng nhắc lại là những sinh hoạt tôn giáo hiện vẫn còn bị điều động dưới quyền lãnh đạo của nhà nước.

Trước cái nhìn của thế giới về những đối xử tồi tệ với tôn giáo như vậy, nhưng lãnh đạo cộng sản vẫn cứ phải làm theo chương trình đã đề ra, mục đích chuyến công du này của ông Triết không ngoài mục đích làm lợi cho Đảng và Nhà Nước Cộng Sản Việt Nam.

Người ta đã từng nghe, nghe nhiều đến phát chán, rằng nhà nước không bao giờ đàn áp ai, chỉ bắt tù những cá nhân vi phạm luật pháp, và tội của họ thuộc về hình sự. Với họ, tuyên truyền chống lại nhà nước là dạng hình sự, trong khi trên thực tế thì linh mục Lý chỉ nêu lên sự thật về tình trạng tôn giáo bi khống chế, bị đàn áp, và xã hội suy đồi nếu Việt Nam tiếp tục bị thống trị bởi chế độ cộng sản.

Mặt khác, lãnh đạo cộng sản lúc nào cũng tuyên bố tại Việt Nam không ai bị tù vì lý do chính trị, khi bị thế giới chỉ trích những chiến sĩ tranh đấu cho tự do đang bị cầm tù. Họ phải trốn tránh, che dấu tội lỗi, mặc dù một phần nào thế giới bên ngoài cũng đã biết hiện trạng tại Việt Nam. Họ phải tạo ra bộ mặt nhân ái, dàn dựng những cảnh tượng hoà bình, những sư và linh mục quốc doanh, và có như thế để họ tiếp tục ngoại giao với thế giới tự do, cầu cạnh về kinh tế và nhân đạo.

Lãnh đạo cộng sản, trên lý thuyết, họ biết trách nhiệm của họ đối với các quốc gia trên thế giới sau khi gia nhập Liên Hiệp Quốc vào 1977. Năm 1982 nhà nước cam kết thực thi những điều khoản ghi trong Bản Tuyên Quốc Tế Nhân Quyền; Công Pháp Quốc Tế về Quyền Kinh Tế, Xã Hội, và Văn Hoá; Công Pháp Quốc Tế về Quyền Dân Sự và Chính Trị.

Những giải thích có tính che đậy, gian dối cũng chỉ để phù hợp với tinh thần của những điều khoản trong các văn bản trên mà họ đã ký và hứa thực thi. Trên thực tế thì ngược lại. Nếu họ áp dụng bản ký kết trên thì nhân quyền của người Việt Nam cũng là nhân quyền của tất cả những con người trên thế giới nằm trong hệ thống Liên Hiệp Quốc.

Người ta cho rằng cộng sản rất tinh vi trên vấn đề lèo lái vận mạng con thuyền Đảng Cộng Sản, nên trước vấn đề liên hệ với thế giới tự do bên ngoài, kế hoạch được soạn thảo nghiêm túc. Tuy vậy, dù tinh vi đến đâu, đó cũng chỉ là một số lời được chọn và mọi người nói giống nhau như những bài học thuộc lòng: Việt Nam có nhân quyền, mọi người đều được tự do phát biểu hay nêu ý kiến, chùa chiền, nhà thờ, thánh thất đều được tự do sinh hoạt, chính trị ổn định, chỉ có tù nhân hình sự, v.v...Khi không thể che đậy được thì người cộng sản biện bạch rằng nhân quyền của người Việt khác với nhân quyền của các quốc gia khác, viện cớ phong tục khác, luật pháp khác. Trà lời như vậy đồng nghĩa phủ nhận quyền làm người căn bản được xem như Thượng Đế đã ban cho nhân loại, trong đó quyền căn bản nhất là tự do ngôn luận.

Trong nước thì cộng sản vẫn phải theo nề cũ của Hồ Chí Minh, tiếp tục chính sách hận thù, gieo rắc vào đầu mọi người “tội ác chiến tranh của Mỹ” để mong hoá giải , để làm mờ nhạt quá nhiều tội lỗi của ông Hồ và Đảng Cộng Sản Việt Nam đối với đất nước và dân tộc.

Ông Nguyễn Minh Triết có thể nói là một lãnh đạo cộng sản có nhiều câu nói để đời nhưng không mang ý nghĩa tích cực như các câu nói bất hữu của các vị lãnh đạo khác nói chung. Nó không phải đặc sắc về nội dung, và cách trình bày cùng ngôn ngữ diễn đạt đã chứng tỏ khả năng của nhân vật có chức Chủ Tịch Nước Cộng Hoà Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam, một cơ chế độc tài trên mọi lãnh vực. Lời phát biểu của ông trước các cử tọa, lần nào cũng là đề tài cho nhiều người trong và ngoài nước chế giễu, thậm chí người ta nhận xét ông là một tên hề không hơn không kém. Thật vậy, không ai nén được những trận cười mỗi lần nhìn và nghe ông phát biểu, nhưng cười trong nỗi buồn nhục khi nhận thấy nước Viêt Nam gần 5 ngàn năm văn hiến, dân Việt thông minh nổi tiếng đó đây mà phải chịu sự lãnh đạo của một kẻ kém kiến thức, nói năng lung tung không mạch lạc rõ ràng trước cái nhìn của thế giới văn minh tiến bộ.

Những vụng về trong cách nói của ông Triết, đó chỉ là hình thức. Ở đây, chúng ta thử khai thác những mặt mâu thuẫn trong lời phát biểu của ông. Vì ông chủ tịch có nhiều yếu điểm dễ nhìn thấy nên những sơ hở của ông được người ta ghi nhận làm vũ khí lấy gậy ông đập lưng ông.

Vào 9/10/2007, tại New Zealand, trước đám đông “Việt kiều yêu nước” và nhân viên Tổng Lãnh Sự, ông Triết đã “hùng hồn” bày tỏ hiện tình trong nước:

Việt Nam đã trải qua chiến tranh, đau thương, tang tóc, bây giờ đang mong muốn ổn định hoà bình đế phát triển, mà bây giờ còn ai đó muốn lật đổ chế độ này, muốn máu đổ đầu rơi nữa.
Hổng được đâu! Cái đó hổng được. ...Vi phạm pháp luật VN là hình sự, hổng phải người đó vì họ là mang danh là tôn giáo. Ở VN chùa chiền, thánh thất, nhà thờ tự do hoạt động, người dân được bày tỏ ý kiến của mình...Vi phạm pháp luật là cái tội rất nặng. Người ta có quan hệ trong nước, ngoài nước, người ta có kế hoạch hành động để lât đổ . Đó đáng xử quá chứ!

Ông Triết đã mặc nhiên công nhận chế độ cộng sản, mà ông đang lãnh đạo với chức vụ chủ tịch nước, đang bỏ tù những ai có hành vi chính trị, không chấp nhận độc tài, chủ nghĩa Marx-Lenin, trong khi nhà nước cộng sản đã cam kết tôn trọng Công Pháp Quốc Tế về Quyền Dân Sự và Chính Trị. Như trên, ông đã xác nhận thành phần này “đáng bị xử”. Trên thực tế thì nhiều năm qua, trên 3 thập niên, hằng trăm chiến sĩ tranh đấu cho tự do dân chủ một cách ôn hòa đã bị cầm tù, bị thủ tiêu bằng nhiều hình thức. Bây giờ, với cái nhìn của ông Triết, những chiến sĩ tự do vẫn chưa mệt mỏi, họ là những người trong và ngoài nước làm việc có kế hoạch để đi đến mục đích là lật đổ chế độ.

Nói cách khác, trước những “đồng chí” xa quê lâu năm, có thể ông chủ tịch nước không phải lo ngại gì cả nên thật lòng nói ra sự thật. Ông trình bày rằng Đảng và Nhà Nước đang lo sợ một “thế lực trong và ngoài nước” kết hợp nhau để lật đổ chế độ, không phải là một vài cá nhân “mặc cảm”. Nguyên văn lời phát biểu của ông Triết ghi trên có lẽ không do nhà nước cộng sản phổ biến, mà từ một ai đó hiện diện trong buổi họp này quay phim và để trên Youtube.com. Và dĩ nhiên các đài TV Hà Nội, Saigon đã cắt xén phần phát biểu “hết lòng hết dạ” của ông.

Một vấn đề cần nhấn mạnh ở đây trong thời gian này khi ông Triết sắp đến Vatican. Khi nói tới chuyến công du của các lãnh đạo chóp bu từ Việt Nam, các chính trị gia cũng như hãng thông tấn thế giới hầu như đều đặt những câu hỏi về Nhân Quyền.

Trở về cuộc viếng thăm Hoa Kỳ đầu tiên, phóng viên thuộc hệ thống truyền hình CNN, ông Wolf Blitzer, phỏng vấn Nguyễn Minh Triết vào ngày 24/6/2007, sau khi Triết tiếp kiến Tổng Thống Bush tại Toà Bạch Ốc. Môt chương trình đặc biệt mà ông đặt tên là Nhân Quyền (Human Rights).

Blitzer: Có dấu hiệu chứng tỏ rằng - một cái chướng ngại - một vấn đề rất quan trọng (major problem), đó là Hoa Kỳ đang kết tội rằng ông đang ngược đãi quyền làm người của chính những đồng bào của ông tại Việt Nam. Tổng thống Bush nói rằng ông ta nêu lên vấn nạn đó với ông hôm nay. Về phần trao đổi đó kết quả ra sao?
Triết: Chúng tôi đã có buổi nói chuyện cởi mở trong cái nhìn về vấn đề này. Tôi nghĩ rằng Hoa Kỳ và Việt Nam, lịch sử khác nhau, hệ thống luật pháp khác nhau, và đó là tại sao nó rất là tự nhiên rằng chúng ta có những cái nhìn khác nhau về những vấn đề khác nhau.



Phóng viên Blitzer không những đặt những câu hỏi làm Triết phải bối rối, mà ông còn đưa ra cả tấm hình linh mục Nguyễn Văn Lý bị công an bịt miệng tại phiên toà tự biên tự diễn của cộng sản vào 30/3/2007. Ông Triết bắt buộc phải cầm lấy hình và qua loa đổ lỗi cho cán bộ cấp dưới, không phải chủ trương của Đảng và Nhà Nước. Cái gì người cộng sản nói cũng được, bởi vậy mới có hai từ “lưỡi gỗ” mà dân chúng đã đặt cho các ông. Hình ảnh cha Lý bị trói, bị bịt miệng được chiếu lên màn ảnh có nhiều triệu người xem, trong phiên phỏng vấn với đề tài Nhân Quyền này.

Những hình ảnh khác cũng được đưa lên rất sống động khi ông Blitzer nhắc tới cuộc biểu tình và các nhà đấu tranh còn bị tù trong nước: Khối người Việt các nơi đã tụ họp trước Toà Bạch Ốc, ngày trước đó, chống đối Triết với nhiều biểu ngữ lên án chế độ đàn áp nhân quyền, hai nhà đấu tranh Lê Quốc Quân và Nguyễn Vũ Bình.

Lần này ông Triết công du ngay lúc cả thế giới kỷ niệm ngày Bản Tuyên Ngôn Quốc Tế Nhân Quyền (10/12/1948) ra đời cách nay đúng 61 năm. Riêng đồng bào Việt Nam khắp nơi, mỗi năm vào ngày này đều tụ về trước trụ sở Liện Hiệp Quốc để lên án bạo quyền Hà Nội không tôn trọng những gì đã ký kết với Liên Hiệp Quốc, chà đạp lên tất cả những quyền thuộc về con người ghi trong bản tuyên ngôn. Kỳ này, nhất là các quốc gia ở Âu Châu, có lẽ người xuống đường có dịp nhắc và ghi tên Nguyễn Minh Triết trên các biểu ngữ nhiều hơn, và mong tiếng vang sẽ đến tận Vatican ngay trong lúc ông Triết gặp Đức Giáo Hoàng.

Hình ảnh về linh mục Nguyễn Văn Lý bị công an bịt miệng tại tòa được coi như một trong những biểu tượng nói lên hiện trạng thân phận con người dưới chế độ độc tài mang danh cộng sản có cung cách mafia đỏ. Hình này được phổ biến nhiều nơi - dọc theo xa lộ (freeway) tiểu bang California, trên các báo Mỹ, báo Việt, internet, v.v..

Câu hỏi còn lại: Không biết Đức Giáo Hoàng Benedict còn nhớ hình ảnh đó không khi giao tiếp với ông Nguyễn Minh Triết? Đức Giáo Hoàng có biết rằng vị linh mục đáng kính kia vẫn còn đang nằm trong lao tù và bị đối xử như một kẻ tội phạm. Cái uy dũng và lòng bất khuất của Ngài trước những thủ đoạn thấp hèn là tấm gương soi sáng. Quá trình dấn thân đòi quyền tự do tôn giáo của Ngài nuôi sống thêm ý chí đấu tranh cho những ai đang theo bước chân của vị lãnh đạo tinh thần này.

Trước những sự thật về đàn áp tôn giáo, tịch thu tài sản của các giáo hội, chiếm nhà đất của người dân, tệ trạng tham nhũng càng lúc càng nặng nề, bỏ tù và trù dập thành phần đấu tranh ôn hoà cho tự do dân chủ đang xảy ra tại Việt Nam, khi bị chất vấn, ông Triết chắc chắn cũng sẽ thể hiện những luận điệu vá víu đầy mâu thuẫn mà các ông đã và đang làm nhiều năm qua. Đảng và Nhà Nước không dám phổ biến Bản Tuyên Ngôn Quốc Tế Nhân Quyền cho toàn dân trong nước đọc qua. Mục đích của họ là “ngu dân” và có như thế thì chế độ mới mong tồn tại lâu dài.

Trong khí thế đề cao và bảo vệ nhân quyền, ông Triết không thể tránh khỏi những mũi nhọn đang chĩa về ông từ mọi phiá, bởi ông là đối lực của tự do, dân chủ, nhân quyền - đại diện của một nhà nước độc tài toàn trị, dùng tuyên truyền và vũ lực, tước đoạt hết quyền làm người của dân tộc Việt Nam trên 34 năm qua.

Bút Sử
8/12/2009

-------------------------------------------------------------------------

 

 

 

Dong Bao nen tim hieu Ban TNQTNQ

 Ngày 04-12-2009, giờ 08:49

Ngày 10 tháng 12, 1948, Liên Hiệp Quốc đã công bố bản Tuyên Ngôn Quốc Tế Nhân Quyền. Sau Thế Chiến Thứ Hai, sự ban hành này là nỗ lực của nhiều quốc gia để đáp ứng lại khát vọng của đại đa số người yêu chuộng tự do, hoà bình trên thế giới.

Cộng Hoà Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam đã gia nhập vào Liên Hiệp Quốc 1977. Sau đó, 1982, nhà nước cộng sản Việt Nam đã thông qua điều lệ và hứa cam kết thực hành các điều khoản trong Luật Thế Giới về Nhân Quyền (The International Bills of Human Rights).

Những Điều Luật về Nhân Quyền này gồm: Tuyên Ngôn Quốc Tế Nhân Quyền, Công Ước Quốc Tế về Quyền Kinh Tế, Xã Hội, và Văn Hoá; Công Ước Quốc Tế về Quyền Dân Sự và Chính Trị.

Trên thực tế, mặc dù gia nhập vào Liên Hiệp Quốc và hứa hẹn thực thi những quyền được nêu ra, lãnh đạo cộng sản Việt Nam vẫn không tôn trọng
những gì đã ký kết, luôn áp dụng chính sách độc tài, coi nhẹ nhân quyền, dùng bạo lực trị dân.

Sau đây là 30 điều khoản:

BẢN TUYÊN NGÔN QUỐC TẾ NHÂN QUYỀN (MÀ NHÀ NƯỚC CHXHCNVN
ĐÃ LONG TRỌNG KÝ KẾT THỰC HIỆN)

Xét rằng: Sự công nhận nhân phẩm của tất cả con người trong đại gia đình nhân loại và những quyền bình đẳng không thể tước đoạt của họ là nền tảng của tự do, công lý và hòa bình trên thế giới.

Xét rằng: Hành vi xem thường và chà đạp nhân quyền đã dẫn đến những hành động man rợ, xúc phạm đến lương tâm nhân loại. Việc tiến đến một thế giới trong đó tất cả mọi người được hưởng sự tự do ngôn luận, tự do tín ngưỡng, không còn lo sợ hãi và nghèo khó, phải được tuyên xưng như là ước vọng cao nhất của con người.

Xét rằng: Nhân Quyền cần phải được bảo vệ bằng luật pháp, để con người không bị bắt buộc phải sử dụng đến biện pháp cuối cùng là vùng dậy chống lại độc tài và áp bức.

Xét rằng: Mối quan hệ hữu nghị giữa các quốc gia cần được khuyến khích và mở rộng.

Xét rằng: Trong Hiến Chương, các dân tộc của cộng đồng Liên Hiệp Quốc đã lại một lần nữa xác định niềm tin vào những quyền căn bản của con người, vào nhân phẩm và giá trị con người, vào quyền bình đẳng nam nữ và cũng đã quyết định cổ vũ cho các tiến bộ xã hội và cải tiến mức nhân sinh trong bối cảnh ngày càng tự do hơn.

Xét rằng: Các quốc gia hội viên đã cam kết hợp tác với Liên Hiệp Quốc, nhằm cổ vũ việc tôn trọng nhân quyền và các quyền tự do căn bản.

Xét rằng: Sự hiểu biết chung về nhân quyền và tự do là điều tối quan trọng để có thể thực hiện đầy đủ sự cam kết trên.

Do đó, Ðại Hội Ðồng Liên Hiệp Quốc long trọng công bố Tuyên Ngôn Quốc Tế Nhân Quyền này như là một khuôn mẫu chung cần đạt tới của mọi dân tộc và quốc gia, nhằm giúp cho mọi cá nhân và thành phần của xã hội luôn luôn theo sát tinh thần của Bản Tuyên Ngôn, dùng sự truyền đạt và giáo dục, để nỗ lực phát huy sự tôn trọng các quyền tự do này.

Mặt khác, bằng những phương thức tiến bộ trong phạm vi quốc gia cũng như quốc tế, phải bảo đảm sự thừa nhận và tuân hành Bản Tuyên Ngôn một cách có hiệu lực, trong các dân tộc của các nước thành viên, và ngay cả trong những người dân sống trên các phần đất thuộc quyền cai quản của các nước đó.

Ðiều 1: Mọi người sinh ra đều được tự do và bình đẳng về nhân phẩm và quyền. Mọi người đều được phú bẩm về lý trí và lương tâm và vì thế phải đối xử với nhau trên tinh thần bác ái.

Ðiều 2: Mọi người đều được hưởng tất cả những quyền và tự do được công bố trong Bản Tuyên Ngôn này và không có một sự phân biệt nào, như chủng tộc, màu da, phái tính, ngôn ngữ, tôn giáo, quan điểm chính trị hay tất cả quan điểm khác, quốc tịch hay nguồn gốc xã hội, tài sản, nơi sinh, hay tất cả những hoàn cảnh khác. Hơn nữa, cũng không được có sự phân biệt nào đối với con người sống trên một quốc gia hay trên một lãnh thổ, căn cứ trên cơ chế chính trị, nền tảng luật pháp hay quy chế quốc tế của quốc gia hay lãnh thổ đó. Cho dù quốc gia hay lãnh thổ này độc lập hay dưới sự bảo hộ, không được tự trị
hay ở trong tình trạng bị hạn chế về chủ quyền.

Ðiều 3: Mọi người đều có quyền sống, quyền tự do và an toàn cá nhân.

Ðiều 4: Không ai bị cưỡng bức làm nô lệ hay tôi đòi. Chế độ nô lệ và buôn bán nô lệ dưới mọi hình thức đều bị nghiêm cấm.

Ðiều 5: Không một người nào phải chịu cực hình, tra tấn, hay bất kỳ hình thức đối xử, hoặc trừng phạt bất nhân, hay có tính cách lăng nhục.

Ðiều 6: Ở bất cứ nơi nào, mỗi người đều có quyền được công nhận tư cách con người của mình trước pháp luật.


Ðiều 7: Tất cả mọi người đều bình đẳng trước pháp luật, và phải được bảo vệ một cách bình đẳng, không kỳ thị phân biệt. Tất cả đều được quyền bảo vệ ngang nhau, chống lại mọi kỳ thị vi phạm Bản Tuyên Ngôn này, cũng như chống lại mọi kích động dẫn đến kỳ thị như vậy.

Ðiều 8: Mọi người đều có quyền được bảo vệ và bênh vực bởi các cơ quan tư pháp quốc gia có thẩm quyền về các hành vi vi phạm các quyền căn bản, do Hiến Pháp và Luật Pháp quy định.

Ðiều 9: Không một ai bị bắt bớ, cầm tù hay lưu đày một cách độc đoán.

Ðiều 10: Mọi người đều có bằng nhau quyền được phân xử công khai và công
bằng, trước một tòa án độc lập và vô tư, để được phán quyết về các quyền lợi và nhiệm vụ của mình, hay về những tội phạm mà mình bị cáo buộc.

Ðiều 11:
(1) khi truy tố trước pháp luật, mọi người được xem là vô tội, cho đến khi pháp luật chứng minh là có tội, trong một phiên tòa công khai và tòa án này phải cung ứng tất cả mọi bảo đảm cần thiết cho quyền biện hộ của đương sự.
(2) Không ai có thể bị kết án khi có những hành động hay sơ suất xảy ra vào lúc mà luật pháp của quốc gia hay quốc tế không qui định đó là một hành vi phạm pháp. Tương tự như vậy, không được áp đặt một hình phạt nào nặng
hơn hình phạt được ấn định vào lúc hành vi phạm pháp xảy ra.

Ðiều 12: Không một ai bị xâm phạm một cách độc đoán về đời sống riêng tư, gia đình, nhà ở, hay thư tín, cũng như bị xúc phạm danh dự hay tiếng tăm của mình. Mọi người đều có quyền được luật pháp bảo vệ, trước những xâm phạm và xúc phạm như vậy.

Ðiều 13:
(1) Mọi người có quyền tự do di chuyển và cư trú, trong phạm vi biên giới của quốc gia.
(2) Mọi người đều có quyền rời khỏi lãnh thổ bất kỳ nước nào, kể cả nước của mình, và quyền trở về xứ sở

Ðiều 14:

(1) Trước sự ngược đãi, mọi người đều có quyền tị nạn và tìm sự dung thân tại các quốc gia khác.
(2) Quyền này không được kể đến, trong trường hợp bị truy nã thật sự vì các tội phạm không có tính chính trị, hay do những hành vi trái với những mục tiêu và nguyên tắc của Liên Hiệp Quốc.

Ðiều 15
:
(1) Mọi người đều có quyền có quốc tịch.
(2) Không một ai bị tước bỏ quốc tịch, hay bị từ chối quyền thay đổi quốc tịch, một cách độc đoán.

Ðiều 16:

(1) Nam và nữ trong tuổi trưởng thành có quyền kết hôn và lập gia đình, mà không bị hạn chế về lý do chủng tộc, quốc tịch hay tôn giáo. Nam nữ đều có quyền bình đẳng lúc kết hôn, trong đời sống vợ chồng và lúc ly hôn.
(2) Hôn nhân chỉ có thể tiến hành khi cả hai đều được tự do quyết định và đồng ý thật sự.
(3) Gia đình phải được xem là một đơn vị tự nhiên và căn bản của xã hội, và được quyền bảo vệ của xã hội và quốc gia.

Ðiều 17:

(1) Mọi người đều có quyền sở hữu tài sản cá nhân cũng như tập thể.
(2) Không ai có thể bị tước đoạt tài sản của mình một cách độc đoán.

Ðiều 18: Mọi người đều có quyền về tự do tư tưởng, nhận thức và tôn giáo. Quyền này bao gồm cả quyền tự do thay đổi tôn giáo hay tín ngưỡng, cũng như quyền tự do biểu lộ tôn giáo hay tín ngưỡng của mình, với tư cách cá nhân hay tập thể, ở nơi công cộng hay nơi chốn riêng, bằng sự truyền dạy, thực hành, thờ phượng và áp dụng các nghi thức đạo giáo.

Ðiều 19: Mọi người đều có quyền tự do ngôn luận và bày tỏ quan điểm. Quyền này bao gồm sự tự do quan điểm mà không bị xen vào quấy rầy và được tự do tìm kiếm, thu nhận và quảng bá tin tức và tư tưởng qua mọi phương tiện truyền thông bất kể biên giới.

Ðiều 20:
(1) Mọi người đều có quyền tự do hội họp và lập hội, một cách ôn hòa .
(2) Không một ai có thể bị cưỡng bách gia nhập vào một đoàn thể.

Ðiều 21:
(1) Mọi người đều có quyền tham gia vào việc điều hành xứ sở của mình, một cách trực tiếp hay qua các đại biểu được tuyển chọn một cách tự do.
(2) Mọi người đều có quyền đón nhận những dịch vụ công cộng của quốc gia một cách bình đẳng.
(3) Ý muốn của người dân phải là nền tảng của quyền lực chính quyền. Ý muốn
này phải được thể hiện qua các cuộc bầu cử định kỳ và thực sự , bằng phiếu kín, qua phương thức phổ thông và bình đẳng đầu phiếu, hay các phương thức tương đương của bầu cử tự do.

Ðiều 22: Vì là thành viên của xã hội, mỗi người đều có quyền an ninh xã hội, qua các cố gắng của quốc gia và hợp tác quốc tế, dựa theo phương cách tổ chức và tài nguyên của mỗi nước. Quyền này được đặt trên căn bản của sự thụ hưởng những quyền về kinh tế, xã hội và văn hóa, cần thiết cho nhân phẩm và sự phát triển tự do của mỗi cá nhân.

Ðiều 23:
(1) Mọi người đều có quyền làm việc, quyền tự do chọn việc làm, quyền được hưởng các điều kiện làm việc chính đáng và thuận lợi đối với công việc, và quyền được bảo vệ chống thất nghiệp.

(2) Mọi người, không vì lý do kỳ thị nào, đều có quyền được hưởng lương bổng như nhau cho cùng một công việc.
(3) Mọi người làm việc đều được quyền hưởng thù lao một cách công bằng và thích hợp, khả dĩ bảo đảm cho bản thân và gia đình mình một cuộc sống xứng đáng với nhân phẩm, cũng như được trợ giúp nếu cần, qua các phương thức bảo vệ xã hội khác.
(4) Mọi người đều có quyền thành lập và tham gia vàobảo
vệ quyền lợi của mình.

Ðiều 24: Mọi người đều có quyền nghỉ ngơi và giải trí, kể cả việc hạn chế hợp lý số giờ làm việc, và các ngày nghỉ định kỳ có trả lương.

Ðiều 25:
(1) Mọi người đều có quyền được hưởng một mức sống phù hợp với sức khỏe và sự no ấm cho bản thân và gia đình bao gồm: thực phẩm, quần áo, nhà ở, y tế và các dịch vụ xã hội cần thiết, quyền an sinh trong lúc thất nghiệp, đau ốm, tàn tật, góa bụa, tuổi già hay các tình huống thiếu thốn khác do các hoàn cảnh ngoài khả năng kiểm soát của mình.
(2) Các bà mẹ và trẻ con phải được hưởng sự chăm sóc và trợ giúp đặc biệt. Tất cả mọi trẻ con, sinh có hôn thú hay không, đều được xã hội bảo vệ một cách bình đẳng. 


Ðiều 26:
(1) Mọi người đều có quyền được giáo dục. Giáo dục phải được miễn phí, ít nhất là ở bậc tiểu học và căn bản. Giáo dục tiểu học phải bắt buộc. Giáo dục kỹ thuật và chuyên nghiệp phải được mở rộng và giáo dục đại học phải được mở rộng bình đẳng cho mọi người, trên căn bản tài năng xứng đáng.
(2) Giáo dục phải được điều hướng để phát triển đầy đủ nhân cách, và củng cố sự tôn trọng nhân quyền và các quyền tự do căn bản. Giáo dục phải nhằm cổ vũ sự cảm thông, lòng khoan dung, và tình hữu nghị giữa mọi quốc gia, mọi nhóm chủng tộc hoặc tôn giáo, và hỗ trợ việc phát triển các sinh hoạt của Liên Hiệp Quốc nhằm duy trì hòa bình.
(3) Cha mẹ có quyền ưu tiên chọn lựa phương cách giáo dục dành cho con cái mình.

Ðiều 27:
(1) Mọi người đều có quyền tự do tham gia sinh hoạt văn hóa cộng đồng,
thưởng thức các bộ môn nghệ thuật, và cùng chia xẻ các tiến bộ khoa học cũng như các lợi ích của khoa học.
(2) Mọi người đều có quyền được bảo vệ về tác quyền, trên bình diện tinh thần cũng như quyền lợi vật chất, đối với các tác phẩm khoa học, văn chương, hay nghệ thuật.

Ðiều 28: Mọi người đều có quyền đòi hỏi được sống trong một trật tự xã hội và trật tự quốc tế, trong đó các quyền và các tự do được đề cập trong Bản Tuyên Ngôn này có thể được thể hiện đầy đủ.


Ðiều 29:
(1) Mọi người đều có bổn phận đối với cộng đồng nào mà chỉ trong đó mới có thể phát triển toàn vẹn và tự do nhân cách của mình.
(2) Trong việc hành xử
chịu những hạn chế do luật định, và những hạn chế này chỉ nhằm mục tiêu bảo đảm sự thừa nhận và tôn trọng nhân quyền, và quyền tự do của những người khác, cũng như nhằm thỏa mãn những đòi hỏi chính đáng về luân lý, trật tự công cộng, và nền an sinh chung trong một xã hội dân chủ.
(3) Trong bất cứ trường hợp nào, nhân quyền và những quyền tự do này cũng không được hành xử trái với những mục tiêu và nguyên tắc của Liên Hiệp Quốc.

Ðiều 30: Không một điều nào trong Bản Tuyên Ngôn này được hiểu và hàm ý cho phép một nước, một nhóm hay một cá nhân nào được quyền có những việc làm hay hành động nhằm hủy diệt nhân quyền và tự do được thừa nhận trong bản Tuyên Ngôn này.

Liên Hiệp Quốc, ngày 10 tháng 12 năm 1948
----------------------------------------------------------------

 

 

Bien Co Tam Toa va Hanh Dong Nem Da Giau Tay


Trong vòng gần hai tuần lễ nay, vụ giáo dân tại giáo xứ Tam Toà, thị xã Đồng Hới, tỉnh Quảng Bình bị công an đánh đập, bắt giam là đề tài nóng làm nhiều người chú ý. Với làn sóng càng ngày càng có thêm phản ứng từ mọi nơi, nhà nước cộng sản Việt Nam đối phó như thế nào?

Theo tin của các phóng viên từ Tam Toà được đăng tải trên VietCatholic News và các hệ thống thông tin khác: Các vị linh mục và giáo dân đệ đơn nhiều lần xin lại Tam Toà cho giáo xứ, nhưng nhà nước lặng thinh lấy cớ là để làm di tích cho tuổi trẻ học về “tội ác chiến tranh.” Một số bài viết và tài liệu cũng cho thấy trong thời kỳ chiến tranh, Tam Toà là nơi Việt cộng lợi dụng để làm vũ khí tuyên truyền. Có nhân chứng kể lại vụ nổ tại Tam Toà do chính Việt cộng gây ra rồi đổ thừa cho Mỹ.

Dù nhà cầm quyền địa phương tại Quảng Bình không đáp ứng nguyện vọng của giáo xứ, cuối cùng thì giáo dân đã quyết định làm lễ tại ngay khung viên nhà thờ và người ta tiếp tục tụ họp. Số người càng ngày càng đông nên có nhu cầu dựng lều để tránh mưa nắng, sương gió... Ngày 20/7/2009, công an đến đàn áp, tịch thu vật liệu, đánh đập, bắt bớ, kể cả trẻ em cũng không tránh khỏi.

Những người vào thăm về cho chúng tôi biết những người bị giam trên thân thể có nhiều thương tích bầm giập. Ðược biết những thương tích đó là do công an đánh đập hôm 20 Tháng Bảy 2009.”
Hiện nay, vẫn có 12 người chưa biết bị đưa đi đâu sau khi bị lôi lên xe cảnh sát và bị đánh đập tiếp. Thậm chí có một đôi vợ chồng bị công an đánh đập lôi lên xe, chị vợ bị kéo lê trên mặt đất tuột hết cả quần vẫn không tha.
,... công an đã dùng dùi cui và công cụ hỗ trợ đánh thẳng vào mặt giáo dân không thương tiếc và lôi xềnh xệch những người đó ra xe, những người khóc than, kêu gào cũng bị đánh đập và điệu lên xe khủng bố. Thậm chí, ngay cả sau khi lên xe, họ vẫn bị đánh đập tiếp.
Cuộc đàn áp tiếp tục. Tuần sau, được biết trong số những người bị đánh đập có hai vị linh mục. Ngày 28/7/2009, linh mục Ngô Thế Bính bị đánh khi ngài vào thăm linh mục Nguyễn Đình Phú, người bị công an đánh hôm trước đó.

Cha Lai cho biết: "Cha Bính bị đánh gãy 2 răng, bị đánh vào đầu rất mạnh, mắt của Ngài bị đánh bầm tím. Ngài phải khâu trên trán và dưới môi".

Bản tin tường thuật ghi tiếp:
...có những người mặc áo thường dân hoặc sắc phục công an lượn xe qua lại nhiều lần, thậm chí tại phía bên kia đường đối diện nhà thờ, có cả cán bộ công an đứng quay phim, chụp hình. Tuy nhiên, khi giáo dân giơ máy hình về phía họ thì họ bỏ trốn.
Hình chụp công an và người mặc thường phục đứng chặn các góc đường không cho giáo dân vào Tam Toà.

Đó là một bộ mặt với nhiều màu sắc của tập đoàn công an. Xin đưa ra thêm một chút về hành động hèn hạ của nhà nước cộng sản vào những năm gần đây: Tàu Trung Cộng tấn công tàu nhỏ của ngư dân vùng Quảng Ngãi, Nghệ An.... Trung cộng bắt giữ hằng chục tàu cá và đánh đập ngư dân, cũng như bắt hằng trăm ngư dân. Việt cộng loan tin đó là những chiếc “tàu lạ.” Họ cũng không tốn công điều tra hay tìm cách giải cứu những ngư dân đó một cách thỏa đáng. Ngược lại, họ sẵn sàng tập trung đội ngũ công an, cảnh sát cơ động, cán bộ, du đảng, xã hội đen để càn quét giáo dân xuống đường nói lên nguyện vọng một cách ôn hòa.

Sau biến cố thì người ta thấy những tấm hình linh mục bị đánh sưng mặt mũi, gãy tay, những cụ già, trẻ em bị thương tích, nhưng không ai có cơ hội chụp được hình khi xảy ra vụ đánh đó. Họ đánh dân nơi hang ổ của công an; hoặc đánh công khai nhưng nếu ai chụp hình thì máy bị tịch thu.

Cách thức đàn áp và khủng bố này có gì mới lạ không?

Lối đánh đập và khủng bố này xem ra đã xảy ra trong nhiều trường hợp. Thủ đoạn ném đá dấu tay đã nằm trong chương trình của tập đoàn Hồ Chí Minh có thể nói từ thời chiến thuật Cải Cách Ruộng Đất tại miền Bắc mà họ gọi là “long trời lở đất” đã sát hại ít nhất nửa triệu dân. Con số người chết cao như thế là phải kể luôn những vụ thanh toán nhau giữa những thành phần ham sống sợ chết, trẻ con bệnh tật và chết đói vì cha mẹ bị đấu tố, nhiều người chết trong nhà giam liên can tới Cải Cách Ruộng Đất v.v..

Phương pháp đàn áp là những cái nhai đi nhai lại mà Đảng đã học từ thời Mao. Học giả Hoàng Văn Chí, vào 1962, đã cho rằng Đảng Cộng Sản Việt Nam lãnh đạo bởi Hồ Chí Minh không có gì gọi là có sáng kiến cả, sau khi ông Hoàng biết ra sự thật Hồ đã sử dụng toàn bộ cách thức giết người và khủng bố của Mao.

Nhiều phiên “Toà Án Nhân Dân” để đấu tố địa chủ đã xảy ra liên tiếp, có khi không hẳn là địa chủ mà chỉ là những nông dân với vài sào ruộng bị kích lên thành phần, hoặc những nạn nhân bị liên quan. Việt Minh đã soạn ra một kế hoạch tinh vi đưa đẩy nhiều người vào cái tròng “tử tội” để đạt chỉ tiêu mà Mao đã đề ra.

Ông Hoàng Văn Chí, tác giả “Từ Thực Dân tới Cộng Sản,” (trang 133) ghi:

Điều đáng chú ý là đảng viên và cán bộ đảng không trực tiếp nhúng tay vào các vụ tra tấn này. Họ giao công việc cho “cốt cán”, vì cốt cán không phải là người của Đảng và của chính phủ. Như vậy là cốt để sau này Đảng có thể ngang nhiên phủ nhận mọi trách nhiệm và, hơn nữa, đổ hết cả tội lỗi vào đầu nhân dân.
Người ta sợ mấy “ông cốt cán” lắm. Họ là thành phần có tội trong xã hội và rất hài lòng làm công tác chuộc tội bằng cách thi hành lệnh do cán bộ của ông Hồ giao phó. Hơn nửa thế kỷ sau, cách dùng người kiểu này vẫn còn xảy ra trong “xã hội chủ nghĩa” tại Việt Nam. Người nhà của bà Trần Khải Thanh Thủy phải thức sáng đêm “canh” vì sợ mấy “ông” xã hội đen hay công an giả dạng phá cửa nhà bà. Những người con của mục sư Nguyễn Công Chính phải trốn dưới gầm bàn để tránh né những mảng cây và vật dụng trong nhà bay tứ tung khi mấy “ông” đập phá nhà mục sư vào 1, 2 giờ sáng. Trong hiện tượng Tam Tòa này thì mấy "ông" là những "dân tự phát" lượn xe qua lại, chặn các nẻo đường, và đánh đập dân.

Báo chí của Đảng nếu có đăng tin thì không bao giờ dám nhìn nhận hành động đó là của công an hay tay sai của công an, cán bộ. Nếu loan rằng họ là dân thường hay thành phần xã hội đen thì cũng chưa bao giờ nghe tin điều tra để làm cho ra ánh sáng. Tóm lại thì người dân vừa sợ Đảng, vừa sợ mấy "ông."

Thời đó người ta hay nói mấy “thằng” trở thành “ông” là vậy. Có những câu vè truyền tụng như sau:

Trời làm một hội lăng nhăng
Thằng hoá ra ông, ông hóa ra thằng
Trời làm một hội lông nhông
Ông hóa ra thằng, thằng hóa ra ông
Hoàng Văn Chí là nhân chứng của chế độ tàn bạo thời Hồ Chí Minh còn kể lại một vụ rất là buồn cười xảy ra trong một lớp học cấp 1. Cô giáo cho ra đề tài bài luận “Các em hãy tả một “đấu” trong xã các em.” Trẻ em cứ thật tình tả cảnh bắt người, đánh đập, trói, tra tấn, v.v... Cuối cùng các em không quên ca tụng đường lối sáng suốt đúng đắn của Đảng và ‘Bác Hồ!”

Giáo dân các vùng sau khi nghe 19 người bị đánh và bị bắt giam, họ xuống đường với nhiều biểu ngữ biểu lộ lòng can đảm, không có cái nào là nền đỏ chữ vàng. Những bài tường thuật cho thấy hình ảnh và diễn cảnh tại nơi có biến cố:

Trên suốt quãng đường đi đến Tam Tòa, những câu khẩu hiệu vàng đỏ sặc sỡ: 'Công an nhân dân, vì nước quên thân, vì dân phục vụ’, ‘Công an nhân dân làm theo lời bác’ hay ‘Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa’.
Giáo dân có cảm tưởng những câu khẩu hiệu này như là trêu tức họ và thật là mỉa mai!

Khi tin tức và hình ảnh dồn dập trên các mạng lưới toàn cầu, Việt cộng cũng cho ra một video tuyên truyền trên youtube, phỏng vấn một vài quan chức tại Quảng Bình. Lại cũng luận điệu là giáo dân tụ họp trái phép, bị xuí giục (mà không nói ai xúi giục), nhà nước dùng nhà thờ Tam Toà để làm chứng tích cho tuổi trẻ hiểu về “tội ác chiến tranh.”

Việt cộng lại dùng con bài “tuổi trẻ.” Vậy thì hãy nói tới tuổi trẻ hôm nay nói chung, và nói riêng tuổi trẻ tại Quảng Bình. Người ta thấy hàng ngàn gương mặt trẻ, có thể nói từ 12 tuổi trở lên rất nhiều trong đám đông lên đến hàng trăm ngàn hôm đó tại buổi xuống đường. Tuổi trẻ là lứa tuổi trong trắng, thật lòng, có sao nói vậy.

Như tuổi trẻ của thời Cải Cách Ruộng Đất viết kể về những buổi đấu tố, tuổi trẻ hôm nay, nếu phải hay nên ghi lại biến cố Tam Toà này, các em không thể quên ghi những hành động đánh đập giáo dân, thả lựu đạn cay, dùi cui, gậy gộc, xe bắt tù...Có thể các em cũng kết luận bằng một trong những câu khẩu ngữ giăng hai bên đường đi đến nhà thờ: “công an nhân dân làm theo lời Bác!”

Bút Sử
7/2009

Thang 8 Thu Tinh

 

Lý do chánh để chế độ cộng sản còn tồn tại là người cộng sản áp dụng chủ trương tuyên truyền và vũ lực. Qua hơn 60 năm sự  thật của ngày cộng sản cướp chinh quyền 19/8/1945 vẫn  không được trình bày một cách trung thực. Ngày này được bôi lên một lớp sơn đỏ với hai chữ “cách mạng” và từ đó toàn dân Việt Nam bị đắm chìm trong u tối xung quanh những ngôn từ xa lạ: “chủ nghĩa Marx Lenin, đảng ta, đấu tranh giai cấp, bạo lực cách mạng, sự nghiệp cách mạng phát triển với một Đảng Marx Lenin được tôi luyện, v.v..”

 

Cách mạng là gì? Cách mạng theo nghĩa của ngưòi cộng sản là gì?

Cách mạng thông thường được hiểu là làm một sự thay đổi. Về mặt tư tưởng thì nó có một ý nghĩa tích cực, phải là từ xấu thành tốt (radical change - sự thay đổi tiến bộ, tốt hơn cái đã có sẵn). Áp dụng tư tưởng nào đó để hành động một cách chính trị, nếu tư tưởng đó không tiến bộ, trái lại còn thụt lùi, thì không thể gọi hành động đó là làm cách mạng.

Người làm cách mạng có khi không làm chính trị và ngược lại. Các anh hùng cách mạng nước Việt Nam thường xuất thân là những nhà yêu nước chân chính, không phải vì mục đích làm chính trị mà họ dấn thân tranh đấu. Mục đích của họ là làm thay đổi một chế độ tồi tệ bằng một chế độ có luật pháp rõ rệt, nhân quyền được tôn trọng, công bằng xã hội được thực thi. Họ có thể không tiếp tục làm công tác lãnh đạo mà nhường quyền ấy cho các thành phần xứng đáng khác sau khi cuộc cách mạng thành công. Hiện tại trong nước, chúng ta có thể kể một vài tấm gương cách mạng trong giới trẻ như Lê Thị Công Nhân, Nguyễn Văn Đài, Lê Công Định, v.v..

"Cách mạng" của người cộng sản lại mang tính cách hoàn toàn khác. Đối với họ, cách mạng là thay hệ thống cũ bằng hệ thống mới mặc dù cái cũ có giá trị vĩnh viễn như các giá trị tinh thần trong tôn giáo.

Thuyết căn bản về “cách mạng” được trình bày rõ ràng trong "The Communist Manifesto", 1848, viết bởi Marx và Engels, cha đẻ của chủ thuyết cộng sản. Quote:"The communists openly declare that their ends can be attained only by the forcible overthrow of all existing social conditions. Let the ruling classes tremble at a Communist revolution...The theory of the Communists may be summed up in the simple sentences: Abolition of private property...”

Những người cộng sản công khai tuyên bố rằng mục đích sau cùng của họ có thể đạt được chỉ bằng cách dùng vũ lực lật đổ tất cả tình trạng xã hội hiện hữu. Hãy để những giai cấp nắm quyền làm rung chuyển tại cuộc cách mạng cộng sản...Thuyết cộng sản có thể tóm tắt trong những câu đơn giản như: bãi bỏ quyền làm chủ tài sản cá nhân, những gì thuộc về cá nhân.

Cần nhấn mạnh ở đây là chủ nghĩa cộng sản tiêu diệt những chân lý có tính bất diệt, nó triệt hạ tất cả tôn giáo và luân lý, thay vì  thiết lập trên căn bản mới; chủ nghĩa này, do vậy, đưa ra những hành động ngược lại tất cả những gì trải qua trong quá khứ. Thật vậy, chúng ta thấy rõ Đảng Cộng Sản Việt Nam, lãnh đạo bởi Hồ Chí Minh, thực thi giáo điều trên một cách khá nghiêm túc, tuy rằng vì “hoàn cảnh chính trị” thay đổi mà họ có nới rộng một chút cho dân dễ thở, nhưng trên căn bản họ vẫn cai trị dân theo những chỉ dạy của ông tổ cộng sản đề ra.

Trên thực tế thì thế nào? Chủ thuyết cộng sản mượn vai trò "công nhân" làm cách mạng, công nhân lên nắm chính quyền; thực ra từ Nga, Tàu... tới Việt Nam, các thành phần lãnh đạo chóp bu không phải công nhân hay vô sản, mà xuất phát từ những gia đình tương đối giàu có (Marx, Lenin) hay những tay “làm cách mạng chuyên nghiệp” (professional revolutionaries), cả đời đi làm chuyện thay đổi theo lối bạo động.

Nói chung, cách thu tóm quyền hành vào nhóm chóp bu là dựa trên thuyết của Lenin - đại thể là cách mạng cộng sản chỉ thực hiện được khi quyền lực lãnh đạo nằm trong tay của một nhóm nhỏ, nhóm này được “tôi luyện” kỹ lưỡng. Lenin không lo ngại những cá nhân trong nhóm thuộc thành phần nào trong xã hội, miễn sao làm việc có kết quả; tuy nhiên Lenin không tin tưởng mấy vào thành phần công nhân và giai cấp nghèo ít học. Đó là đi ngược lại với những gì của Marx, ngay cả dùng bạo động của Marx để đi tắt lên xã hội cộng sản, không xuyên qua giai đoạn "quá độ." Chủ trương của Lenin được áp dụng trong nhóm lãnh đạo của Đảng Cộng Sản Việt Nam, đồng thời Đảng cũng tôn vinh thuyết Marx. Với chính sách thay đổi đường lối tuỳ thời, họ thu nhận thành phần có học và khá giả để giúp Đảng họat động (dốt làm sao biết viết lách để tuyên truyền?) Khi cảm thấy không cần trí thức nữa thì Đảng tạo cớ để thanh trừng hay tiêu diệt một cách tinh vi để trừ hậu họa. 

Giáo sư Doug Kennell, University of California, trên "Pine Tree" magazine, Spring 1970, có viết: “Một sự xung đột về quyền hạn cho từng cá nhân khi phải chọn cách thức họ sống như thế nào trong xã hội. Cuộc cách mạng này không thể có kết quả là một sự hình thành của một hệ thống xã hội mới, nhưng với sự xáo trộn của cả hệ thống xã hội bị cưỡng bức.”

Sự xáo trộn của cả một hệ thống xã hội (the disestablishment of all compulsory social systems) tại Việt Nam ngày nay là kết quả hiển nhiên của việc làm mà chủ trương "cách mạng" chỉ là đạp đổ bằng vũ lực (forcible overthrow) tất cả những gì sẵn có để thay thế bằng những điều không tưởng. Cướp chính quyền bằng súng đạn, xe tăng. Sau đó họ cày nát những chùa chiền, nhà thờ, thánh thất, đền đài, thư viện, sách báo... Khi cần "sáng tạo" để cứu nguy chế độ thì vá víu với "kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa", đầu gà đuôi vịt, những khẩu hiệu, biểu ngữ có tính sáo rỗng được dựng dán khắp nơi đề cao vai trò lãnh tụ, tâng bốc nhân dân, nhưng nhân dân chỉ là con số không to tướng.

Tất cả tôn giáo tại Việt Nam đều bị trù dập với thủ đoạn tinh vi qua chủ trương "Tam Vô" của Đảng. Rất nhiều biến cố và hiện tượng xảy ra riêng về mặt tôn giáo hơn 34 năm qua. Đảng cố công ra tay đàn áp bằng nhiều phương cách, nhưng các tôn giáo vẫn sống còn  dù trong hoàn cảnh vô cùng bi đát. Giáo dân tại giáo xứ Tam Toà đã bị dồn vào chân tường nên có phản ứng vào vài tháng gần đây - tháng 7,8, 2009- hằng ngàn người tại giáo xứ và các nơi đứng lên đòi lại nhà thờ cộng sản đã cướp. Bất chấp luật pháp, công an và tay sai (xã hội đen) đánh đập, càn quét những buổi xuống đường.

   Cuộc cách mạng này không thể có kết quả là một sự hình thành của một hệ thống xã hội mới, nhưng với sự xáo trộn của cả hệ thống xã hội bị cưỡng bức.” Lời tuyên bố này có những chứng minh cụ thể hơn theo thời gian – toàn dân Việt bị cưỡng bức quá nhiều sau hơn 60 năm tại miền Bắc và hơn 34 năm tại miền Nam. Giáo sư Kennell đã biết trước hậu quả của chính sách cai trị tàn bạo này, không chờ tới sau 1975, và ngày nay mọi người đều biết, kể cả những thành phần lãnh đạo trong Đảng. Cái ác của những người mang nhãn hiệu cộng sản là ở chỗ đó. Những ngôn ngữ, lý thuyết, giáo điều là cớ để họ thi hành, để bảo vệ những quyền lợi họ đang có trong tay.

(Nguồn hình Black Book of Communism: trí thức bị đày đi lao động, nhà thờ bị tàn phá sau khi Lenin lên nắm quyền bên Nga).

Qua việc Đảng liên tiếp trù dập tôn giáo trong nhiều năm qua, người ta có thể kết luận rằng: những thống khổ và hình ảnh tàn phá nhà thờ bên Nga để xây thành những cơ sở cho Đảng vẫn còn là tấm gương cho Đảng Cộng Sản Việt Nam noi theo. 

Khi làn sóng cộng sản đang lan tràn sau thế chiến thứ hai, trong đó chủ trương kinh hoàng là tiêu diệt những giá trị như chân lý ngàn đời từ khi có sự hiện hữu của con người, thì nhân loại cũng đã được cảnh báo hậu quả khôn lường của chính sách vô nhân khát máu này.

 

Trại Thú Vật

 

"Animal Farm - Trại Thú Vật" ra đời 1945, ngay sau thế chiến thứ hai kết thúc. Tác giả George Orwell (người Anh) đã đặt vai trò con quạ Moses (tame raven) một trong đám thú vật. Con heo đực trưởng trại Old Major ( boar) nói trước đám thú về một giấc mộng nó thấy tối qua. Heo cố gắng giải nghĩa cho đàn thú nghe về một viễn ảnh của một nơi rất lý tưởng để mọi con thú đều đến đó ở, không bị loài người làm chủ, và làm như thế nào để thoát khỏi trại thú này, sức lao động của những con thú sẽ không bị ngưòi làm chủ lợi dụng. Sau khi nghe, đám thú trong trại đều coi heo như thánh thần, chúng tưởng tượng ra một tương lai đầy vui sướng. Khi con heo đực  thuyết giảng thì Moses không nghe mà chỉ ngủ. Moses đã thuần hoá với nhiệm vụ của mình, lời của heo nghe chán ngắt Moses không bao giờ để ý. Con heo Old Major không làm Moses lay chuyển gì cả. Con heo trưởng trại chết sau 3 ngày nó  giảng dạy về  "Thuyết Thú Vật." Con heo khác rất độc tài tên Napoleon lên thay thế. Cuộc cách mạng thú vật đã thành công, và Moses cũng biến mất. Một thời gian sau Moses xuất hiện trở lại làm việc tiếp.

 

Tác giả Orwell cho Moses một vai trò như tôn giáo hay như nhà thờ: không làm việc lao động, chỉ ngồi trên một cái trụ cao nói và kể chuyện Sugarland Mountain, cho đàn thú biết chúng sẽ về đâu sau khi chết. Moses lại là một con “thú đặc biệt” rất cần thiết của chủ trại.

 

Không giống như Marx, Orwell tin rằng tôn giáo không bao giờ biến mất, bởi vì đa số  người ta cần một điểm nương vào sau khi chết, cũng như lúc còn sống con người phải trải qua giai đoạn trằn trọc, luôn tìm cho mình câu trả lời về đâu sau cái chết.

 

Với chủ trương duy vật, quan niệm cuộc sống chỉ có vật chất, bác bỏ tất cả những giá trị tinh thần, ngay thởi điểm khi làn sóng đỏ đang bành trướng nhiều nơi trên thế giới, Orwell đã nhận ra hậu quả tai hại của chủ nghĩa vô nhân bản này rồi. Tại Việt Nam, sau hơn 64 năm, thú tính vẫn còn là thú tính ở những người cộng sản lãnh đạo. Họ đang kỷ niệm ngày gọi là “cách mạng 19/8/ 1945” đồng thời ra tay đàn áp, đánh đập giáo dân. Hiện tượng này có thể làm cho người ta nhớ tới câu chuyện ẩn dụ “Animal Farm-Trại Thú Vật”, cũng ra đời mùa thu 1945, có Moses cùng đàn thú và trưởng trại là 2 con heo nọc. Con heo nọc Old Major làm vai trò Marx và Lenin, và con heo nọc Napoleon thể hiện Stalin. Hồ Chí Minh và tập đoàn là những con heo con được lấy giống từ heo nọc, nếu áp dụng "Animalism -Chủ Nghĩa Thú Vật"  trong câu chuyện của George Orwell.

 

Bút Sử

17/8/2009

 


 

Phim Vietnam Vietnam

 

 

Vào tháng 8 năm 2008, bộ phim tài liệu gồm nhiều tập được phổ biến tại Hoa Kỳ có tựa "Vietnam A Retrospective" trong đó có tập "Vietnam Vietnam!" "Vietnam Vietnam" dài 58 phút, do John Ford làm ra, người diễn đạt là tài tử Charlton Heston. Nội dung chính bao gồm hai phần: phản chiến tại Hoa Kỳ và tranh luận (debate) giũa các tổng thống, thống đốc, dân biểu quốc hội.


Có người đưa ra thắc mắc tại sao phim thực hiện xong từ 1971 mà đến gần cuối 2008 mới đưa ra phổ biến? Một nhận xét cho rằng giai đoạn 1971 đang là phong trào phản chiến cao độ, xao động cả toàn dân Mỹ đến độ chính phủ phải đưa ra giải pháp "rút quân." Việc "Pentagon Papers" của Daniel Ellsberg là một bất lợi vô cùng to lớn đối với chính sách đương đầu với phe cộng sản tại Việt Nam. Nguyên là nhân viên của Bộ Quốc Phòng từ thời chiến tranh lạnh,1964, đến một chức vụ dân sự trong Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ tại Việt Nam sau đó, ông Ellsberg lúc nào cũng bi quan về sự chiến thắng trong cuộc chiến và nghiêng về phía cộng sản. Trong "Pentagon Papers" Ellsberg đã tung ra những bí mật của Bộ Quốc Phòng, rất nhiều trang được đăng trên New York Times 1971. Hiện tượng này châm ngòi thêm cho phong trào phản chiến, và cũng đi từ những nguyên do này mới có hiện tượng "Watergate" và đưa đến việc tổng thống Nixon phải xin từ chức.

Phong trào phản chiến tại Hoa Kỳ khởi nguồn từ đầu thập niên 60, bùng dậy càng ngày càng mạnh vào đầu thập niên 70. Trong những tổ chức, nhóm chống chiến tranh kêu gọi "hoà bình" phải kể: nhóm "khủng bố nội địa" Weather Underground, Black Panthers (Mỹ da đen ủng hộ cộng sản), Đảng Cộng Sản Hoa Kỳ, Malcolm X, May 19 Organization, Saul Alinsky, tài tử Hollywood, nhóm hoạt động chính trị điển hình như Bill Clinton, Hillary Rodham Clinton, John Kerry, kể cả mục sư Martin Luther King đã ví quân đội Mỹ tham gia tại Việt Nam cũng giống như quân Đức Quốc Xã tại Âu Châu, v.v...Nặng nề hơn hết là sự sách động sinh viên của hằng chục trường đại học như Berkley ở California, Harvard và Boston ở Massachusetts.

Tài liệu cho thấy trong giai đoạn này, hằng năm quốc tế cộng sản đã chi ra riêng cho Hoa Kỳ 3 tỷ US dollars lo việc tổ chức biểu tình phản chiến. Tài liệu cũng đưa ra cái gọi là "toà án nhân dân" của quốc tế phán tội người Mỹ tại Việt Nam được tổ chức tại Sweden và Denmark vào các năm 1966-1968, do hai nhân vật chống chiến tranh mệnh danh là triết gia Bertrand Russell và Jean-Paul Sartre. Phần tài chánh lớn chi phí cho việc thực hiện "toà án" này lại do chính tiền từ Hà Nội gửi sang (Financing for the Tribunal came from many sources, including a large contribution from the North Vietnamese government after a request made by Russell to Ho Chi Minh -Source from Wikipedia).

Năm 1968, khi nằm trong tù tại miền Bắc, nghe đài Hà Nội loan tin ca ngợi "toà án nhân dân quốc tế," ngục sĩ Nguyễn Chi Thiện đã làm bài thơ "Gửi Bertrand Russell":

Ông là một bậc triết nhân. Nhưng về chính trị ông đần làm sao. Ông bênh Việt Cộng ồn ào. Nhưng ông hiểu chúng tí nào cho cam. Mời ông tới Bắc Việt Nam. Xem nô lệ đói phải làm ra sao. Mời ông tới các nhà lao. Xem bò lợn được đề cao hơn người. Không ai kêu nổi một lời. Mồm dân Đảng khoá đã mười mấy năm. Xem rồi ông mới hờn căm. Muốn đem bọn chúng ra bằm ra văm. Tuổi ông ngót nghét một trăm. Nhưng thua cậu bé mười lăm đói gầy. Về môn "cộng sản học" này!



Nói như thế để chúng ta thấy nguyên do chính của sự bỏ rơi đồng minh Việt Nam Cộng Hoà và dọn đuờng cho cộng sản Bắc Việt ồ ạt dùng vũ khí đạn dược Nga Tàu cưỡng chiếm miền Nam. Do vậy mà miền Nam thua là thua chính trị tại Washington chứ không phải thua tại trận chiến. Vũ khí đâu để đối đầu với lực lượng súng đạn của Nga Tàu? Việc sắp đặt rút khỏi Việt Nam để nhường cho cộng sản rõ ràng nhất qua hiệp định Paris ngày 27/01/ 1973, mặc dù trong đó đã ghi rõ miền Bắc không thể dùng vũ lực để xâm lăng miền Nam, nhưng không ai có thể tin cộng sản thực thi.


Như vậy thì lý luận cho rằng sở dĩ phim "Vietnam Vietnam" bị "cất kín" hơn 37 năm qua vì nhu cầu của sự "tuyên truyền" thông tin chính nghĩa không còn cần thiết nữa khi Quốc Hội Hoa Kỳ đã đang bàn luận bỏ rơi Việt Nam Cộng Hoà xem ra cũng có lý. Hơn nữa, Ủy Ban gọi là USIA (United States Information Agency) có thẩm quyền cho ra hay không phim Vietnam Vietnam họ đã có quyết định.


Tài liệu này đã đưa ra hai mặt: chống và ủng hộ cuộc chiến. Như thế để người xem tự tìm ra đâu là sự thật, đâu là chính nghĩa, tại sao Hoa Kỳ phải nhúng tay vào Việt Nam. Truớc cuộc chiến bùng nổ, người Mỹ đã chụp bằng satellite nhiều hình ảnh nơi vũ khí đạn dược Nga Tàu được cộng sản chôn giấu trong Nam để chuẩn bị cuộc chiến xâm lăng. Hình ảnh rất linh động, cảnh cộng sản thảm sát đồng bào vào Tết Mậu Thân 1968, những mồ chôn tập thể tại Huế, qua chủ trương "tiêu thổ kháng chiến," cộng sản đốt nhà dân trước khi rút quân làm phụ nữ và trẻ con chết loạn xạ v.v.

Ở đây chỉ điểm qua một vài nét nói lên tội ác của cộng sản Việt Nam mà nhân loại ngay thời điểm đó đã không quan tâm đúng mức. Hằng ngàn nạn nhân bị cộng sản tàn sát tại Huế thì không được bàn luận phổ biến rộng rãi, trong khi sau đó vài tháng, hiện tượng Mỹ Lai chỉ có 175 nạn nhân thì quân đội Hoa Kỳ bị kết án nặng nề, mặc dù cá nhân viên sĩ quan phi công dội bom đã bị đưa ra toà án quân đội xử lý công minh. Truyền thông phản chiến cũng là công cụ góp phần đưa đẩy việc bỏ rơi miền Nam.


Hình ảnh những sinh viên tại Hoa Kỳ biểu tình rần rộ với cờ đỏ sao vàng và cờ xanh đỏ của cộng sản miền Nam. Một người đàn ông tị nạn cộng sản gốc Hungary có mặt trong buổi biểu tình tại Saigon có một số sinh viên Mỹ. Cũng như Nguyễn Chí Thiện đã cho ông Russell một bài học nhỏ về môn học cộng sản trong lời thơ, ông Hungary này đã ít nhất đưa ra một vài ý niệm về bản chất của chế độ cộng sản. Ông tức giận bày tỏ với đám đông xung quanh:

Các người thật là ngu...Tôi là một chiến sĩ tự do...Một điều rất là sỉ nhục khi các người đang làm những chuyện đối với chính quốc gia mình. Tôi cảm thấy nhục cho nước Mỹ. Tôi không phải là một người Mỹ. Tôi là người Hung Gia Lợi. Người ta phải chết cho con cháu, cho tương lai con cháu, cho tự do của con cháu. Các người bị hướng dẫn sai lầm. Trong tận cùng, các người là những thành phần tốt, có lương tâm. Các người muốn sự nhân đạo tuyệt vời, nhưng nhân đạo bị chấm dứt trong những quốc gia dưới chế độ cộng sản. Hãy tới nước Hungary, Chezlovakia...Những người đang đấu tranh cho tự do dân chủ, những người Việt đó xứng đáng được tuyên dương, và mỗi người Mỹ đang chiến đấu chống cộng sản là một anh hùng.

(You are stupid, idiot, you know...I am a freedom fighter...It's disgraceful for what you are doing here for your own country. I am ashamed for America. I am not an American. I am a Hungarian. People have to die for their children, for their future, for their freedom. You are mislead. Deep inside you, you are very very decent people. You want the best humanity, but humanity is finished in the communist countries. Go to Hungary, Chezlovakia...The people are fighting for freedom, every Vietnamese should get a medal and every American who fights communist is a hero...)
Phim đã đưa ra hình ảnh và những phát biểu của các chính trị gia Hoa Kỳ: một số tán đồng rút quân, cũng như thành phần tiếp tục ủng hộ cuộc chiến chính nghĩa. Đặc biệt hơn hết là thống đốc California, 1967-1975, ông Ronald Reagan. Ông đưa ra lời tuyên bố:


Tất cả chúng ta không thể thay thế giá trị to lớn của người dân của chúng ta...Ai có thể đưa ra lằn ranh để định giá sự sống của một người Mỹ, nếu bằng cách bảo vệ một mạng sống người Mỹ khi có thể hằng ngàn người Việt Nam phải chết? Mạng sống con người là mạng sống con người....Một thực thể hiển nhiên nhất đã xảy ra là gần 2 triệu người dân miền Bắc đã rời bỏ chạy về miền Nam để xa lánh chế độ cộng sản. Đó có phải dấu hiệu rằng chính phủ này đã không đại diện nguyện vọng của dân chúng? Chấm dứt sự xung đột mâu thuẫn không thể đơn giản chỉ là ra lệnh ngừng chiến và trở về nhà, bởi vì cái giá phải trả cho loại hoà bình đó có thể là hằng ngàn năm của tăm tối hay tăm tối cho những thế hệ chưa sinh ra đời.

(All of it can’t replace the great value of our own people...But..Can you really draw a line to whether it ‘s worth one American life..if that by saving an American life, you subject to probably thousands of Vietnamese to death?...Human life is human life. The very fact is practically two millions of the North Vietnamese fled to South Vietnam to escape the communist regime. Is it indication that this government did not represent the will of the people?...Ending the conflict is not so simple as just calling it off and coming home, because the price for that kind of peace could be a thousand years of darkness or generations yet unborn.)
Nhân đạo bị chấm dứt trong những quốc gia dưới chế độ cộng sản! Nhắc lại lời phát biểu của người tị nạn cộng sản Hungary để ứng dụng ngay trong đất nước Việt Nam! Nhiều vụ cộng sản bắt bớ bỏ tù, trù dập những nhà đấu tranh cho nhân quyền chỉ vì họ còn lương tâm làm người trước thảm trạng quốc biến gia vong.Thấm thía hơn khi nghe lại lời tuyên bố của thống đốc Reagan. Những người mang biểu ngữ, khẩu hiệu "hoà bình" chẳng qua là dấu hiệu cho sự tàn sát đẵm máu sau đó. Tổng thống Nixon đã có lần nói: Khi hai bên ký ngưng chiến có nghĩa là chúng ta ngưng (cease), còn cộng sản thì đánh (fire). Hoà bình rồi mà số nạn nhân chết dưới chế độ cộng sản còn cao gấp hai, gấp ba lần khi có chiến tranh! Chết vì vượt biên, chết vì bị bệnh và đói trong nhà lao, chết vì bệnh và thiếu ăn ngoài nhà tù lớn, bị xử tử v.v.. Những thành phần phản chiến lại im re khi nhìn những hiện tượng này, mặc dù trước đó họ xuống đường kêu gọi hoà bình, cho rằng rút quân chấm dứt chiến tranh là hết chết chóc.

Việt Nam đã có ngàn năm nô lệ Tàu. Hơn ba thập niên qua, dưới chế độ cộng sản, có thể là giai đoạn đầu của một thời kỳ dài tăm tối mà thống đốc Reagan đã tiên đoán chăng? Đã có hai thế hệ sống trong tăm tối sau lời phát biểu của ông. Lớp trẻ này không có quyền lựa chọn khi họ được sinh ra đời, nhưng có phải kết quả đó một phần là do thái độ của những người đi trước, mà chính ông Reagan đã bén nhạy nhận biết, trong khi ông cũng bất lực trước ván cờ. Ngay thời điểm này, những ai quan tâm về tình hình chính trị tại Việt Nam đều thấy rằng cái hoạ nô lệ Trung Cộng càng ngày càng rõ nét. Tập đoàn cộng sản tại Hà Nội là một phần tử của Trung Cộng, bị sự chỉ huy của Trung Cộng, ngoan ngoãn thi hành chính sách của Trung Cộng đề ra trên đất nước Việt Nam.

Bài học lịch sử từ lời tuyên bố của ông Reagan cho ta thấy kẻ đi trước có trách nhiệm với người sau, không thể phó thác cho dòng đời đến đâu thì đến. Quan trọng là sự hiểu biết, đi sâu vào tâm lý quần chúng, nhận ra sự thật khi xung quanh có quá nhiều "lộng giả thành chân." Mặc dù cho rằng vấn đề Việt Nam luôn còn là đề tài bàn cãi, phim "Vietnam Vietnam" cho người xem thấy rằng nó ra đời với mục đích nêu rõ âm mưu, thủ đoạn của người cộng sản, cái vô nhân bản trong chính sách, và sự lừa dối là chủ trương, cũng như dùng cứu cánh để biện minh cho phương tiện tàn bạo của họ. Hiểu ra như vậy để không lầm lẫn dễ tin theo những tuyên truyền hoa mỹ, để không bị sách động dễ dàng. Niềm tin con người nên đặt đúng chỗ, nhất là kinh nghiệm lịch sử bằng xương máu mà thế hệ cha anh đã để lại phải coi đó là thước đo lường. Người đi trước, ông Nguyễn Chí Thiện, đã trải qua kinh nghiệm dạn dày để nhận ra rằng:
Nếu nhân loại mọi người đều biết
Cộng sản là gì tự nó sẽ tan đi
Thứ sinh thành từ ấu trĩ ngu si
Sự hiểu biết sẽ là mồ huỷ diệt

Bút Sử
Mùa Quân Lực 19/6/2009

(You can buy "Vietnam A Retrospective" DVD on www.amazon.com)


Niềm Trắc Ẩn nơi Quê Nhà Việt Nam


 Chân-Quê.

Những ngày cuối tháng 7 năm 2009 mưa như trút nước xuống Việt-Nam, từ Saigon đến Hà-Nội.  Mưa làm hầu hết những con đường thành-phố ngập lụt.  Từ các phố Lương-Đình-Của, Phạm-Ngọc-Thạch, Thái-Hà… (Hà-Nội) đến khu chợ Tân-Định, Phú-Nhuận, Gia-Định…(Saigon) có ngày ngập nước đến gần cổ người đi bộ.  Thật là khủng khiếp khi hình ảnh chuột chết trôi lềnh bềnh cùng rác rưởi tanh tưởi khắp mọi nơi.  Người ta cứ đổ thừa cho việc “Trái Đất Biến Đổi Khí Hậu” mà không hề để ý đến các hồ thoát nước ở ngoại-ô đã bị san bằng để xây nhà cao tầng, xây biệt-thự cho Việt-Kiều và giới cán bộ cao cấp đầu tư làm giàu.  Có những người Việt-Nam bỗng chốc trở thành Tỷ-Tỷ-Phú (tính theo đô-la Mỹ, chứ không phải Tỷ tiền Việt-Nam) nhờ vào ngành Địa-Ốc???

Tôi chợt nhớ đến những hồ thoát nước tại miền Nam California.  Nếu có ai trong chúng ta đi từ thành-phố Diamond Bar về vùng Little Saigon, theo quốc-lộ (Freeway) 57 South, trước khi vào “Freeway” 22 West sẽ nhận thấy dọc theo hai bên đường là những con kênh, mùa khô cạn ráo, trông thật vô-lý.  Nhưng nếu mưa xuống thì chỉ một ngày sau nước sẽ gần muốn tràn bờ.  Đây là những đường thoát nước ra biển Huntington-Beach mỗi khi miền Nam California có mưa.  Chính-Phủ Hoa-Kỳ lập những con kênh này không ngoài mục đích chống lụt vì ở thập-niên 80 ( khoảng năm 1867);  miền Nam California đã bị ngập lụt hoàn toàn và bao nhiêu mạng người đã bị cuốn đi.
Tôi cũng lại nhớ đến lời của một bài nhạc, ôm đàn guitar thùng hát nho nhỏ: "Mưa Saigon! Ơi mưa Saigon..."
“Mưa Saigon! Ơi mưa Saigon.  Bờ đại-dương em còn chờ ngóng.  Ta ra đi mất lối quay về.  Rồi chiều mưa, ai đón đưa ai”…
Tự cảm nhận mình đã thực-sự không còn lối quay về dù vé máy bay đang cầm trong tay, mỗi ngày theo dõi tin tức trên các trang Web. Tin thời tiết cho biết sẽ mưa nặng hạt suốt mười hôm sắp đến tại Việt-Nam.  Tôi định dời lại ngày về nhưng khi nghĩ đến các Soeur bạn của tôi đang đi làm từ thiện ngoài Bắc nắng gió xa xôi muôn trùng.  Tôi đã hứa sẽ về đồng hành cùng các Soeur trên bước đường chia xẻ tình-thương trong tháng 7, suốt ngày không ngớt lời cầu nguyện.  Cuối cùng tôi cũng đáp đuợc chuyến bay đến phi-trường Nội-Bài (Hà-Nội) như lời ước hẹn cùng các Soeur bạn. 
Thật diệu-kỳ khi Trời thương cho dứt hẳn những cơn mưa.  Nắng chan hòa trong những ngày tôi len lỏi vào các làng mạc xa xôi đi thăm những thanh-niên, thiếu-nữ đẹp như trăng rằm bị lây nhiễm HIV sống cầm chừng từng ngày và chờ chết.  Tôi cũng được biết phần lớn số bệnh-nhân mắc bệnh “Si-Đa” ở Việt-Nam lây lan qua đường kim-chích và những quan-hệ xác thịt bất-chính, lớp thanh-niên ngày nay đang lao vào con đường nghiện ngập, ma-túy, thuốc lắc như những con thiêu-thân.  Họ không được giáo-dục từ trong gia-đình lẫn học-đường.  Trẻ em thất-học vì không có tiền cắp sách đến trường, lêu lỏng từ những ngày còn thơ bé.  Đối với chúng những từ “Luân-Thường-Đạo-Lý.  Nhân-Nghĩa-Lễ-Chí-Tín.  Sống Ích-Quốc-Lợi-Dân…” hoàn toàn xa lạ.  Tiếp xúc truyện trò với các thiếu-nữ tôi phải hết sức tế-nhị vì vấn đề quá “nhạy-cảm” khi biết rằng ngày mai các em sẽ giã từ tôi và cõi trần-gian ô-trọc này để đi qua một thế-giới khác.  Tôi cũng không dám chụp hình và quay phim ở những nơi đây khi mà  “Bản Án Tử-Hình” đang đeo trên người các em.  Có một cô gái 23 tuổi, chân tình tâm sự bằng một giọng Bắc (pha Trung) trọ trẹ:
“Cô xem đấy!  Chỉ vì nhà quá nghèo.  Các em đông. Thầy, U làm ruộng không đủ ăn.  Chỉ có mình con là con gái.  Con phải đi làm nghề “ấy” mới có tiền đem về lo cho cả nhà,  mắc phải bệnh Si-Đa, lại lây qua hai đứa con nhỏ, khổ quá cô ơi!  Giờ về quê sống những ngày còn lại.  Cô và các Sơ cầu-nguyện cho con với…”
Rồi người thiếu nữ ấy, các con cùng cả nhà ôm mặt khóc rưng rức.  Tôi bàng hoàng khi được các Soeurs dẫn đi thăm cả làng, nhà nào cũng có người mắc bệnh Si-Đa.  Trời tháng 7 miền quê xứ Bắc nóng đổ lửa, mồ hôi trên trán tôi chan hòa lẫn với những giọt nước mắt mặn bờ môi.  Tôi không thốt ra được lời nào để gọi là an-ủi những cảnh đời bất hạnh này.  Miệng tôi đắng chát, cổ họng khô cứng, chỉ có nước mắt và những lời kinh khấn-nguyện miên man trong óc, trong tim tôi.
Biết trách ai bây giờ? Trách những Ông Lớn Lãnh Đạo Quốc-Gia ư? Trách cho hoàn cảnh trớ trêu đưa đẩy thanh-niên, thiếu nữ Việt-Nam vào vòng xa-đọa?  Trách những người đàn ông mua vui trên thân xác phụ-nữ Việt-Nam? Hay trách chính các em không biết sống câu: “Nghèo Cho Sạch, Rách Cho Thơm” ???
Tôi lại liên tưởng đến hình ảnh Mẹ Terésa (Calcutta) cặm cụi năm này qua tháng nọ.  Mẹ len lỏi trong các hang cùng, ngõ hẹp hôi hám, tối tăm ở Calcutta (Ấn-Độ) đem những người cùng khổ, bệnh hoạn, tật nguyền, không nhà không cửa về chăm sóc.  Tôi đã sủng-ái, tôn thờ và nguyện theo gót chân Mẹ.  Sao giờ bỗng chùng lòng, chùn bước nơi chốn này?  Quê-Hương của tôi.  Nước Việt-Nam yêu dấu ngàn đời!  Bao giờ mới hết cảnh lầm than và trắc ẩn?
Tôi tiếp tục dấn bước cùng các Soeur nhưng dường như vết thương lòng đang rỉ máu.  Rồi những mẩu đối thoại của các thanh-niên Việt-Kiều khi ngồi trên máy bay nghe họ kháo nhau một cách rất tự-nhiên:
“Tao sẽ dẫn mày đi đến những chỗ này, rẻ như bèo.  Đẹp như Tiên.  Tụi mình phải trả thù dân-tộc chứ!  Tụi đàn ông Đại-Hàn, Đài-Loan lựa con gái Việt-Nam mình như lựa bó rau, thịt heo bán ngoài chợ.  Mình phải cho các em thấy thanh-niên Việt-Kiều mình ngon lành hơn tụi nó. Có ngày một trong đám tụi mình phải trở thành Từ-Hải để đưa các nàng Kiều ra khỏi chốn lầu xanh chứ!…” v.v… và v.v…
Tai tôi bỗng lùng bùng khi có tiếng gọi thất thanh từ trong một căn nhà ọp-ẹp gần đó:
“Các Soeur ơi!  Cô ơi!  Bố con chết rồi!  Bố con bị Si-Đa chết rồi.  Cứu chúng con với…”
Người thanh-niên tuổi ngoài ba-mươi đang dẫy chết trên sàn nhà.  Tôi và các Soeur chạy vội đến kịp đọc những lời kinh cầu cho linh-hồn của anh và xin Chúa tha-thứ những lỗi lầm  anh ta đã mắc phạm trong suốt kiếp làm người. 
Ngay hôm sau có Cha trong vùng Giáo-Xứ nghèo nàn ấy đến làm Lễ đám ma.  Tôi nghe nói xác ông không được mang vào nhà Thờ (dù ông ấy là người Công-Giáo); chỉ quấn trong một chiếc chiếu và sẽ chôn trong một khu nghĩa-địa dành riêng cho những kẻ mắc bệnh “Si-Đa”.
Một tuần sau, tôi cũng rời miền Bắc bay vào Nam để đi thăm các Thương-Phế-Binh Cựu Chiến-Sĩ Việt-Nam Cộng-Hòa và thăm một “Mái-Ấm Tình Thương” nuôi các thiếu-nữ lỡ-lầm, bụng mang dạ chửa vì”ghề-nghiệp”. Không nỡ phá thai nên tìm đến mái ấm này nhờ các Soeur chăm sóc, sanh nở.  Tôi cũng biết ra tại Saigon và Hà-Nội trung bình mỗi ngày có gần một nghìn Bào-Thai bị phá.  Các Soeur phải len lỏi vào làm y-tá trong những bệnh-viện để đem các Thai-Nhi về hỏa thiêu, rồi cất trong những lọ nhỏ, sau đó được chôn cẩn thận trong một ngôi nhà gọi là: “Lăng Của Các Thánh Anh-Hài”.
Tài-xế đưa tôi trở về khách-sạn cư-trú qua đêm, dọc hai bên phố linh-đình các quán nhậu, người dân Việt-Nam nhậu từ sáng đến chiều tối, khuya.  Gần như là 24/24.  Những quán Café chăng đèn xanh, đèn đỏ, quán  Karaoke, Vũ-Trường điên cuồng trong các điệu nhạc.  Có biết đâu những chốn ăn chơi này mang bao niềm trắc ẩn của cả một thế-hệ Việt-Nam hôm nay, khi mà còn đó hình ảnh người phu quét đường lầm lũi về đêm kéo theo một xe rác tanh-hôi, dơ bẩn. 
Tôi ước ao có những cây chổi Thần và tự nghĩ: “Làm thế nào những người phu quét đường cần cù, thấp kém nhất của xã-hội hôm nay có thể hốt hết được những trụy-lạc, tội-lỗi, rác rưởi của xã-hội Việt-Nam nhỉ!”
                                                                   
“Chân-Quê”.                                                            
(Saigon: 6giờ 30’ Sáng Ngày 1, tháng 8, 2009)

 
.
 

__,_._,___

Di Cu va Cai Cach Ruong Dat

The American Graduate: An

Interdisciplinary Journal on War and Society

Vietnamese Refugees Moving to South Vietnam, early 1950s

1

The University of Southern Mississippi

The American Graduate: An Interdisciplinary

Journal on War and Society

Vol. I Fall 2007

Feature Article

Going South: North Vietnamese Motivations for Fleeing to South Vietnam

in 1954……………………………………………… Jason Stewart, page 3

Book Reviews

Virginia At War, 1862. Edited by William C. Davis and James I. Robertson,

Jr…………………………….……Reviewed by Ryan S. Walters, page 29

Terror: How Israel Has Coped and What America Can Learn. By Leonard

A. Cole……………………..Reviewed by Wesley Tyler French, page 32

Pershing: General of the Armies by Donald Smythe…………….Reviewed

by Jason M. Sokiera, page 35

2

The University of Southern Mississippi

Information for Article Submissions

The American Graduate publishes papers written by graduate students on all topics relating to the study

of war and society. Papers should be at least 5000 words with no upper limit. However, authors should

understand that lengthy online articles are often difficult to read. Authors are encouraged to include

pictures, figures, and charts in their submission. Please follow Chicago Manual for style guidelines. Submit

completed manuscript in MS-Word compatible format as an email attachment to

kevin.doughtery@usm.edu.

Information for Book Reviewers

Your review should be 650-700 words in length. It should begin with a summary of the publication

information in this format:

Book Title. By John Q. Author. (Durham, NC: Duke University Press, 1999. xiv + 288pp.,

acknowledgements, introduction, illustrations, bibliography, index. $18.95 paper).

Body of Review

Your name and affiliation should appear immediately beneath this information.

Content of the Review

Please make several comparative comments regarding other works of the same genre and include

suggestions for further research. Good reviews use basic and specific information about a book to critique

or praise it. Your review is usually the first thing readers see about the book in review, so be sure to explain

any complex ideas in the work and provide a good summary of the main ideas and contents.

Edited works can present an organizational hazard for the reviewer. In a brief review, it is usually not

possible to discuss more than a few contributions in detail. While some aspects of the book may be singled

out, most of the book should deal with the book as a whole.

Please organize your review around the issues or arguments presented in the book rather than around

the table of contents. Summarize the book’s theme, tone, and style. Be sure to evaluate the book in a clear

and well-supported way. Do not be afraid to point out flaws in the book.

Please proofread the final draft carefully for concision and lucidity, avoiding plot and biographical

summaries, long citations, repetition of information in the heading, and errors in names and technical

terms. If substantive revision seems necessary and time permits, we will consult with the reviewer about

changes. All reviews are reflexive of not only the reviewed but the reviewer as well.

At the bottom of the review please include all contact information for the period after the review is

submitted. This will not be published, but will allow the American Graduate editors to contact you.

Return your review in a MS-Word-compatible format, preferably by e-mail, to jason.sokiera@usm.edu.

3

The University of Southern Mississippi

Going South:

North Vietnamese Motivations for Fleeing to South Vietnam in 1954

“Forgetting, and I might even say historical errors, are essential factors in the creation of

a nation.”

Ernest Renan

What is a Nation?, 18921

From August 1954 to June 1955 some 900,000 North Vietnamese refugees fled to

South Vietnam because they feared persecution by Ho Chi Minh’s Communist régime.

Among those that fled were: Catholics who feared religious oppression, land owners that

faced kangaroo courts and execution by agricultural reform tribunes, and political

dissidents who were subject to extermination at the hands of communist cadres.

Beginning in May of 1954, delegates from Vietnam, France, the United States,

Russia, China, and various other countries met in Geneva, Switzerland to conduct peace

negotiations in order to bring an end to the nine-year-long French-Indochina War. After

participating in peace negotiations for two and one-half months, the delegates made the

decision to divide Vietnam at the 17th parallel; allowing the Communist Vietminh forces

of Ho Chi Minh to take control of the North, while giving the South to U.S-backed non-

Communist nationalists under Emperor Bao Dai and Premier Ngo Dinh Diem. According

to the stipulations of the partition, Vietnam was to be divided for a period of two years

until elections could be held to reunify the country under a single government.2 Another

significant stipulation of the partition agreement stated that all persons who wished to

1 Robert Templer, Shadows and Wind: A View of Modern Vietnam (New York: Penguin Books, 1998), p.

26.

2 Because of this clause in the partition agreement delegates from the United States and Bao Dai’s southern

régime chose not to sign the Geneva Peace Accords because they felt that Ho Chi Minh would win the

election and unify the country under a Communist régime.

4

The University of Southern Mississippi

leave one sector of the divided country for the other could do so within a three-hundred

day time period.3 Delegates included this clause in the partition agreement primarily to

allow the military forces from the opposing sides to withdraw from the other’s territory

under a cease-fire and without opposition; but the clause also allowed civilians who

wished to leave one sector for the other to do so within the stated time period. 4

Following the conclusion of the Geneva Peace Conference, some 900,000 North

Vietnamese civilians took advantage of the three-hundred-day window and fled to South

Vietnam, and an additional 80,000-100,000 South Vietnamese civilians evacuated to the

North. 5 The United States and France aided in the exodus of the northern refugees by

providing them with the transportation they needed to reach the South. American and

French airplanes, as well as the American Navy’s Seventh Fleet, acted as a ferry service

carrying the evacuees to refugee camps in South Vietnam. Most of the refugees who

chose to flee to the south lost almost everything they owned as a consequence. The

dangers that they faced if they remained, and the fears of living under an oppressive

Communist régime, forced many refugees to abandon nearly all of their possessions, no

matter how great or small. In fact, of the 900,000 who fled, over 700,000 were peasants

3 Ellen J. Hammer, The Struggle for Indochina 1940-1955 (Stanford, CA: Stanford University Press, 1966),

p. 345.

4 Philip Gutzman, Vietnam: A Visual Encyclopedia (London: PRC Publishing Ltd., 2002), p. 160-161;

Robert F. Randle, Geneva 1954: The Settlement of the Indochinese War (Princeton: Princeton University

Press, 1969), p. 462-463.

5According to Anthony James Joes, author of The War for South Vietnam, “If a proportionate exodus took

place in the United States, the number of refugees would approach eight million.” Anthony James Joes: The

War For South Vietnam: 1954-1975 (New York: Praeger, 1989), p. 32-33.

5

The University of Southern Mississippi

who lost all of their land. Others included fishermen, businessmen, artisans, government

employees, professionals, and students. 6

(Thousands of Vietnamese fled from the North to the South on ships from the

U.S. Navy’s 7th Fleet.)7

Despite the fact that nearly a million North Vietnamese civilians chose to go to

the South during the three-hundred-day period designated for movement, several hundred

thousands more were unable to move from North to South because Communist forces

6 Joseph Buttinger, Vietnam: A Dragon Embattled (New York: Frederick A. Praeger Publishers, 1967), p.

900.

7 Douglas Pike, “

The Douglas Pike Photography Collection,” (

Lubbock: The Vietnam Archive at Texas

Tech, 1954).

6

The University of Southern Mississippi

violated the agreements and made it difficult for many more civilians to leave. Neutral

peacekeepers who monitored the evacuations claimed that “the obstructions (to prevent

people from fleeing to the South) were “no mere social manifestations, but an organized

plan.” According to the observers, the planned obstructions consisted of “soldiers,

political cadres and local militia (being) frequently placed in the houses of would be

evacuees with the express instructions to prevent them from leaving their homes in order

to contact the (Geneva peacekeeping) teams. People were also frequently molested or

grouped in areas from which the teams were excluded; local clergy were intimidated and

subject to imprisonment.” They also argued that “…the frequency and the common

features of this form of obstruction in all provinces investigated leave little doubt that

these obstructions and hindrances had been deliberately planned.”8 Despite the

occurrence of organized obstruction, however, the observers could do little to stop it from

happening. Therefore, it is unknown how many more would have fled had they been

given the opportunity to do so.

8 Randle, Geneva, p. 464.

7

The University of Southern Mississippi

(Signs held by Vietnamese refugees thanking the U.S. and France for their aid.)9

Of the 900,000 Vietnamese civilians who actually did make it out of North

Vietnam despite the obstacles, a large portion of them joined the South Vietnamese

government or South Vietnamese military forces, and in many cases held high positions

within these organizations. In fact, North Vietnamese men held up to 18 percent of all

senior officer positions in the South Vietnamese Army. 10 The North Vietnamese natives

who chose to flee to the South and support the South Vietnamese government through

military or government service did so for a variety of reasons. Most left the North and

aided the South in the subsequent Second Indochina War, also known as the Vietnam

War, because of acts of Communist persecution against them or perceived fears of

Communist persecution. Catholic parishioners made up the largest portion of all refugees

that fled from the North to the South. They constituted about 600,000 of the total 900,000

refugees who evacuated to the South. These evacuees abandoned their homes in the

North because they feared that the Communists would persecute them and ban them from

practicing their religion once the Communists fully consolidated their power.11 Nearly the

entire student body of the University of Hanoi also fled because they feared future

persecution. Two other groups of refugees, political dissidents and victims of Ho Chi

Minh’s infamous land reform campaign fled to the South because they had already borne

9 Douglas Pike, “The Douglas Pike Photography Collection,” (Lubbock: The Vietnam Archive at Texas

Tech, 1954).

10 George C. Herring, America’s Longest War: The United States and Vietnam, 1950-1975 (Boston:

McGraw Hill, 1979), p. 57; James F. Dunning and Albert A. Nofi, Dirty Little Secrets of the Vietnam War

(New York: St. Martin’s Press, 2000), p. 211.

11 As it turned out, the Catholics were correct in their assumptions that the Communists would persecute

them once they gained control. Following the Communist victory in 1975, Catholic churches were closed

and several bishops and priests were arrested and placed in reeducation camps for several years. In fact the

Communists held Francois Xavier Nguyen Van Thuan, Cardinal of Vietnam, in a reeducation camp until

1988. Templer, Shadows and Wind, p. 273.

8

The University of Southern Mississippi

the brunt of Communist oppression. For example, historians estimate that Communist

forces executed some 50,000 Vietnamese during the land reform program. Many of the

survivors of the land reform campaign, and the family members of the victims, chose to

leave the North because they feared for their lives and because they hated the Communist

régime for what it had already done to them. Surviving political dissidents and the family

members of those executed during Ho Chi Minh’s movement to consolidate his power

also fled to the South because they feared for their safety and lives. 12

As mentioned previously, Catholic refugees made up the majority of those who

chose to move to the South after the Geneva Accords. Most of these refugees came from

Catholic enclaves in the Red River Delta such as Phat Diem and Bui Chu. Many of them

were Catholics because their grandparents and great-grandparents had converted to

Catholicism after French missionaries arrived in Vietnam in the late 1800’s. For several

decades, Vietnamese Catholics in the North had lived in peace and prosperity under the

French colonial régime, but once the Communists gained control of the country they

feared that the régime would actively persecute them because of their ties to the French

and their religious affiliation. They knew of the Communists’ distaste for religion of all

forms and of the Marxian belief that religion was simply “the opiate of the masses.”13

Interestingly enough, many Catholics supported the Vietminh and Ho Chi Minh’s

quest for Independence in the early days of the war against France. In fact, the

Vietnamese Catholic bishops of Vietnam wrote an open letter asking for all Catholics of

the world to “come to the aid of their invaded country and its children, animated by pure

12 Stephen T. Hosmer, Viet Cong Repression and Its Implications for the Future (Washington D.C.: The

Rand Corporation, 1970), p. 95-97; Joes, War for South Vietnam, p. 33.

13 Joes, War for South Vietnam, p. 32-33.

9

The University of Southern Mississippi

patriotism, and decimated on the battlefield.”14 According to historian Joseph Buttinger,

Catholics supported the Vietminh early on because “the chief concern of all these people

was national independence; they all knew that independence was threatened by the

French, that it had to be defended, and that the government which had proclaimed it was

best qualified to organize its defense.”15 The ambiguity of the political nature of the

Vietminh also led to Catholic support of the guerillas in the early stages of the war. At

that time period, most Vietnamese did not see the Vietminh as a Communist

organization. People understood that the Vietminh contained some Communist elements,

but they largely viewed the Vietminh as a patriotic nationalist organization. Thus, when

Catholics asked for aid and prayer for the independence movement, they did so because

they viewed the movement in patriotic and nationalistic terms. However, as the war

progressed and it became obvious that the Vietminh would win, the Vietminh

government began to show its true Communist nature. Therefore, many Catholics turned

away from the régime when the Communists began harassing their villages in the later

stages of the war. 16

Once the Catholic bishops and priests of North Vietnam came to the realization

that the Vietminh did not have their best interests at heart, they began speaking out

against the Vietminh and even organized their own militias to protect territories from

Vietminh incursions. In fact, on several occasions during the French-Indochina War,

Catholic militiamen successfully defended their villages from Vietminh assaults. They

also occasionally aided the French when battles took place within Catholic territories by

14 Buttinger, Embattled Dragon, p. 347

15 Ibid.

16 Ibid.

10

The University of Southern Mississippi

providing them with useful intelligence information and supplies. However, the Catholic

priests’ most significant act of defiance against the Communist government was their role

in leading the hundreds of thousands of Catholics South after the Geneva Peace Accords

of 1954. 17

Catholic priests played an integral role in convincing the hundreds of thousands of

evacuees to leave the North. In many cases, priests successfully convinced their entire

congregations to follow them to the South. They did so by telling their parishioners that

the Communists would close the churches and would prevent them from receiving the

holy sacraments. Essentially, many priests told their congregants that they risked losing

the right to be Catholic if they remained in the North. According to Communist

accusations, priests also spread rumors that “the Virgin Mary had gone South,” and “God

had gone South” and if they did not go with them, they would “lose their souls.” 18 The

Communists also charged that the priests spread rumors that the parishioners would also

lose their lives if they remained in the North because the “Americans planned to destroy

the North after the resettlement period with their nuclear bombs.”19

It is not actually known whether or not the priests played a role in spreading such

rumors, but it is known that the American CIA did institute a propaganda campaign

designed to scare many North Vietnamese into evacuating to the South. For example,

Edward Lansdale, the chief CIA operative in Vietnam at the time, carefully forged anti-

Catholic leaflets distributed to the masses, hoping that Catholics would believe that they

17 Buttinger, Embattled Dragon, p. 706 and 753-754.

18 Buttinger, Embattled Dragon, p. 900-901; Neil Sheehan, A Bright Shining Lie: John Paul Van and

America in Vietnam (New York: Random House, 1988), p. 137.

19 Buttinger, Embattled Dragon, p. 900.

11

The University of Southern Mississippi

were decrees created by the Communist government. Lansdale also hired “noted

Vietnamese astrologers to write grim predictions about the future of North Vietnam and

its undertakings.”20 It is also likely that Lansdale’s men were the first to circulate the

rumor that the United States would destroy North Vietnam with nuclear weapons to scare

northerners into fleeing to the South. Regardless of who started the rumors and how

effective they were, however, the priests and bishops of North Vietnam were successful

in convincing thousands of Catholic parishioners to follow them south.

Aside from fleeing because of fears of persecution, many Catholic also made the

decision to go to the South because the Prime Minister and soon to be president of South

Vietnam, Ngo Dinh Diem was an ardent Catholic. Diem had once considered becoming a

priest, but decided against it because he felt he could best serve his country by becoming

a public servant. Despite the decision not to become a priest, Diem allowed his spiritual

zeal to shape his government policy. Throughout his career, Diem also maintained close

ties to the Catholic Church. In fact, Diem’s brother, Ngo Dinh Thuc, served as

Archbishop to Vietnam during the war years. During the 300 day window that North

Vietnamese evacuees had to leave the North, Diem became heavily involved in

encouraging them to come to the South. In fact, on one occasion, he met with the bishops

of North Vietnam to discuss the move to the South and to assure them that they would be

welcomed under his government. He encouraged Catholic evacuees to remove useful

equipment and supplies from public and private property so that they could be shipped to

the South. As a result, many evacuees stripped broadcasting stations, post offices,

libraries, laboratories, hospitals, and factories of tools, equipment, and supplies that the

20 Sheehan, Bright Shining Lie, p. 137.

12

The University of Southern Mississippi

South Vietnamese government could benefit from. Most evacuees felt that the removal of

these goods was justified because they themselves left behind jobs, houses, furniture and

land.21

(South Vietnamese president Ngo Dinh Diem meets with a priest and nuns at a

Catholic hospital in Qui Nhon.) 22

Once Catholic refugees arrived in South Vietnam, they became the most ardent

supporters of the Diem régime. Diem appointed many Northern Catholic refugees to

important positions within the South Vietnamese government and within the ARVN. In

fact, the first troops that Diem used to guard the presidential palace in Saigon were

21 Herring, America’s Longest War, p. 58-59; Buttinger, Embattled Dragon, p. 900-901.

22 Douglas Pike, “The Dougals Pike Photography Collection,” (Lubbock: The Vietnam War Archive at

Texas Tech, 1954).

13

The University of Southern Mississippi

Catholic militiamen from North Vietnam.23 Other Catholic refugees became generals in

the ARVN or cabinet members in Diem’s administration. Diem also appointed northern

refugees to other important positions such as village chief or province governor. These

appointments made him popular among the northern Catholics, but the appointments also

offended many South Vietnamese who did not like the fact that Diem had placed a

northern stranger in charge of their village or province. Thus, as the Catholic refugees

began to settle in the South, many southerners began to dislike the Diem régime because

the President had placed foreigners in positions of authority over them.

Eventually, Diem’s relationship to the northern refugees and his favoritism

towards Catholics led to his assassination. South Vietnamese civilians, who were

mostly Buddhists, disliked Diem for his bias for the northern refugees and

challenged his government for its preferential treatment of Catholics. For

example, Catholic organizations received large amounts of money from the

government to build schools and churches. They also received special permission

to cut and sell lumber from the protected national reserve, and were granted

special commercial trade benefits. Buddhist organizations, on the other hand,

received no money from relief funds or special benefits from the government.

This type of mistreatment served to undermine the Diem government because it

alienated the Buddhist adherents of South Vietnam, which made up over 70% of

the entire South Vietnamese population.24

23 Sheehan, Bright Shining Lie, p. 137.

24 David Halberstam, The Making of a Quagmire (New York: Random House, 1965), p. 105.

14

The University of Southern Mississippi

Catholics who remained in the North the after Geneva Accords of 1954

faired far worse than their counterparts who fled to the South. Soon after the

Communists gained full control over North Vietnam, Catholic communities

became prime targets for persecution and oppression. Communist forces placed

priests under house arrest and closed Catholic churches all over the North. They

also singled out provinces that still held large Catholic populations for particularly

brutal atrocities during Ho Chi Minh’s land reform campaign.25 The treatment of

the remaining Catholics grew to be so harsh that open rebellion broke out in the

province of Nghe An in November of 1956. Thousands of Catholic villagers

began demanding to be sent to the South to join their Catholic brothers and sisters

who had fled in 1954. However, the North Vietnamese government responded to

the demand by sending its 325th Division to crush the rebellion. As a result, some

1,000 peasants were killed or wounded, and another 5,000 were arrested or

deported. 26 Because of the brutality of this incident, very few other villagers

dared to rebel against the North Vietnamese government or even talk publicly of

going to the South.

Aside from the Catholics, victims of Ho Chi Minh’s land reform campaign

also decided to move to the South after the Geneva Accords of 1954. These North

Vietnamese citizens decided to flee to the South because the Communist

government had already alienated them with their persecutory policies. They

hated the Communist régime because Vietminh cadres took their land and

25 Templer, Shadows and Wind, p. 266.

26 Michael Lind, Vietnam the Necessary War: A Reinterpretation of America’s Most Disastrous Military

Conflict (New York: Simon and Schuster, 1999) p. 151-156.

15

The University of Southern Mississippi

murdered many of their relatives. They also feared that the Communists would

continue to oppress them if they did not escape to the South while they had the

chance. Most of these evacuees were peasant land owners who owned as little as

two to three acres but had been wrongly classified by Communist cadres as

landlords. 27

Communist authorities in North Vietnam borrowed from the policies of

Joseph Stalin and Mao Tse-tung when they launched the land reform campaign in

March of 1953. They did so in order to gain the loyalty and support of the masses

of landless tenant farmers and poor peasants who made up the majority of the

population of North Vietnam. Communist cadres reasoned that they could win the

loyalty of the landless by declaring class warfare on rich landlords who had often

exploited their tenants in the past. When the Vietminh first launched its war for

independence in 1945, though, Vietminh cadres ignored the issue of class warfare

and focused their attention of gaining the support of all North Vietnamese citizens

in their war against the French. As the war progressed, however, the Vietminh

made the decision to launch the land reform campaign in order to provide the

tenant farmers with land of their own and create a supportive political base for the

rising Communist régime. 28

Ho Chi Minh’s Communist régime initiated the land reform campaign on

March 2, 1953, with the “promulgation of a Population Classification Degree that

divided North Vietnamese subjects into five categories: landlords, rich peasants,

27 Joes, War for South Vietnam, p. 32-33.

28 Buttinger, Embattled Dragon, p, 911-912.

16

The University of Southern Mississippi

middle peasants, poor peasants, and landless agricultural laborers.”29 This division

of the rural population into categories was designed to create a rift between the

richer and poorer classes so that the Communists could exploit the inequalities

between the classes and instigate class hatred and anger.30

In the second phase of the campaign, after dividing the rural population

into arbitrary categories, the Communists whipped up social tension by creating a

campaign of lies in which they enticed villagers to accuse the landlords and richer

peasants of various types of crimes such as theft, rape, and murder. According to

Hoang Van Chi, a witness to the land reform program, landlord denouncers

“could be roughly categorized into three categories. In the first were people who

were attracted by the promise of either in kind or in the form of political

privileges.” 31 The Communist cadres gained their cooperation by promising that

“those who denounce the most shall receive the most.”32 The second category

consisted of those who “wished only to protect themselves and avoid trouble.

They denounced in order to appear to be faithful and obedient to the party.” The

third category of denouncers “was those who denounced through fear.” These

denouncers did so because they were afraid that they would be seen as having a

“landlord spirit” or a connection to a “landlord,” so they denounced others in

29 Lind, Vietnam Necessary War, p. 151.

30 Ho Chi Minh, On Revolution: Selected Writings, 1920-1966, ed. by Bernard B. Fall (New York: Praeger

Publishing, 1967), p. 264-267.

31 Hoang Van Chi, From Colonialism to Communism: A Case History of North Vietnam (New York:

Praeger Publishing, 1964) p. 177.

32 Ibid.

17

The University of Southern Mississippi

order to show that they were against the landlords. 33 Through this denunciation

program, some truly exploitative landlords were pointed out to the communist

cadres, but most of those denounced were not true landlords, nor rapists or

thieves. In fact, many of the accused did not even fit into the “landlord” category.

They were simply small landowners who owned as little as two to four acres of

land. However, this fact was irrelevant to the Communist cadres because they had

a quota to fill and there simply were not enough true landlords to fill that quota. 34

(A People’s Agricultural Reform Tribunal in session.)35

Once the cadres received enough accusations to fill their quotas, they

called “People’s Agricultural Reform Tribunals” to determine the fate of accused

landlords. These tribunals “consisted of all the poor and landless of a village and

the trials became mass meetings dominated by people whose chances of obtaining

33Ibid.

34 Buttinger, Embattled Dragon, p. 912.

35 Dmitri Baltermants, “Khon Nha Dai Cho.” Saigon USA Newspaper 25 December 2005.

http://www.saigonusanews.net/binhluan/bl_khonnhadaicho.htm

18

The University of Southern Mississippi

land increased with every new conviction.”36 Thus, once a villager became

accused of being a landlord, he or she had no chance of receiving a fair trial. After

determining that the victim was guilty, the tribunal then moved on to the

punishment phase of the trial. Sentences imposed by the tribunal generally varied

from “the death penalty to five years’ hard labor, with the confiscation of part or

the whole of the prisoner’s property.”37 Those who received death sentences were

generally shot immediately after a tribunal passed the sentence. In fact, in many

cases, villagers dug the graves before the tribunal even began. Bui Tin, a North

Vietnamese war hero turned party defector described the whole trial process as

follows: “In their (tribunal members’) hands the power of life and death was

absolute…There were no lawyers, and in fact there was no law. Sentences were

carried out by a rifle section from local guerillas who were landless peasants with

no relatives among the middle peasantry or landlords…They were shot having

been condemned by what amounted to kangaroo courts, although they were called

People’s Tribunals. 38 Through this process, the People’s Agricultural Reform

Tribunals executed some 25,000 to 50,000 villagers for being landlords.

36 Ibid.

37 Hoang Van Chi, Colonialism to Communism, p. 188-189.

38 Bui Tin, Following Ho Chi Minh: The Memoirs of a North Vietnamese Colonel, trans. by Judy Stowe and

Do Van (Honolulu: University of Hawaii Press, 1995), p. 26-29.

19

The University of Southern Mississippi

(The execution of a “landlord” at the hands of a People’s Agricultural

Reform Tribunal.)39

Because the land reform campaign began in 1953, while the French-

Indochina War was still going on, the Communists were only able to institute the

reforms in areas that they fully controlled. Therefore, by the time the Geneva

Accords were signed, in May of 1954, the reform program had only just begun to

affect the countryside. However, many of the villagers who were exposed to the

39 Baltermants, “Khan Nha Dai Cho.” Saigon USA Newspaper.

20

The University of Southern Mississippi

reforms before the Geneva Accords took the opportunity to flee the North because

they were horrified by the actions of the Communist cadres. Thus, many of the

survivors and family members of those who were persecuted by the land reform

campaign saw the three-hundred-day moving period as an opportunity to escape

the oppressive Communist régime before it gained complete control of North

Vietnam.40

One North Vietnamese villager who witnessed the atrocities of the land

reform campaign and chose to leave the North was Vu Van Giai, a native of Nam

Dinh Province, in the Red River Delta. The Communists declared Giai’s family as

landlords and they became a target of the land reform campaign despite the fact

that they only owned a couple of acres of land. According to Giai, the

Communists denounced his family as “high and mighty landlords,” and would

come into the village at night to harass his and other “landlord” families.

Eventually, the Communists arrested his brother and sent him to jail. Giai himself

escaped the Communists’ wrath when his mother sent him to Hanoi to live with

an uncle. A few years after coming to Hanoi, Giai joined the Vietnamese National

Army, antecedent to the ARVN, and went to the South after the Geneva Accords.

41

40 Hosmer, Vietcong Repression, p. 95-100.; James P. Harrison, The Endless War: Vietnam’s Struggle for

Independence (New York: Columbia University Press, 1989), p. 149-151.

41 Vu Van Giai, Personal Interview. 12 August 2005

21

The University of Southern Mississippi

(Vu Van Giai at the time of enlistment.)42

Much like the victims of the land reform campaign, political dissidents

also saw the three-hundred-day period after the Geneva Accords as an opportunity

to escape persecution by the Communist régime. Many of these North Vietnamese

citizens chose to move to the South because the Communists had previously

threatened their lives because of their political views. They also hated Ho Chi

Minh and the Vietminh because the Communists had made an attempt to kill all

non-Communist political leaders when Ho Chi Minh made initiated political

purges to consolidate his power over North Vietnam. Vietminh assassins also

targeted members of the Communist Party who had challenged Ho’s rule or

disagreed with the policies of the party. Many of the people who survived the

purges, and the families of those who did not, chose to flee to the South with the

Catholics and the land reform victims because they too felt that their lives were in

jeopardy if they remained in the North.

42 Vu Van Giai, Personal photograph. 12 August 2005.

22

The University of Southern Mississippi

Members of political organizations such as the Viet Nam Quoc Dan Dang

(VNQDD) and the Dong Minh Hoi, both non-Communist nationalist groups

associated with Chinese, became targets of the Vietminh during the late 1940’s

and early 1950’s when Ho Chi Minh began consolidating his power. Members of

these two parties and numerous other political parties opposed Communist rule in

Vietnam, and sought to stop the Communists from taking power. These political

opponents of Ho Chi Minh used various tactics in their attempts to undermine the

Communists, but they were not successful in doing so because the Communists

responded to their opposition with violence. For example, the pro-Chinese

VNQDD and Dong Minh Hoi published several newspapers, distributed political

tracts, and broadcast anti-Vietminh propaganda on loudspeakers throughout

Hanoi during Chinese occupation of the North after World War II. However, once

the Chinese left, the Vietminh unleashed a vicious wave of violence and

assassination that was designed to liquidate these opposition parties.43

Once the Vietminh had successfully decimated the VNQDD, Dong Minh

Hoi, and other political parties, they forced them to join the Lien Viet (Popular

National Front Party), which served as an umbrella political organization that

united all nationalist political organizations under the control of the Vietminh.

The Communists created the Lien Viet in order to gain complete control over the

actions of the other parties and to gain the support of the constituents of other

parties by creating the appearance that other parties within the Lien Viet were

supportive of the Vietminh’s actions. In order to gain the support of the masses,

43 Buttinger, Embattled Dragon, p. 355-356; Joseph Buttinger, Vietnam: A Political History (New York:

Praeger Publishers, 1968), p. 256-257.

23

The University of Southern Mississippi

the Vietminh portrayed the Lien Viet as a democratic political organization which

supported “independence and freedom” for all Vietnamese, “irrespective of race,

religion, or class.”44 However, the true nature of the Lien Viet was far different. In

reality, the Vietminh were not interested in the independence and freedom of all

Vietnamese people. In fact, politically active Vietnamese who refused to play the

Vietminh’s game and join the Lien Viet were portrayed as traitors to the cause of

independence and freedom and were generally marked for assassination. Also,

those who joined the Lien Viet but attempted to “disrupt the unity” of the party,

meaning challenge Communist authority, were quickly purged by assassination. 45

Ho Chi Minh and the Communist members of the Vietminh used these

tactics of terror and assassination throughout the years of the French War to hold

their political alliance together and maintain the support of the North Vietnamese

masses. For the most part, their strategy worked. However, by using assassination

and terror as their primary political tools, the Vietminh also succeeded in

increasing the numbers of bitter political enemies who stood against them.

Therefore, many of the survivors of these purges and waves of political violence

moved to the South after the Geneva Accords and continued to stand in

opposition to the Communist party.46

Many of the Vietnamese that chose to move to the South in 1954 were

forced to leave everything behind and flee once again when Communist forces

took over the South in April of 1975. The lucky ones escaped with the help of the

44 Buttinger, Embattled Dragon, p. 400-401

45 Ibid.

46 Hosmer, Viet Cong Repression, p. 97-98; and Harrison, Endless War, p. 106-107.

24

The University of Southern Mississippi

United States as Saigon fell on April 30. Those that were not evacuated by the

United States faced many daunting hardships. Some became boat people who

risked everything by attempting to escape in over-crowded fishing boats.

However, many other “undesirables” were simply unable to escape and faced

years of oppression and persecution in reeducation camps and prisons.

Bibliography

Buttinger, Joseph. Vietnam: A Dragon Embattled. 2 vols. New York: Praeger, 1967.

Buttinger, Joseph. Vietnam: A Political History. New York: Praeger, 1968.

25

The University of Southern Mississippi

Dunning, James F. Dirty Little Secrets of the Vietnam War. New York: St. Martin’s

Press, 1999.

Gutzman, Philip. Vietnam: A Visual Encyclopedia. London: PRC Publishing Ltd., 2002.

Halberstam, David. The Making of a Quagmire. New York: Random House, 1965.

Hammer, Ellen J. The Struggle for Indochina 1940-1955. Stanford, CA: Stanford

University Press, 1966.

Harrison, James P. The Endless War: Vietnam’s Struggle for Independence. New York:

Columbia University Press, 1989.

Herring, George C. America’s Longest War: The United States and Vietnam, 1950-1975.

Boston: McGraw Hill, 1979.

Hoang Van Chi. From Colonialism to Communism: A Case History of North Vietnam.

New York: Praeger, 1964.

Ho Chi Minh. On Revolution: Selected Writings, 1920-66. New York: Praeger, 1967.

Hosmer, Stephen T. Viet Cong Repression and Its Implications for the Future.

Washington D.C.: The Rand Corporation, 1970.

Joes, Anthony J. The War for South Vietnam. New York: Praeger, 1989.

Lind, Michael, Vietnam the Necessary War: A Reinterpretation of America’s Most

Disastrous Military Conflict, New York: Simon and Schuster, 1999.

Randle, Robert F. Geneva 1954: The Settlement of the Indochinese War. Princeton:

Princeton University Press, 1969.

Sheehan, Neil, A Bright Shining Lie: John Paul Van and America in Vietnam. New York:

Random House, 1988.

Templer, Robert. Shadows and Wind: A View of Modern Vietnam. New York: Penguin

Books, 1998.

Tin, Bui. Following Ho Chi Minh: The Memoirs of a North Vietnamese Colonel, trans. by

Judy Stowe and Do Van. Honolulu: University of Hawaii Press, 1995.

Topmiller, Robert. The Lotus Unleashed. Lexington, KY: The University of Kentucky

Press, 2002.

Vu Van Giai, Personal Interview. 12 August 2005.

26

The University of Southern Mississippi

27

The University of Southern Mississippi

Virginia at War, 1862. Edited by William C. Davis and

James I. Robertson, Jr. (Lexington, KY: University Press of Kentucky, 2007. vii +

243pp., preface, bibliography, index. $35.00 cloth).

William C. Davis and James I. Robertson have done another amazing job with the

recent release of the second installment of their 5-part Virginia at War series, Virginia at

War, 1862. This edited work consists of eight essays by imminent scholars in various

aspects of Civil War history, focusing on the all-important state of Virginia, the center of

the Confederacy and the Southern war effort. “Virginians emerged from the year 1861 in

much the same state of uncertainty and mild confusion as the rest of the Confederacy,”

write the editors, and “no individual and no aspect of Virginia life escaped the impact of

the contest.” The year 1862 would be a crucial year for Virginia, as the war worsened

and the strains of fighting it pressed on the state’s citizens. The impact on Virginians is

the main focus of this volume.

Despite its title, Virginia at War, 1862 is not a military history of the Civil War in

the state but a study of the effects of the conflict on Virginia society. However, the first

chapter, by John S. Salmon, provides an overview of the military situation in Virginia in

1862, centering on the rise of Robert E. Lee and Stonewall Jackson, as both emerged as

the Confederacy’s war heroes, all the while Union generals were going down to defeat.

28

The University of Southern Mississippi

Also in the realm of military history is Dennis Frye’s chapter on General Lee’s efforts to

rebuild his army after its near-disastrous defeat at Antietam in September 1862, where

roughly one-quarter of the Army of Northern Virginia was lost on the bloodiest day in

American history. Lee imposed strict order and discipline, and began a crackdown on

stragglers, a rigid policy which nearly doubled the size of his army in a few short weeks.

The remaining chapters deal with Virginia society and the war, a contest that

affected the state as no other would. Its citizens faced mounting taxes to pay for war,

increasing shortages of commodities, and compulsory military service, first imposed on

them by their own state government. To compound the problem, the Union army invaded

Virginia, yet again, in the spring of 1862. General John Pope issued several General

Orders that directly impacted Virginia’s citizens, with no respect for private property or

individual rights. Virginians viewed to be disloyal could be shot and have any property,

such as their own home, burned. The Confederate government vowed to retaliate in kind.

This was the kind of brutal warfare the state of Virginia faced on a daily basis.

Invading armies also brought battles, giving Virginians terrible carnage, wounded

men, and dead soldiers. The state’s citizens, as was the case in other areas of the

Confederacy, had to deal with this problem themselves. As armies moved away from a

battlefield, dead and rotting corpses were often left in their wake, which required burial

by local citizens, sometimes taking weeks and months, despite the horrid stench. Caring

for the wounded was an even more ominous task. For instance, 5,000 Confederates were

wounded at the Battle of Seven Pines in the spring of 1862, a number that overwhelmed

the few hospitals. To help alleviate the problem, many were placed in private homes.

Yet the women of Richmond cared for and treated them all. Its hardships such as these

29

The University of Southern Mississippi

that often get overlooked in basic military studies but this work masterfully paints the

gruesome portrait.

Rounding out the book, as with the first volume and all subsequent editions, is the

diary of Judith Brockenbrough McGuire, who published her day-by-day account of the

conflict, entitled Diary of a Southern Refugee during the War soon after the end of

hostilities. It has been edited for this volume by Dr. Robertson, who refers to this source

as a “rich blend of observations and opinions.” The inclusion of the diary does much to

pull the separate chapters together and put them in proper focus.

Like its predecessor, this latest volume in the Virginia at War series is wonderful

contribution to the understanding of the effects of the Civil War on Virginia and

Virginians. It is not a true military history, and readers who are interested in “nuts and

bolts” war studies will be sorely disappointed. Yet it is a work of War and Society, and

the editors have put together a masterful team who have created a superb book that

should be a lasting contribution to Civil War studies far into the future.

Ryan S. Walters

University of Southern Mississippi

30

The University of Southern Mississippi

Terror: How Israel Has Coped and What America Can Learn.

By Leonard A. Cole. (Bloomington, IN: Indiana University Press, 2007. xii + 224pp.,

prologue, charts, acknowledgements, bibliography. $24.95 cloth.)

In Terror: How Israel Has Coped and What America Can Learn, Rutgers

University Political Science Professor Leonard A. Cole explores the shattering impact of

recent, pervasive small-scale terrorist attacks on Israeli society. According to Cole, Israel

is better prepared to cope with terrorist attacks than any other nation in the world.

Through interviews and firsthand observations, Cole develops a deep understanding of

Israel’s uncanny ability to respond to and cope with terrorism on a regular basis. The

author also takes the study a step further, by exploring potential applications of Israeli

coping mechanisms in contemporary American society.

Cole bases his look at terrorism in Israel on the second Palestinian ‘intifada’

(‘uprising’). The term refers to the country’s sharp increase in small-scale terrorist attacks

that started in late 2000 and continues into the present. The vast majority of these attacks

are ‘suicide bombings’, perpetrated by Palestinians who want to drive the Israelis out of

the country. These attacks typically occur in public areas like buses, restaurants and

markets. Cole utilizes testimony from eyewitnesses, bombing survivors and family

31

The University of Southern Mississippi

members of victims to produce jarring vignettes of small-scale attacks throughout the

book.

According to Cole, Israel has responded to the violence of the second intifada in

several ways. As of 2006, a 400-mile West Bank Barrier prohibiting Palestinian access to

Jerusalem was sixty percent complete. The Israeli medical community has developed new

techniques for treating attack survivors under the ‘terror medicine’ umbrella. Trained

volunteer organizations allow Israeli citizens to take a direct role in helping with the

problem, as these groups often provide ‘terrorist-watch’ services in populated areas and

on-site assistance to victims in the aftermath of attacks. Many Israelis also participate in

therapy groups to cope with the climate of pervasive violence. Mandatory drills for

emergency units and health physicians are conducted to ensure that equipment and

mobilization are in proper working order. Despite the frequency and severity of

Palestinian attacks, the majority of Israeli citizens are determined to continue life-asusual

instead of living in constant fear.

In the eyes of the author, two factors led to Israel’s extensive preparation. First,

Cole argues that recent attacks have forced Israel to take preparation seriously. Israel’s

terrorism emergency teams have the fastest response time in the world because the

resources are widely utilized. Beyond forced preparation, Cole states that the small size

and population of Israel contribute to the country’s preparedness to cope with terrorist

attacks. Cole also notes that the religious bond among most Israeli citizens encourages

the majority of the population to contribute to volunteer-based efforts.

Although Cole spends the majority of the book exploring the second intifada’s

impact on Israel, he ties the study to American society by comparing the emergency

32

The University of Southern Mississippi

preparedness of the United States to that of Israel and highlighting potential ‘lessons’ that

could be learned from Israel’s situation. Cole repeatedly states that the United States is

ill-prepared for another terrorist attack. As he sees it, Americans need to abandon the

illusion of ‘safety’. The illusion exists because, unlike Israel, the United States has never

faced a barrage of small-scale attacks. Cole also suggests that American emergency

personnel take a cue from Israeli officials by embracing common sense instead of strict

protocol when coping with the aftermath of a terrorist threat; adherence to protocol often

bears confusion over leadership and reduces efficiency.

Unlike Nechemia Coopersmith’s exhaustive Israel: Life in the Shadow of Terror,

the book’s concise scope renders it accessible to most any academic audiences. Although

similar assessments of Israel’s coping ability appear in books like Ira Sharkansky’s

Coping with Terror: An Israeli Perspective, the consistent comparison to United States

policy lends Cole a new angle to explore. In Terror, Leonard Cole reflects an immense

respect for the Israeli ability to cope with ceaseless small-scale terrorism. The author

takes this study a step further with a direct comparison of weathered Israeli policy to

contemporary American policy. Cole’s Terror is an ideal read for anyone interested in the

impact of pervasive terrorism on society.

Wesley Tyler French

University of Southern Mississippi

33

The University of Southern Mississippi

Pershing: General of the Armies by Donald

Smythe. (Bloomington: Indiana University Press, 1986. Reprint, 2007. xv + 399 pp,

maps, illustrations, photos, index, bibliography. $21.95.)

Pershing: General of the Armies is a reprint of Donald Smythe's work with a new

introduction by Spencer C. Tucker. Smythe was Professor of History at John Carroll

University in Cleveland, and lectured at the Army War College and the National War

College. The author of the new introduction is Spencer C. Tucker. He hopes that this

reissue will inspire future military officers and provide greater understanding of

America’s role in the First World War. First published in 1986, the 2007 reissue is a

timely release to foster further interest in the devastating conflict of 1914-1918. Smythe

is recognized as the preeminent biographer of John J. Pershing. The 2007 reissue is the

second book of Smythe's two volume set on the life and career of Pershing. The second

volume, Pershing: General of the Armies, focuses on Pershing's role as leader of the

American Expeditionary Force (AEF).

Smythe provides a brief accounting of Pershing's life before becoming head of the

AEF in May 1917. The bulk of the book deals with Pershing's role as leader of the AEF

and the trials and tribulations that came with such a job. The tale of Pershing's command

34

The University of Southern Mississippi

is also one of America asserting her status as a major world power. The United States

experienced many growing pains during the war but the experiences gained served

American interests in the training of future officers. Smythe writes for an eye for detail,

seemingly omitting nothing and yet omitting superfluous details. The words and chapters

maintain a constant flow, propelling the reader on and maintaining interest in the subject.

Smythe's descriptions transport the reader to the places Pershing stood and can feel what

Pershing felt. Pershing: General of the Armies is a masterful blend of style and content.

Smythe describes not only what Pershing did but who Pershing was as both soldier and

American symbol.

The chapters are laid out chronological. All thirty-six chapters flow together,

except for chapter twenty-seven. This chapter is titled “A Portrait of Pershing (1917-

1948)”. The continuous flow of the book is interrupted as Smythe provides a brief, one

chapter summary of Pershing during the time frame indicated. Chapter twenty-seven

would be better suited at the beginning or end but not in the middle of the work. The

break in continuity can be distracting but this remains one of a few oversights in an

excellent book.

Pershing: General of the Armies contains easy-to-read chapters with many

explanatory maps, drawings, and supplimentary aids. Smythe does not hold Pershing

blameless vis-a vis the World War I learning curve. The curve for Pershing focused upon

trying to build an army where there had been none before. Smythe portrays the reality of

war with leaders learning as they go. The AEF was not without troubles in developing

proper tactics for supply and operations, supply being the chief concern. Symthe weaves

the successes and failures of Pershing with the successes and failures of the AEF.

35

The University of Southern Mississippi

Smythe emphasizes Pershing's troubles with fellow Allied commanders, both political

and military. He also faced criticism and difficulties from his countrymen, mainly the

military establishment. Smythe also describes Pershing’s post-war life and his efforts to

secure a stronger peacetime Army.

Smythe does not hide the fact that this is a hugely pro-American work. In many

instances he adds quotes from various figures stating that the war would not have been

won without American intervention. Other scholars may dispute Smythe’s bias but he

does provide a highly convincing body of evidence. Throughout Pershing: General of

the Armies readers can read about the uphill battle faced by Pershing and the AEF in

establishing the American presence in France. The pro-American emphasis is justified

and contributes to the power of and grandeur of Pershing: General of the Armies.

Smythe wrote a timeless work about General Pershing, a book that provides lessons to

future generations of soldiers and civilians alike about pride, honor, dignity, and the

American spirit.

Smythe’s work is the definitive work on General Pershing, with Frank E.

Vandiver’s Black Jack: The Life and Times of John J. Pershing coming a close second.

Both authors present excellent biographies of General Pershing but Smythe’s work is

more readable and better organized. The reprint of Pershing: General of the Armies

stands as testament to Smythe’s skill as a historian and should remain the definitive work

on General Pershing for many years to come.

Jason M. Sokiera

University of Southern Mississippi

 


Tai Lieu Mat cua CSVN

LTS.- Đây là một tài liệu tối mật vừa được chuyển ra hải ngoại.
Những điều viết trong tài liệu này đã được CSVG áp dụng thi hành trong và ngoài nước từ 33 năm nay và tại miền Băc từ năm 1954. Rất mong các cộng đồng người tỵ nạn khắp nơi tại hải ngoại nghiên cứu để tìm cách bẻ gãy nghị quyết 36 của VGCS. Đặc biệt với người Việt Nam trong nước đang tranh đấu cho dân chủ tự do cho quê hương nên học hỏi thêm để tìm cách tránh né những mưu mô gian xảo của nhóm Việt Gian bán nước này.

Tài-liệu Mật của Việt Cộng Báo cáo trong cuộc họp mặt kiều vận
Nguyễn Tâm Bảo * Lưu trữ theo chế độ tài liệu tuyệt mật.

Thưa các đồng chí,
Đảng quang vinh của chúng ta muốn tồn tại và phát triển, giữ vai trò là đảng tiên phong và duy nhất lãnh đạo đất nước, thì có mấy mục tiêu quan trọng sau đây phải được quan tâm đúng mức:

1. Phải làm cho dân chúng vừa yêu vừa sợ.
Nếu không thể làm cho người dân yêu mến – điều mà tôi e là sự thật cay đắng cần chấp nhận – thì cũng phải tuyệt đối duy trì nỗi sợ hãi để họ không bao giờ có đủ ý chí mà nổi loạn.

2. Phải giữ cho cái gọi là 'phong trào dân chủ đối lập' không thể trở thành phong trào đúng nghĩa, không thể bén rễ và lan rộng.
Phải làm sao để nó chỉ là hoạt động manh mún, rời rạc, tự phát của các cá nhân đơn lẻ làm cho có nhiều 'lãnh tụ' mà ít hoặc không có quần chúng; có nhiều 'nhân sĩ trí thức' mà ít hoặc không có một tổ chức nào có thực lực; có nhiều những hoạt động lãng mạn hời hợt có tính phô trương – mà người dân có biết đến cũng chỉ mỉm cười ý nhị – chứ ít hoặc không có những hoạt động thiết thực có tầm mức ảnh hưởng sâu rộng đến xã hội; có thật nhiều những hoạt động 'chống cộng cực đoan' có tính chất phá hoại từ bên trong, gây phản cảm đối với người dân lao động, thậm chí làm cho những gia đình cách mạng và đội ngũ cựu chiến binh phẫn nộ… Tóm lại, phải làm cho người dân nếu không quay lưng thì cũng thờ ơ với cái gọi là 'đấu tranh dân chủ'. Cụ thể như thế nào thì tôi đã có dịp trình bày..

3. Phải chủ động trong việc nâng cao dân trí để làm bàn đạp mà phát triển kinh tế, nhưng lại phải lèo lái để 'dân trí cao' không đồng nghĩa với 'ý thức dân chủ cao'.
Phải làm sao để chất lượng giáo dục bậc đại học được cải thiện nhưng đa số sinh viên phải trở nên thực dụng hơn, có tinh thần 'entrepreneurship' – khao khát tiền bạc và công danh, mạo hiểm và sáng tạo trong kinh doanh, cầu tiến trong sự nghiệp riêng, tôn thờ Bill Gates và chủ nghĩa tiêu thụ – nhưng đồng thời cũng tuyệt đối thờ ơ với những lý tưởng và hoài bão cải biến xã hội, xa lạ với những tư tưởng trừu tượng viễn vông, tìm kiếm những giải pháp cá nhân thay cho ý thức công dân, và đặc biệt là tránh xa âm mưu thay đổi chế độ.

4. Phải chủ động trong việc mở rộng xã hội dân sự, thuần phục và trung hòa giai cấp trung lưu đang lớn mạnh (gọi là 'co-optation' )…
Làm sao để trong mỗi tổ chức dân sự đều có chân rết của ta. Các tổ chức trung gian như mặt trận Tổ quốc, công đoàn, hội phụ nữ, các hội cựu chiến binh, các câu lạc bộ hưu trí… phải phát huy vai trò tối đa trong việc trung hòa những nhân tố nguy hiểm, điều hòa những xung đột nếu có giữa nhà nước và xã hội, giảm thiểu sự bất mãn của dân chúng… Làm sao để xã hội dân sự vẫn được mở rộng nhưng theo hướng có kiểm soát của chúng ta, chứ không trở thành mối đe dọa. Quan trọng hơn cả là chúng ta phải tiếp tục nuôi dưỡng nỗi sợ hãi – dù chỉ là nỗi sợ mơ hồ trong tiềm thức – nhưng đồng thời cũng không để cho nhân dân cảm thấy tuyệt vọng..

Cho dù người dân có bất mãn về chuyện này chuyện kia thì vẫn làm cho họ nuôi hy vọng vào một tương lai tốt đẹp hơn.
Và phải làm điều này một cách hết sức tinh vi, kiên nhẫn, đôi lúc phải can đảm cắt bỏ những khối u trong đảng để làm nguội bớt nỗi tức giận của nhân dân.
Trong trường hợp này thì việc thả Nguyễn Việt Tiến và việc bắt giam hai nhà báo là sai lầm. Lẽ ra chúng ta phải không tiếc một số ít các đồng chí tham lam quá mức, biến họ thành dê tế thần để giành lại niềm tin của nhân dân, hoặc ít nhất cũng làm họ giảm bất mãn, trong nỗ lực chống tham nhũng của chúng ta.

Một người bất mãn cực độ là một người nguy hiểm. Một người tuyệt vọng đôi khi còn nguy hiểm hơn.. Một người lạc quan, nhiều hy vọng, thì thường cũng là một người dễ bảo, yêu chuộng sự ổn định và do đó không có ý định phản kháng. Chúng ta phải biết dùng mồi để nhử, đánh vào thói tham lam ích kỷ lẫn thói háo danh của người đời, vừa phải làm sao để tinh thần thực dụng và chủ nghĩa mánh mung chụp giật trở thành bản tính của dân tộc – vốn đã rã rời về ý chí, tan vỡ về niềm tin, chán ngán các loại ý thức hệ nhưng đồng thời cũng phải chuẩn bị sẵn những cái van để dân chúng có chỗ giải tỏa ẩn ức.

Tuyệt đối không để sự bất mãn trong xã hội tích tụ lại vượt quá ngưỡng kiểm soát của chúng ta. Kiên quyết tiêu diệt mọi mầm mống có khả năng dẫn đến các loại hoạt động đối kháng có tổ chức, có sự phối hợp rộng rãi; tuyệt đối ngăn chặn khả năng huy động được đông đảo quần chúng tham gia.

Chúng ta phải nghiên cứu tất cả những tư tưởng gia vĩ đại trong việc chiếm đoạt quyền lực và duy trì vị trí độc tôn, từ Tôn Tử, Ngô Khởi, Trương Tử Phòng, Lý Tư… và Mao Trạch Đông ở phương Đông, cho đến Machiavelli – tác giả cuốn cẩm nang 'The Prince' nổi tiếng ở phương Tây, thậm chí cả Napoleon, Hitler, Stalin… hoặc Hugo Chavez thời nay. Tất cả đều có những điều rất đáng để chúng ta học hỏi, từ nghệ thuật mị dân cho đến những thủ đoạn cứng – mềm linh hoạt trong việc đối phó với địch, và cả những sai lầm chiến thuật của các vị này.

Phải làm sao để chúng ta vẫn trấn áp được đối lập dân chủ, nhưng vẫn không làm sứt mẻ quan hệ ngoại giao đang ngày một tốt hơn với Hoa Kỳ và phương Tây – vốn là những kẻ đạo đức giả, duy lợi và thực dụng nhưng thích rao bán tấm áo 'dân chủ tự do' cùng với những khẩu hiệu cao đẹp khác.
Tuy nhiên, chúng ta cần phải khái quát những luận điểm của achiavelli để có thể áp dụng cho một chế độ, một đảng phái có cơ cấu phức tạp, chứ không phải là một nhà độc tài quân phiệt giản đơn.
Một nhà độc tài dù tàn độc đến đâu, ranh ma đến đâu, thì cũng chỉ là một kim tự tháp trên sa mạc, tĩnh lặng và không tiến hóa – nên trước sau cũng sẽ để lộ sơ hở chết người. Nhưng một đảng chuyên quyền thì luôn luôn biến động, thay đổi và lớn lên không ngừng; biết bù đắp khiếm khuyết, che dấu yếu điểm, phô trương sức mạnh một cách vô cùng linh động… và đặc biệt có đủ tài lực và nhân lực để lan tỏa chân rết đến mọi ngõ ngách của xã hội, kiểm soát cả dạ dày lẫn linh hồn của nhân dân.

Bác Hồ (hay có thể là bác Lê Nin) đã dạy: người cách mạng phải không ngừng học hỏi, học từ nhân dân và học từ kẻ địch; phải không ngừng tiến hóa về mặt tư duy lẫn thủ đoạn để sống sót mà vươn lên trong bất cứhoàn cảnh nào; phải luôn uyển chuyển và linh động để sẵn sàng thay máu đổi màu khi cần thiết, thậm chí sẵn sàng đào thải cả những đồng chí quá tham lam và ngu dốt có hại đến lợi ích chung của đảng. Đối với địch thủ thì phải thiên biến vạn hóa, ranh ma tàn độc đủ cả… và đặc biệt phải biết dùng hình nộm kết hợp với thủ đoạn đấu bò tót kiểu Tây Ban Nha để thu hút ám khí và sừng bò của đối thủ.

Trong lúc đối thủ tiêu hao lực lượng vì đánh vào những hình nộm rơm, hoặc phung phí thời gian và sức lực vào những mục tiêu viễn vông, thì chúng ta lạnh lùng quan sát, phân tích thấu đáo địch tình, ra đòn bất ngờ và hợp lý để địch chết không kịp ngáp. Đặc biệt chúng ta ngầm khuyến khích những hành động tự sát theo kiểu 'không thành công cũng thành nhân' – tất nhiên là phế nhân. Chúng ta cũng phải biết lắng nghe những phê phán của địch thủ mà thay đổi cho thích hợp. Kẻ đối địch luôn có những bài học quí giá mà chỉ có những người bản lĩnh và khôn ngoan mới nhìn ra. Nếu kẻ địch lãng mạn viễn vông với những khẩu hiệu trừu tượng như 'dân chủ', 'nhân quyền', 'tự do' … thì chúng ta phải thực tế với những tiêu chí cụ thể như 'ổn định xã hội', 'tăng trưởng kinh tế', 'xóa đói giảm nghèo'…

Nếu kẻ địch hô hào những điều khó hiểu du nhập từ phương Tây như 'đa nguyên', 'đa đảng', 'pháp trị', 'khai phóng'… thì chúng ta phải tích cực cổ vũ mô hình Nhân Trị của đấng Minh Quân – nhưng ở đây Minh Quân phải được hiểu là đảng cộng sản – cũng như đề cao những 'giá trị Á châu' một cách khéo léo.

* Phát Huy dân chủ cơ sở - tập trung Chúng ta cũng phải phát huy 'dân chủ cơ sở', 'dân chủ tập trung', 'dân chủ trong đảng'… để làm sao cho dân thấy đảng không phải là cái gì đó cao xa vời vợi, mà đảng cũng là dân, ở ngay trong dân, từ dân mà ra, đã và đang đồng hành cùng với dân.

Phải cho dân thấy là nếu đảng có xe hơi thì dân cũng có hon đa – chứ không phải đi bộ nếu đảng có đô la thì dân cũng có tiền in hình Bác đủ tiêu xài – chứ không quá túng thiếu; nếu đảng có cao lương mỹ vị thì dân cũng có gạo ăn – không chết đói mà còn dư thừa để đem xuất khẩu.

Đặc biệt là phải tích cực tuyên truyền và giải thích để người dân hiểu được ý nghĩa của 'dân chủ' theo cách có lợi cho chúng ta: 'dân chủ' nghĩa là đảng luôn lắng nghe dân, phản ánh ý nguyện của dân (phần nào thôi) qua những chính sách vĩ mô và vi mô, thỏa mãn niềm tự ái của dân vì được dạy dỗ đảng, cũng như kích thích lòng tự hào dân tộc của dân để hướng nó vào những kẻ thù mơ hồ dấu mặt ở bên ngoài.
Đối thủ của chúng ta thường lãng mạn và nhiều nhiệt tình nhưng ít chịu học hỏi, hoặc nếu có học thì chỉ qua quýt đủ để thuộc lòng những khẩu hiệu trừu tượng như 'nhân quyền', 'dân chủ'… rồi nhai đi nhai lại làm dân chúng phát nhàm. Nói chung, đối thủ của chúng ta thường chỉ biết đến một số cuốn cẩm nang về dân chủ có ngôn từ rất kêu, rất đẹp, nhưng nghèo nàn về phương pháp thực tế, lẫn lộn giữa cứu cánh và phương tiện.

Ngược lại, chúng ta cần phải tích cực nghiên cứu sâu sắc những trước tác của các học giả phương Tây về khoa học chính trị và kinh tế học. Chúng ta phải nhận thức được đã có rất nhiều những nghiên cứu khoa học về mối quan hệ biện chứng giữa 'thể chế chính trị' và 'phát triển kinh tế'.

Hai phạm trù 'dân chủ' và 'phát triển' có quan hệ hết sức phức tạp, phi tuyến, chứ không phải là quan hệ nhân – quả. Nghiên cứu kỹ về vấn đề này sẽ rất có lợi cho chúng ta trong việc chủ động phát triển kinh tế mà không cần phải 'dân chủ hóa'.
Chúng ta cũng phải nhìn nhận một thực tế là: phát triển kinh tế làm phát sinh một số yếu tố hiểm nguy cho chế độ. Tuy nhiên, điều này còn tùy thuộc vào hoàn cảnh cụ thể, tùy thuộc vào khả năng 'tháo ngòi nổ' của chúng ta, cũng như khả năng khai thác những yếu tố hiểm nguy này của đối lập dân chủ.

Chẳng hạn, học giả Daron Acemoglu của đại học MIT danh tiếng đã có nhiều phân tích về 'nguồn gốc kinh tế của các chế độ độc tài và dân chủ'. Trong đó ông đã chỉ ra rằng phát triển kinh tế kèm theo việc phân bố của cải vật chất một cách tương đối công bằng, đồng thời với việc nới lỏng một cách chừng mực những tự do dân sự, thì bất mãn của xã hội sẽ không quá cao, do đó hoàn toàn có thể duy trì chế độ độc tài mà vẫn thúc đẩy kinh tế phát triển. Đó là trường hợp của Singapore, điển hình của một nhà nước độc tài sáng suốt.

Một ví dụ nữa là những nghiên cứu của Bruce Bueno de Mesquita, đã chỉ ra cho chúng ta những kinh nghiệm quí báu trong việc đàn áp cái gọi là 'coordination goods', tức là những yếu tố vốn không ảnh hưởng đến tăng trưởng kinh tế, nhưng nếu được vận dụng bởi đối lập dân chủ thì lại trở thành những vũ khí đáng sợ. Đó là nghệ thuật 'đàn áp có chọn lọc' mà tôi đã có dịp phân tích.

* Giới trẻ và sinh viên học sinh
Một kết quả bất ngờ mà theo tôi cũng là một kinh nghiệm quí trên mặt trận tuyên truyền nhồi sọ: việc chúng ta bắt ép sinh viên phải học tập chủ nghĩa Marx – Lenin và tư tưởng Hồ Chí Minh đã đem lại những kết quả ngoài mong ước..

Thành công của chúng ta không phải đã đạt được mục đích ban đầu là làm cho thế hệ trẻ tôn thờ thứ chủ nghĩa mà ngay cả chúng ta cũng không tin. Ngược lại, thành công của chúng ta là đã làm cho thế hệ trẻ chán ngán đến tận cổ khi phải học mãi một thứ ý thức hệ lỗi thời, bị nhồi nhét đến phản cảm những tư tưởng cũ kỹ. Nhờ vậy chúng ta đã đào tạo ra một thế hệ trẻ thờ ơ vô cảm với tất cả các loại tư tưởng và ý thức hệ, chai sạn với lý tưởng và hoài bão mà thanh niên thường có, trở nên thực dụng và ích kỷ hơn bao giờ hết.

Thế hệ trẻ hôm nay, ngoài cái đức tính thực dụng và tinh thần chụp giật, cũng như niềm khao khát tiền bạc, công danh, ám ảnh bởi chủ nghĩa hưởng thụ, thì chỉ còn le lói 'tinh thần dân tộc' vẫn còn sót lại trong máu huyết của mỗi người Việt.
Đây là con dao hai lưỡi, là con giao long đang nằm yên, mà chúng ta cần phải biết lèo lái một cách khôn ngoan để không xảy ra một tiểu Thiên An Môn ở Ba Đình.
Dưới chế độ chuyên chế nào cũng vậy, sinh viên và trí thức trẻ luôn luôn là những kẻ nguy hiểm nhất, là ngòi nổ của quả bom, là kíp mìn hẹn giờ, là hạt nhân của các phong trào đấu tranh. Các cuộc cách mạng nhằm lật đổ chế độ độc tài bao giờ cũng do sinh viên và trí thức dẫn đầu; công nhân, nông dân, và các tầng lớp lao động khác chỉ là sức mạnh cơ bắp. Chỉ có trí thức và sinh viên mới đủ lý luận để huy động được đông đảo quần chúng, mới có lý tưởng để dấn thân, và mới có khả năng tổ chức và phối hợp.

Triệt tiêu được những phong trào sinh viên, cô lập được những trí thức phản kháng, chính là đánh vào đầu não chỉ huy của địch.
Những thứ còn lại như 'dân oan biểu tình', 'công nhân đình công'… chỉ là cơ bắp của một cơ thể đã bị liệt não.
Như trên đã nói, chúng ta đã thành công trong việc làm cho sinh viên trở nên lãnh cảm về các loại ý thức hệ, thờ ơ với những tư tưởng tự do khai phóng từ phương Tây. Chúng ta chỉ còn phải đối phó với tinh thần dân tộc của sinh viên đang có nguy cơ thức dậy, mục đích là để nó ngủ yên, nếu không phải lèo lái nó theo hướng có lợi cho chúng ta.

* Trí thức

* Đối với tầng lớp trí thức, những biện pháp 'vừa trấn áp vừa vuốt ve' từ xưa đến nay đã đem lại kết quả khả quan..
Chúng ta đã duy trì được một tầng lớp trí thức hèn nhát, háo danh, và nếu không quá ngu dốt thiển cận thì cũng chỉ được trang bị bởi những kiến thức chắp vá, hổ lốn, lỗi thời.

* Nói chung, đa số trí thức của chúng ta đều hèn, đều biết phục tùng theo đúng tinh thần 'phò chính thống' của sĩ phu xưa nay. Phần lớn những kẻ được coi là trí thức cũng mang nặng cái mặc cảm của việc học không đến nơi đến chốn, ít có khả năng sáng tạo, và so với trí thức phương Tây về cả tri thức lẫn dũng khí đều cách xa một trời một vực.

* Trí thức của chúng ta vẫn mãi mãi giữ thân phận học trò, kiểu sĩ hoạn mơ ước được phò minh chủ, hanh thông trên đường hoạn lộ, chứ không bao giờ vươn lên thành những nhà tư tưởng lỗi lạc.

* Tầm mức ảnh hưởng của trí thức đến xã hội không đáng kể, không dành được sự kính trọng từ các tầng lớp nhân dân, thậm chí còn bị người đời khinh bỉ bởi sự vô liêm sỉ và thói quen ném rác vào mặt nhau.

* Chỉ có một số ít trí thức vượt qua được cái vỏ ốc hèn nhát, nhưng thường là quá đà trở nên kiêu ngạo tự mãn, coi mình như núi cao sông sâu, là lương tâm thời đại. Những người này quả thật có dũng khí, nhưng cũng không đáng sợ lắm bởi đa phần đều có tâm mà không có tài, có đởm lược mà ít kiến thức.

* Đa phần trong số này cũng chỉ đến khi về hưu mới thu gom được dũng khí mà ra mặt đối đầu với chúng ta, do đó sức cũng đã tàn, lực cũng đã kiệt. Một số ít trẻ trung hơn, nhiệt huyết còn phương cương, thì lại chưa có kinh nghiệm trường đời, chưa được trang bị lý luận chu đáo, chưa có kiến thức về dân chủ sâu rộng. Với những kẻ này chúng ta đàn áp không nương tay, bỏ tù từ 3 đến 7 năm. Đó là phương cách giết gà từ trong trứng.

Thử tượng xem một tài năng trẻ phải thui chột những năm tháng đẹp nhất của cuộc đời trong lao tù, cách ly với môi trường học vấn, gặm nhấm nỗi cô đơn thay cho việc học hành nghiên cứu, thì sao có thể phát triển hết khả năng? Khi ra tù thì cũng đã quá tuổi trung niên, mệt mỏi, chán chường. Nếu vẫn còn dũng khí thì cũng đã tụt hậu về kiến thức, bị trì néo bởi gánh nặng gia đình, còn làm gì được nữa?
------------ --------- --------- ---

Với những phân tích như trên tôi cho rằng chế độ của chúng ta vẫn còn bền vững ít nhất thêm hai mươi năm nữa.

Nhưng thời thế đổi thay. Chúng ta không thể kiêu ngạo mà tin rằng sẽ trường tồn vĩnh viễn..Chúng ta luôn học hỏi và thay đổi để sống còn và vươn lên, nhưng cũng nên biết rằng đối thủ của chúng ta có lẽ cũng không quá ngu ngốc.

Nếu kẻ địch cũng nhìn ra được mạnh – yếu của chúng ta, cũng biết tự đổi thay để thích nghi, cũng biết học cách đấu tranh có phương pháp, có tổ chức, có chiến lược… thì chuyện gì sẽ xảy ra sau hai mươi năm nữa thật khó mà biết được.
Đó là một cuộc đua đường trường mà kẻ nào dai sức hơn, bền chí hơn, khôn ngoan hơn, thì sẽ đến đích trước.

Chúc các đồng chí chân cứng đá mềm và luôn nhớ lời dạy của Hồ Chủ Tịch:
'Khó khăn nào cũng vượt qua, Kẻ thù nào cũng đánh thắng'.

Credit for:
http://www.canhthep.com/modules.php?...key=1242568253

Nhận Định về Những Sai Lầm Tai Hại của Đảng CSVN

Nhận Định Về Những Sai Lầm Tai Hại Của Đảng CSVN Đối Với Dân Tộc và Phật Giáo Việt Nam

Hoà Thượng Thích Quảng Độ

 

1.- ĐỐI VỚI DÂN TỘC

Ai cũng biết, chủ nghĩa Cộng sản do Karl Marx hoàn thành nhằm tiêu diệt chủ nghĩa Tư bản trên toàn thế giới, và sau cuộc chiến tranh thế giới lần thứ nhất, Lê nin đã thành công trong việc thiết lập chế độ cộng sản tại nước Nga vào năm 1917. Kể từ đó, nhất là sau đại chiến thế giới lần thứ hai và bắt đầu cuộc chiến tranh lạnh, thế giới đã chia làm hai phe rõ rệt là Cộng sản và Tư bản đối nghịch nhau một cách không khoan nhượng. Phe cộng sản nhằm "đào mồ chôn sống phe Tư bản" để làm bá chủ thế giới, vì cộng sản là phong trào quốc tế.

Cộng sản chủ trương độc tài chuyên chính, do giai cấp công nhân lãnh đạo, gây căm thù đấu tranh giai cấp kẻ giàu người nghèo, hứa hẹn lấy của nhà giàu chia cho người nghèo để mang lại cơm no áo ấm cho họ và dùng cách mạng bạo lực để thực hiện mục đích ấy - sức mạnh phát ra từ nòng súng là châm ngôn. Cộng sản cũng chủ trương tiêu diệt tôn giáo, vì họ là những người vô thần duy vật, và tôn giáo đối với họ, cũng như Karl Marx đã nói, là "thuốc phiện" của loài người mà bọn Tư bản đã lợi dụng để ru ngủ nhân dân lao động hòng dễ bề bóc lột. Người dân Nga đã từng sống trong cảnh nghèo khổ và bị áp bức dưới chế độ Nga hoàng từ lâu, khi được nghe chủ trương và những lời hứa hẹn như trên đây thì tất nhiên là đã tán thành chủ nghĩa cộng sản, nhờ thế mà cộng sản đã thành công tại Nga.

Nhưng nói thế nhất thiết không có nghĩa là cái gì tốt cho nước Nga cũng sẽ tốt cho Việt Nam. Mỗi nước có những vấn đề riêng của nó và những vấn đề ấy phải được giải quyết theo bối cảnh lịch sử, văn hóa và phong tục tập quán của mỗi nước. Cái bất hạnh cho dân tộc Việt Nam là những người cộng sản Việt Nam đã không ý thức được điều đó.

Như vừa nói ở trên, thế giới đã chia làm hai phe Cộng sản và Tư bản, hễ ở đâu, nhất là các nước thuộc địa nhược tiểu ở Phi châu, Á châu và Mỹ châu La tinh mới giành được độc lập sau thế chiến thứ hai, theo Cộng sản thì Tư bản núp dưới chiêu bài "chống cộng sản để bảo vệ thế giới tự do" mà can thiệp vào công việc nội bộ của nước ấy. Cũng thế, nếu theo Tư bản thì Cộng sản lại cũng núp dưới chiêu bài "giải phóng dân tộc" để bành trướng chủ nghĩa cộng sản. Việt Nam là một trường hợp.

Sau chiến tranh thế giới lần thứ hai, hầu hết các nước thuộc địa ở Á châu đều được độc lập và đa số chẳng theo phe nào, cho nên dân các nước ấy được sống trong hòa bình để xây dựng đất nước và củng cố nền độc lập còn non trẻ của họ, chỉ có nước Việt Nam là khốn khổ vì chiến tranh tàn phá suốt hai mươi chín năm trời (1946-1975) là bởi những người cộng sản Việt Nam đã đưa vận mệnh của nước Việt Nam ràng buộc vào với sự sống còn và quyền lợi của phe cộng sản quốc tế. Giá như những người Việt Nam thời ấy không là cộng sản quốc tế mà vì dân tộc thật sự, như những Nehru của Ấn Độ, Sukarno của Nam Dương hay Nasser của Ai cập v.v.. thì dân tộc Việt Nam đã có thể tránh được hai mươi chín năm chiến tranh ý thức hệ Quốc Cộng tương tàn do các thế lực ngoại bang chi phối.

Năm 1946, thực dân Pháp trở lại Việt Nam với hy vọng chiếm lại thuộc địa cũ. Nhưng, như mọi người còn nhớ, sau thế chiến thứ hai, nước Pháp đã kiệt quệ, làm gì còn đủ khả năng để thực hiện giấc mơ ấy? Song phe Tư bản đã chi tiền của và súng đạn đề nhờ thực dân Pháp "ngăn chặn cộng sản tiến xuống vùng Đông Nam Á để bảo vệ thế giới tự do", vì Việt Nam là thuộc địa cũ của Pháp, cho nên người Pháp có lí do để trở lại hơn là các nước Tư bản khác trực tiếp nhảy vào. Ngược lại, cộng sản Việt Nam cũng kêu gọi toàn dân đứng lên chống đế quốc xâm lược để "bảo vệ tiền đồn của phe Xã hội chủ nghĩa". Thế là Việt Nam đã nghiễm nhiên trở thành đấu trường để hai phe Cộng sản và Tư bản đọ sức.

Để tạo cho mình một lí do chính đáng, người Pháp đã đưa cựu hoàng Bảo Đại về dựng lên một chính phủ Bảo hoàng chống cộng để bảo vệ độc lập quốc gia, dùng người Việt bắn giết người Việt, thế là cảnh "nồi da xáo thịt" bắt đầu và kéo dài mãi đến năm 1975 (sẽ nói sau). Khốn nỗi, bên cạnh những ông Bảo hoàng ấy là các ông mũi lõ, mắt thau, tóc quăn da đen, thì người dân Việt yêu nước nào mà tin được là các ông Bảo hoàng ấy "bảo vệ độc lập quốc gia"? Về điểm này, phe Cộng sản khôn hơn phe Tư bản, họ dùng ngay người bản xứ, họ chỉ cho vay tiền bạc, súng đạn và cố vấn ở hậu trường mà thôi, chứ họ không đưa quân lính các nước cộng sản khác đến trực tiếp chiến đấu ngoài chiến trường. Bởi thế, những người Cộng sản bản xứ đã tạo cho mình được cái vẻ "chính nghĩa chống ngoại xâm", cho nên tuyệt đại đa số nhân dân tin và hết sức ủng hộ họ vì lòng yêu nước. Vì lẽ đã tám mươi năm phải sống dưới ách thống trị của thực dân Pháp, bây giờ đánh đuổi quân Pháp để giành độc lập thì ai mà chẳng hoan nghênh và sẵn sàng hy sinh, cho nên cuối cùng Cộng sản đã thắng.

Sau cuộc thảm bại tại trận Điện Biên Phủ, người Pháp thấy không còn đủ sức theo đuổi chiến tranh, mà nếu cứ tiếp tục, thì rồi sẽ có thể mất luôn cả nước Pháp vì nợ nần chồng chất. Do đó, năm 1954, Pháp đã thỏa hiệp với cộng sản Việt Nam chia đôi nước Việt Nam theo hiệp định Genève, cắt từ vĩ tuyến 17 trở ra Bắc cho cộng sản để Pháp rút quân về, sau chín năm bắn giết đốt phá.

Sau khi Pháp rút đi, cộng sản tiếp thu Hà Nội và cai trị toàn miền Bắc, bắt đầu thực hiện chủ nghĩa cộng sản (mà trong thời kháng chiến chưa dám làm vì sợ mất lòng dân) và chuẩn bị cho cuộc căm thù đấu tranh giai cấp, tức là đã đánh đuổi được kẻ thù bên ngoài rồi, bây giờ phải thanh toán những kẻ thù bên trong. Những kẻ thù bên trong ấy là ai ? Đó là: "Trí, Phú, Địa, Hào, Tôn giáo, Lưu manh" và phải "đào tận gốc trốc tận rễ". Nghĩa là trí thức - đặc biệt là Quốc Dân Đảng - người giầu, địa chủ, cường hào, tôn giáo, lưu manh, đào tận gốc trốc tận rễ có nghĩa là phải tiêu diệt cho bằng hết! Và cuộc căm thù đấu tranh giai cấp ấy đã diễn ra năm 1956, dưới hình thức Cải cách Ruộng đất và "ôn nghèo gợi khổ" kéo dài suốt sáu tháng trời.

Mỗi xã có một đội cải cách do Trung ương đảng phái về, gồm toàn người xa lạ, từ miền Trung ra. Những người miền Bắc thì được phái vào miền Trung, vì những người khác xứ như thế sẽ không có tình cảm địa phương và dễ bề thẳng tay tàn ác mà không sợ bị nhận diện. Khẩu hiệu của đội cải cách là: "Nhất đội nhì trời". Cũng như trong miền Nam năm 1975, cộng sản đang trong cái khí thế "thừa thắng xông lên", tại các công trường làm thủy lợi, cộng sản trương khẩu hiệu "Thằng trời đứng ra một bên, để cho thủy lợi tiến lên thay trời!" và "vắt đất ra nước, thay trời làm mưa", còn gì ngông cuồng hơn! Một ông vua thời phong kiến bất quá cũng chỉ xưng là "thiên tử" (con trời), nhưng ngày nay đội cải cách của đảng cộng sản còn là "bố trời" và mọi người nếu muốn kêu xin điều gì phải nói:"Con cúi đầu xin đèn trời soi xét". Oái ăm thay! Một đảng chính trị như đảng Cộng sản Việt Nam chủ trương đánh đổ vua chúa phong kiến, thực dân đế quốc để mang lại "độc lập tự do hạnh phúc" cho toàn dân, thì giờ đây nghiễm nhiên lại là bố trời! Quyền lợi và lợi lộc làm hư hỏng con người đến thế.

Khi đội về xã nào thì họ đến ở trong các nhà nghèo nhất xã, xưa nay chuyên đi cày thuê cuốc mướn, hoặc ở chăn trâu cắt cỏ cho nhà giàu, hoặc là người làm mõ trong xã. Những người này được gọi là "thành phần cốt cán" và được đội cải cách giao cho công việc "nghiên cứu điều tra" xem ai là địa chủ, cường hào, phú nông, trí thức (tức đảng viên Quốc dân đảng), nếu ai rơi vào những thành phần ấy thì bị bắt giam riêng ở một nơi để chờ ngày đem ra đấu tố và coi như đã nắm chắc cái chết trong tay rồi. Trong thời gian các khổ chủ bị giam được canh gác rất cẩn mật, thân nhân không ai được đến gần, nếu đến cũng bị tội lây. Sở dĩ đội cải cách giao cho những người nghèo nhất xã làm công việc quan trọng như vậy là vì những người nghèo khổ hay mang lòng ghen ghét oán hận, đúng như kinh Phật đã nói "bần khổ đa oán" (nghèo khổ nhiều oán), cho nên dễ bị kích động để trở thành căm thù, mà có căm thù thì cuộc tố khổ mới thành công.

Sau khi thành phần cốt cán nghiên cứu điều tra xong, đội cải cách quyết định ngày giờ đưa các khổ chủ ra đấu tố. Các khổ chủ được đưa đến đấu trường mà đội gọi là "Tòa án nhân dân", thường là ở giữa cánh đồng hoặc trên một bãi đất rộng. Ơệ giữa đấu trường, một cái đài cao được dựng lên (như lễ đài) dành cho đội cải cách và "bồi thẩm đoàn" (dĩ nhiên là những người nghèo nhất và mù chữ trong xã) của Tòa án nhân dân ngồi. Các khổ chủ cúi đầu quì ở dưới, hai tay bị trói giặt về sau lưng. Khi đội cải cách luận tội, có điều oan ức muốn kêu, thì các khổ chủ phải nói: "Con cúi đầu xin đèn trời soi xét...". Ngày ấy tất cả dân trong xã (mỗi gia đình chỉ để một người già ở nhà giữ nhà) phải đến dự để tố khổ chủ (tất nhiên là họ đã được học tập trước rồi). Đại khái họ kể: "Ngày trước chúng mày đã bóc lột chúng tao, cho chúng tao vay nặng lãi; ngày giỗ ngày tết chúng tao phải đưa gà, trứng gà, thịt lợn, gạo nếp đến biếu chúng mày, tính đến nay đã có hàng ngàn hàng vạn con gà, quả trứng; làm thuê cho chúng mày thì chúng mày cho chúng tao ăn đói, lại còn đánh đập hành hạ chúng tao, v.v.. và v.v...". Có nhiều trường hợp con tố cha, vợ tố chồng, trò tố thầy, anh em họ hàng tố lẫn nhau vì những nguyên nhân bất hòa trong gia đình trước kia. Tố xong, tòa án nhân dân định tội và kết án tử hình, tất cả đám đông ở dưới phải hô to ba lần: "Tử hình! Tử hình! Tử hình!" vừa hô vừa giơ tay đấm lên hư không ba cái. Thế rồi khổ chủ bị bịt mắt lại đưa đến trói vào cây cột đã được dựng sẵn và đội hành quyết gồm năm người đứng nhắm bắn, khổ chủ gục đầu xuống và kết liễu một cuộc đời! Người ta kể có trường hợp bắn đi bắn lại mấy lần khổ chủ mới chết. Sau một hồi vỗ tay hoan hô, đám đông lần lượt ra về, để rồi ngay mai đi hoan hô nữa, hết xã này đến xã khác! Sau đó, tài sản của các khổ chủ tử hình, gọi là "quả thực" được chia cho thành phần cốt cán, người được gian nhà, người được cái giường, cái bàn, cái ghế, cái hòm, cái cối xay, cối giã, cái cày, cái bừa, bát đĩa nồi niêu, giần sàng rổ rá, cho đến cái chổi cùn, rế rách..., nghĩa là có cái gì chia cái ấy.

Như đã nói ở trên, cuộc đấu tranh căm thù giai cấp diễn ra suốt sáu tháng trời, trên toàn miền Bắc chết chóc quá nhiều, đến bảy trăm nghìn người (trong đó, có nhiều trường hợp, như một cán bộ đã nói với tôi nguyên văn như sau:"Cộng sản chặt đầu cộng sản mới đau chứ") đến nỗi đảng cộng sản Việt Nam đã phải ra lệnh sửa sai và, cũng người cán bộ kể trên đã nói: "Hồ chủ tịch đã đích thân đứng ra xin lỗi nhân dân". Nhưng có điều mỉa mai ở đây là đảng cộng sản Việt Nam thường tự hào không bao giờ sai lầm, thậm chí, hồi tôi bị cộng sản giam trong nhà tù Phan Đăng Lưu ở Bà Chiểu, Gia Định, năm 1977, tôi được nghe bài hát trên loa đài, ca tụng đảng là "chân lí", đảng là "mặt trời", thế sao lại phải sửa sai? Một điều đau đớn nữa là dù có sửa sai, có xin lỗi thì bảy trăm nghìn con người cũng đã mất mạng và tài sản của họ cũng đã tiêu tan rồi!

Tuy nhiên, vẫn chưa hết chết chóc. Vì sau khi sửa sai, người ta lại chém giết nhau nữa. Chả là, trong thời gian tố khổ, có nhiều người vì thù oán riêng tư, đã "mượn gió bẻ măng" dựa vào cuộc đấu tố mà tố bậy, tố oan để trả tư thù. Do đó, khi sửa sai, thân nhân của những khổ chủ đã chết vì bị tố oan, trở lại giết những kẻ tố oan để trả thù. Chẳng hạn như trường hợp một anh "cốt cán" ở một xã nọ bị cụt mất ngón tay trỏ từ thuở nhỏ, đến thời cải cách tố khổ, anh ta dùng cái ngón tay cụt ấy mà tố đến mười người. Đối với người nào anh ta cũng nói: "Tao ở chăn trâu cắt cỏ cho mày, mày đã cho tao ăn đói và không trả công thì chớ, mày lại còn chặt ngón tay tao!". Sau này anh bị giết lại trong thời gian sửa sai. Con số những người chết trong trường hợp này cũng khá nhiều. Thật là một bầu không khí căm thù ngút trời mà từ bốn nghìn năm lịch sử chưa từng có.

Sư cụ chùa Long Khánh xã Vũ Đoài - nơi tôi bị quản thúc hơn mười năm nay (1982-1992) - bị tố là đảng viên Quốc dân đảng và bị giam hai tháng, đến khi sửa sai mới được tha, không thì cũng chết. Còn một người nọ, tuy nghèo phải đi làm công, nhưng rất thật thà nhân hậu, cho nên người chủ nhà cũng thương tình, mỗi khi túng thiếu vay thóc ăn thì người chủ cho vay mà không lấy lãi. Đến thời cải cách, người ta buộc ông phải tố người chủ, ông ta đành phải lên tố. Ông ta nói: "Tao nghèo khổ phải đi làm thuê làm mướn cho mày, mày cho tao ăn hai bữa cơm no, tối về mày còn trả công tao đấu gạo; khi tao túng thiếu đến vay thóc mày, thì mày cho vay không, không lấy lãi...". Đội cải cách phải cho người ra lôi cổ ông ta xuống, không cho tố nữa. Lại ở một xã nọ, ông Linh mục bị đưa ra đấu tố, người đứng ra tố là một bà đanh đá nhất xã, bà ta tên Đức. Khi ông Linh mục quì giữa đấu trường, bà Đức (Đức mà thất đức) đứng trước xỉa xói vào mặt ông Linh mục chửi bới thậm tệ, rồi bà ta nói: "Tu hành gì mày, có mà tu hú; tu gì mà ăn những thịt gà cá gỡ cho béo vào, cái mặt phèn phẹt ra thế kia kìa rồi đi theo cộng sản mà làm hại dân hại nước!?". Lập tức đội cải cách sai người lên kéo bà ta ra, nhưng bà còn đang hăng máu, không chịu ra và nói: "Chưa hết! Nó còn nhiều tội lắm, chưa tố hết". Nhưng một người bịt miệng bà ta và một người cầm tay lôi bà ta ra. Có lẽ bà ta đã được dạy nói là "đi theo Quốc gia, theo Tây mà làm hại dân hại nước", nhưng lúc đó bà đang hăng say, quên bẵng đi mà nói lầm là "đi theo cộng sản" chăng? Sau đó ông Linh mục được đưa đi và cho đến nay (1992) vẫn chưa về!

Kể từ sau ngày cải cách và đấu tố trở đi, những thân nhân họ hàng của địa chủ, cường hào, trí thức, sư, linh mục bị gọi là thằng nọ con kia và mỗi khi ra đường gặp bất cứ người nông dân lớn bé già trẻ nào, cũng phải khoanh tay cúi đầu chào: "Con xin chào ông nông dân, con xin chào bà nông dân!". Người ta kể chuyện một em bé gái sáu tuổi bế em trai đi chơi, một bà già thân nhân của địa chủ gặp và khoanh tay cúi đầu chào: "Con xin chào bà nông dân bế ông nông dân đi chơi!"! Thật là chuyện cười ra nước mắt. Chưa hết, sư cụ chùa Long Khánh xã Vũ Đoài, sau khi được tha về, hôm ấy là ngày 15 (ngày rằm), cụ nấu xôi cúng Phật, cụ đang đơm xôi vào đĩa, mấy bà già tín đồ trong xã ra, trông thấy, họ nói: "Mày không được đơm xôi cúng Phật, đồ phản động dơ dáy! Việc của mày ở ngoài vườn. Để xôi đó cho chúng tao đơm, ra vườn làm cỏ!". Ôi! Luân thường đạo lí: "Than ôi ! Văn minh Đông Á trời thâu sạch, này lúc cương thường đảo ngược ru?" (Tản Đà). Nhà thơ đã biết trước, nhưng nay cũng đã qua đời, khỏi phải chứng kiến cảnh đau lòng.

Kể từ sau ngày cải cách, tôn ti trật tự xã hội đảo lộn, luân thường đạo lí đổ nát, vì cảnh con tố cha, vợ tố chồng, anh em họ hàng tố lẫn nhau, tất cả giá trị tinh thần truyền thống đều sụp đổ. Cuộc cải cách này và cuộc chiến tranh ý thức hệ huynh đệ tương tàn ròng rã hai mươi chín năm, khiến ba triệu người chết, bốn triệu người bị thương và nửa triệu trẻ em sinh quái thai là một cái giá quá đắt mà dân tộc Việt Nam phải trả để đổi lấy một học thuyết phi nhân và vô luân mà nay nó đã bị loại bỏ ngay trên mảnh đất nó đã được thí nghiệm lần đầu tiên cách đây bảy mươi tư năm (1917-1991). Những ai phải chịu trách nhiệm cho thảm họa ấy?

Trên đây tôi chỉ kể sơ qua mấy nét tổng quát về cuộc đấu tố mà thôi, còn những chi tiết liên quan đến cách làm việc, những thủ đoạn khủng bố, cách đối xử với các khổ chủ trong thời gian họ bị giam cầm trước khi chính thức đưa ra đấu trường để bị tố và xử bắn, thì thật là khủng khiếp, không thể diễn tả được.

Sau khi đã thanh toán những kẻ thù "có nợ máu" với nhân dân rồi, đảng cộng sản Việt Nam hứa với nhân dân sẽ xây dựng một xã hội công bằng, ai cũng có cơm ăn áo mặc, ai cũng như ai, không có kẻ giầu người nghèo, không còn nạn người bóc lột người, không ai phải làm thuê làm mướn cho ai, nông nghiệp sẽ được cơ giới hóa toàn quốc; các cụ già sáu mươi tuổi trở lên, không còn sức lao động, sẽ có "An dưỡng đường", mỗi cụ một căn phòng khang trang đẹp đẽ, có người phục vụ chu đáo. Xã hội cộng sản sẽ không có ăn mày, trộm cướp, đĩ điếm, nghiện ngập, hút xách, ai cũng có công ăn việc làm, không có nạn thất nghiệp, tóm lại là một thiên đường trên mặt đất. Và sau này trên mặt đất nếu dân số tăng lên đông quá, không đủ chỗ ở, thì sẽ đưa bớt lên mặt trăng!!

Để thực hiện lời hứa lấy ruộng của địa chủ chia cho nông dân, đảng cộng sản đã chia ruộng cho dân một cách đồng đều và cấp bằng "Sở hữu chủ" hẳn hoi. Bằng sở hữu chủ phải được cắm ngay trên thửa ruộng của mình để chứng tỏ quyền sở hữu của mỗi người. Và để thực hiện không ai làm thuê làm mướn cho ai, đảng bảo dân thành lập Tổ đổi công (một loại Hợp tác xã nhỏ), nghĩa là mỗi Tổ năm nhà hoặc hơn tùy ý, hợp lại với nhau, rồi hôm nay cày cấy cho nhà này, ngày mai cày cấy cho nhà khác, cứ như thế cho đến hết lượt. Thuế nông nghiệp lúc này rất nhẹ, nhân dân vui mừng lắm, nói theo danh từ thời thượng là rất ư "hồ hởi phấn khởi". Từ bao đời nay, bây giờ "ơn Bác ơn Đảng", người nông dân mới thực sự có được mảnh ruộng và làm chủ mảnh ruộng của mình. Đời sống nông dân trong giai đoạn ấy tương đối sung túc, cho nên dân rất tin yêu đảng. Nhưng tiếc rằng sự hồ hởi phấn khởi ấy chẳng được bao lâu, vì đến năm 1960, đảng bắt dân phải góp hết ruộng vào Hợp tác xã lớn để "làm chủ tập thể" chứ không sở hữu riêng nữa. Nông dân có gì đem góp hết vào Hợp tác xã: trâu bò, cày bừa, cối xay, cối giã, trục lúa v.v... tóm lại tất cả các nông cụ riêng trước đây đều sung vào Hợp tác xã. Người nông dân bỗng nhiên thấy mình hoàn toàn là người vô sản, chỉ còn hai bàn tay để đi làm thuê lấy điểm, có khác là trước kia làm thuê cho "bọn địa chủ tàn ác bóc lột", nó cho ăn ngày hai bữa cơm no, tối về nó trả công đấu gạo; còn bây giờ thì làm thuê cho Hợp tác xã không cơm, tối lại được trả cho tám lạng hay một cân thóc đựng vào cái mo cau mang về (một cân thóc bằng sáu lạng gạo, người khỏe ăn một bữa không no). Bởi thế người dân đã nói với nhau là "Hợp tác lên to lấy mo đựng thóc". Một ông "cắc cớ" nào đó lại nói "Hợp tác lên to đói hết rồi", bị gọi ra Uệy ban nhân dân xã. Xã bảo: "Anh nói thế là nói xấu cách mạng, bôi nhọ chế độ đấy hả?". Ông cắc cớ trả lời: "Đâu dám! Ý tôi muốn nói là Hợp tác xã lên to hết cái đói rồi, nghĩa là không còn ai đói nữa, ai cũng no đủ cả". Thế rồi ông cắc cớ thong thả ra về. Lại một "nhà thơ" nào đó làm mấy câu thơ như sau:

Sáng bước chân ra bụng đói rồi

Trưa về lưng lửng tối ta thôi

cũng bị gọi ra Uệy ban và gán cho tội bôi bác chế độ. Nhà thơ phủ nhận và bảo bài thơ tôi có bốn câu tứ tuyệt, nhưng nhân dân chỉ truyền tụng có hai câu đầu mà bỏ hai câu cuối của tôi đi. Làm cho bài thơ không trọn nghĩa. Ông xã hỏi thế hai câu cuối của anh như thế nào? Nhà thơ đọc:

Đói no chi quản thời chinh chiến
Mỹ cút đi rồi bác với tôi.

Ông xã nói: "Ừ, vậy thì hay quá chứ còn gì!". Thế là nhà thơ thung dung ra về.

Đến năm 1980, Đảng cộng sản thấy cách làm ăn tập thể kiểu Hợp tác xã bết bát quá, vì chẳng ai chịu gắng sức làm, lại còn lãng phí, có khi phá ngầm nữa, bởi lẽ họ có làm mà không được hưởng, không đúng như lời đảng đã nói "làm theo khả năng, hưởng theo nhu cầu", nên họ chẳng thiết tha gì, chỉ làm qua loa cho xong việc rồi về nhà chăm lo con lợn con gà là chính. Do đó, sản lượng nông nghiệp mỗi ngày mỗi giảm sút nặng nề, đảng bèn đưa ra chính sách khoán sản phẩm, hy vọng cải thiện tình hình. Nhưng vì Hợp tác lấy sản quá nặng nên ông dân cũng chẳng còn được bao nhiêu thóc và đói vẫn hoàn đói. Còn các cụ già hơn sáu bảy mươi tuổi, không làm được ruộng thì sung vào đội trồng cây theo khẩu hiệu của Bác Hồ "Trăm năm trồng người mười năm trồng cây". Loại cây chính được trồng ở hai bên lề đường là cây bạch đàn, xà cừ và phi lao. Hợp tác xã dùng chúng làm củi đốt nung gạch hoặc làm nhà kho.

Một hôm, có bảy tám cụ ông cụ bà vác cây đến trồng ở hai bên con đường đi vào chùa Vũ Đoài, các cụ vào chùa nghỉ giải lao, tôi hỏi các cụ đi đâu thì các cụ cho biết đi trồng cây lấy điểm. Tôi tò mò hỏi các cụ trồng như vậy được bao nhiêu điểm, các cụ cho biết cứ năm cây được một điểm bằng một lạng thóc. Tôi nói: "Nghe đâu các cụ đã có An dưỡng đường, có người phục vụ chu đáo rồi mà, thế sao các cụ còn phải đi trồng cây lấy điểm?" Các cụ trả lời: "Chả biết sau này thế nào, chứ hiện giờ thì chúng tôi đang còn "ăn đứng đường". An dưỡng đường mà các cụ nói chệch ra là ăn đứng đường thì cũng lạ thật. Đã vậy, những cây các cụ trồng xong, chỉ ít ngày sau là người ta đã bẻ hoặc nhổ hết vào ban đêm, bởi vậy các em bé chăn trâu cho Hợp tác xã (trước kia thì chăn trâu cho địa chủ bóc lột) mới làm vè hoan hô các cụ:

Hoan hô các cụ trồng cây
Mười cây chết chín một cây gật gù!

Các cụ cũng chẳng vừa, cũng làm vè "phản pháo" lại:

Các cháu có mắt như mù
Mười cây chết tiệt gật gù ở đâu?!

Nghĩa là trong con mắt các cháu thì mười cây còn sống sót được một cây, nhưng dưới mắt các cụ thì mưới cây chết hết cả mười! Thực ra thì các cụ chỉ trồng chúng xuống để lấy điểm sống qua ngày thôi, còn chúng sống hay chết cũng mặc, các cụ đâu có quan tâm. Còn những người bẻ hoặc nhổ cây đi thì lại nghĩ chúng có lớn lên mình cũng chẳng được dùng, thôi thì nhổ phứt đi cho khuất mắt.

Nạn tham ô ở nông thôn cũng rất phổ biến. Nông dân phải trả sản nặng, thiếu phải bù lỗ, bởi thế phải nói khó với các ông lái máy cày máy bừa làm kĩ ruộng để cấy cho tốt lúa, bởi vì các ông máy cày hay cày lỏi; hoặc hợp đồng bừa ba lượt thì các ông chỉ bừa hai lượt thôi. Làm như vậy sẽ dối số dầu xăng mà hãng máy cày cấp cho mỗi máy. Các ông lái máy cày lấy dầu xăng dối ra ấy đem đi bán chợ đen, mà cày bừa như thế thì ruộng không kĩ, lúa sẽ xấu. Bởi vậy nông dân phải nói khó với các ông cày bừa cho kĩ. Nhưng muốn thế thì phải luộc gà nấu xôi cho các ông ăn mới được, vì thế trong dân gian mới có câu "Trâu đen ăn cỏ, trâu đỏ ăn gà". Trâu đen là con trâu thật, trâu đỏ là cái máy cày vì nó được sơn màu đỏ cách mạng. Thật cũng trớ trêu, ngày xưa phải biếu gà cho địa chủ bóc lột, còn ngày nay thì phải đút lót gà cho máy cày. Tránh vỏ dưa gặp vỏ dừa! Nhưng sau máy cày nghĩ, ăn gà chỉ ăn được một mình thôi, không vui, nên máy cày bèn lấy tiền và gạo đưa về nhà cùng vợ con ăn cho vui.

Rồi đến điện lực cũng vậy. Điện ở nông thôn chỉ được dùng để bơm nước vào đồng để cày bừa. Đến thời vụ, Hợp tác xã nào muốn có nước vào đồng trước để cày bừa, thì phải đưa thịt và gạo nếp đến "lót tay" mấy ông cán bộ coi trạm điện bật cầu dao cho điện, nếu không thì cứ chờ, quá thời vụ cũng mặc. Nhưng Hợp tác xã sợ quá thời vụ lúa sẽ xấu, không đủ thóc đóng thuế cho nhà nước cũng nguy, cho nên đành phải mang gạo thịt đi, chứ không thể chờ được. Bởi vậy, dân gian lại có câu tiếu lâm thời đại: "Có kí lô oét nới có kí lô oắt". Oét là tiếng kêu oen oét của con lợn, còn oắt (watt) là chỉ đơn vị điện lực. Hoặc câu nữa cũng không kém phần hóm hỉnh, như: "Có cầu thớt mới có cầu dao". Cái thớt dùng để thái thịt luôn luôn đi với con dao, còn cầu dao là cầu dao của công tơ điện, hễ có gạo thịt thì nó bật lên, không thì nó cúp xuống! Lại trong làng xóm, nhà nào khá giả muốn có ngọn đền điện thắp sáng trong nhà, nhất là vào ba ngày tết, hoặc đám cưới, đám ma v.v.. thì xin ông cán bộ trạm điện cho phép câu điện vào, dĩ nhiên, cũng phải có gà lợn và gạo nếp chỉ đường dẫn lối. Cho nên người dân lại có câu ca dao:

Muốn cho điện sáng về nhà
Ruột lợn ruột gà phải nối đến nơi!

Thật cũng buồn cười, trước kia cộng sản lên án tư bản là nắm lấy các phương tiện sản xuất để thao túng bóc lột dân lao động, thì giờ đây cộng sản có máy cày, có trạm điện cũng có tha dân đâu! Những câu tiếu lâm, ca dao về nạn tham ô ở nông thôn còn nhiều lắm, như:

Mỗi người làm việc bằng hai
Để cho cán bộ mua đài (radio) mua xe
Mỗi người làm việc bằng ba
Để cho cán bộ xây nhà xây sân...

và những tiếu lâm về các lãnh vực khác cũng khá nhiều, nhưng ở đây tôi không chủ trương nói về điều đó, chỉ nêu mấy câu làm điển hình thôi.

Cuối cùng, chính sách khoán sản phẩm cũng thất bại, đến năm 1985 thì đảng cho khoán trắng. Nghĩa là cho dân thuê ruộng rồi đóng thuế cho nhà nước, hệt như chính sách phát canh thu tô của "địa chủ bóc lột và bị giết" trước kia, chỉ khác trước kia là địa chủ cá thể, bây giờ là địa chủ tập thể đảng hoặc nhà nước. Thế là mèo lại hoàn mèo. Rồi bắt đầu phá Hợp tác xã: nào nhà kho, sân kho, nhà nuôi lợn, nhà chăn tằm, nhà thuốc, vườn ươm cây, cửa hàng hợp tác xã, ao cá Bác Hồ, vườn cây Bác Hồ v.v.. phá hết, bán đấu giá hết. Một hôm, có người trong xóm ra chùa rủ tôi đi xem chỗ máy bay B52 của Mỹ bỏ bom, tôi hết sức ngạc nhiên. Tôi hỏi bỏ bao giờ, ông ta bảo mới vài hôm nay, tôi lại càng ngơ ngác không hiểu ra sao. Sau một lát ông ta mới nói dân chúng mua nhà nuôi lợn của Hợp tác xã, họ đang đập phá lấy gạch, trông y như B52 bỏ bom. Lúc đó tôi mới vỡ lẽ. Mấy hôm trước có người ở thành phố Nam Định sang thăm và cho tôi một món quà hiệu Liên xô, bên ngoài hộp có mấy chữ CCCP, không hiểu, tôi đưa ra hỏi ông ta là nghĩa gì, ông ta bảo đó là chữ viết tắt của các câu: Các cha cứ phá, các chú cứ phá, các cô cứ phá, các cậu cứ phá, các con cứ phá, các cháu cứ phá, các chắt cứ phá, các chút cứ phá, các chít cứ phá,... nói xong ông ta cười sằng sặc. Tôi nghĩ bụng, thật là mấy chữ quái ác, đây là định mệnh của dân tộc chăng? Thảo nào mà đình chùa miếu mạo họ cũng phá, và bao nhiêu thế hệ mà cứ phá như thế thì liệu đất nước sẽ còn gì. Tôi nhớ lại thời "tiêu thổ kháng chiến".

Bao nhiêu công của sức lực, mồ hôi và cả nước mắt của nông dân đổ ra suốt một phần tư thế kỷ để xây dựng, gom góp hết vào Hợp tác xã, bây giờ tan thành mây khói, và số tiền bán đấu giá các tài sản ấy chui vào đâu, ngườì dân không biết.

Tổ tiên Việt Nam qua bao nhiêu đời, bằng kinh nghiệm sống của mình đã đúc kết thành những câu ngạn ngữ, ca dao ngắn gọn rất hay rất đúng để dạy con cháu đời sau về mọi lãnh vực. Như về luật nhân quả thì các cụ nói "Đời cha ăn mặn đời con khát nước", nghĩa là những kẻ làm điều ác thì sớm muộn gì cũng sẽ phải chịu quả báo ác. Về số phận thì các cụ nói "Số giàu của đến dửng dưng, số nghèo con mắt tráo trưng vẫn nghèo". Đúng vậy, như thời cải cách, những địa chủ và cường hào bị tịch thu hết nhà cửa ruộng vườn, thóc gạo đồ dùng và tiền bạc họ lấy sạch, chỉ để cho cái chuồng trâu cho con cái ở, giường chiếu không có, phải nằm đất, không còn gì ăn, phải đi mò cua bắt ốc sống qua ngày. Vậy mà bây giờ họ lại giầu có, nhà xây sân gạch, dư thóc lúa tiền bạc. Trái lại, những người ngày trước lấy của họ chia nhau ăn, chỉ sau ít lâu là ăn hết, rồi người được chia nhà thì bán nhà, người được đồ đạc thì bán đồ đạc, rút cuộc nghèo vẫn hoàn nghèo. Có điều mỉa mai là sau ngày cải cách, thân nhân con cái địa chủ, cường hào bị gọi thằng nọ con kia, khi gặp họ phải cúi đầu chào ông nông dân bà nông dân, thì bây giờ lại chính những người ấy đến nhà các thân nhân con cháu của địa chủ, cường hào vay tiền vay thóc và gọi họ bằng cụ hoặc ông bà tùy tuổi tác, chứ không dám gọi thằng nọ con kia nữa.

Nhưng không lãnh vực nào mà các cụ dạy bảo con cháu kĩ như lãnh vực làm ăn tập thể theo kiểu cộng sản. Các lãnh vực khác thì thường chỉ có một câu hay hai câu là cùng, riêng lãnh vực làm ăn tập thể thì có tới ba câu, đó là : "Cha chung không ai khóc; nhiều sãi không ai đóng cửa chùa; nhiều thầy rối ma nhiều cha con khó lấy chồng". Ngày nay những người cộng sản Việt Nam đã không chịu học bài học của tổ tiên ông cha, mà lại đi học ông Karl Marx, ông Lê-nin, tin rằng các ông ấy nói đúng hơn, hay hơn, nên mới bắt dân làm ăn tập thể, hao tiền tốn của phí công mà chẳng nên việc gì. Rồi đến lãnh vực chính trị cũng thế, tổ tiên Việt Nam thiếu gì đường lối chính sách hay, như vua Thánh Tôn (1054-1072) đời Lý, một hôm ngồi xử án tại điện Thiên Khánh, có công chúa Động Thiên đứng hầu bên cạnh. Vua chỉ vào công chúa mà nói với các quan: "Lòng trẫm yêu dân cũng như yêu con trẫm vậy, chỉ hiềm trăm họ dại dột, làm bậy phải tội, trẫm thương lắm. Từ nay về sau tội nhẹ thì tha, tội nặng thì giảm bớt đi". Hoặc như Nguyễn Trãi: "Lấy nhân nghĩa thắng hung tàn, đem trí nhân trừ cường bạo". Những giá trị nhân bản cao quí đầy nhân tính như thế, tại sao người cộng sản Việt Nam không học, lại đi học chính sách hận thù đấu tranh giai cấp, tố khổ nhân dân khiến hằng trăm nghìn đồng bào vô tội phải chết oan?!

Trở lại vấn đề khoán trắng sau khi tập thể Hợp tác xã thất bại. Nghĩa là bây giờ (1985) ruộng đem khoán trắng cho dân, nhưng khốn nỗi trâu bò cày bừa và tất cả nông cụ khác trước đây đã góp hết vào Hợp tác xã, khi Hợp tác xã giải thể, tài sản bán đấu giá, nông dân không được trả lại một món gì, bây giờ lại phải mua sắm đồ mới. Nhưng khó nhất là trâu bò, hàng trăm nghìn đồng một con trâu, dân lấy tiền đâu mà mua; xăng dầu lại đắt, không đủ sức thuê máy cày. Vả lại, trước kia, khi vào Hợp tác xã thì các bờ ruộng phải phá hết đi để làm thành "ruộng đồng cò bay thẳng cánh chó chạy cong đuôi" để cày máy. Bây giờ ruộng khoán trắng, mỗi nhà vài ba sào (một sào Bắc bộ bằng 366m vuông), dân lại phải đắp bờ lên để đánh dấu và giữ nước, thì dù người có khả năng thuê máy cày cũng chẳng cày được. Cho nên đa số nông dân dùng cuốc và mai để cuốc và bẩy ruộng, và cứ mỗi nhát cuốc giơ lên bập xuống, họ lại nói "Cơ giới hóa toàn quốc"! Họ bảo "đảng ta" nói nông nghiệp sẽ được cơ giới hóa toàn quốc mà! Trẻ em bảy tám tuổi cũng phải cơ giới hóa toàn quốc. Cuốc xong, nhà nào có nhiều người trẻ khỏe thì bừa lấy. Cứ hai người kéo, một người cầm bừa, mấy người đi trên đường thấy thế khen: "Gớm, hai con trâu khỏe nhỉ!" rồi họ cười với nhau thông cảm.

Cảnh ấy làm tôi nhớ lại năm 1975 được xem cuốn phim chiếu trên Tivi ở Sàigòn kể lại cuộc đời của cụ Hồ Chí Minh (lúc đó trong phim cụ được gọi là anh Ba), từ bến Nhà Rồng Saigon cụ xuống tàu ra đi tìm đường cứu nước, mà một trong những nguyên nhân khiến cụ phải ra đi là cụ thấy người dân phải làm thân trâu kéo cày. Bây giờ đây, sau gần nửa thế kỷ cách mạng thành công, xây dựng chủ nghĩa cộng sản, thì người dân lại phải kéo bừa thay trâu! Ơệ Vũ Đoài tôi chỉ thấy người kéo bừa chứ không ai kéo cày, vì nặng lắm. Cuộc đời thật là cái đèn cù, quay hết vòng thì trở lại. Còn các tệ nạn xã hội như trộm cướp, trấn lột, ăn mày, ăn hối lộ, nghiện ngập v.v...thì vẫn nhan nhản.

Thế là từ sau ngày cải cách đấu tố giết chết bảy trăm nghìn người, đảng cộng sản đã hứa hẹn với nhân dân miền Bắc xây dựng một xã hội thiên đường trên mặt đất, đến nay đã ba mươi sáu năm (1956-1992) mà vẫn chưa thực hiện được, có lẽ nó chỉ là cái bánh vẽ chăng?

Bây giờ đến lượt miền Nam thì sao? Như đã nói ở đoạn trên, sau trận Điện Biên Phủ, người Pháp đã thỏa hiệp với cộng sản chia đôi nước Việt Nam, từ vĩ tuyến 17 trở ra Bắc thuộc cộng sản, từ vĩ tuyến 17 trở vào Nam thuộc Pháp. Nhưng phe Tư bản do Mỹ cầm đầu, thấy Pháp đã kiệt quệ, chín năm trời hao tiền tốn của mà chẳng làm nên việc, cho nên gạt Pháp ra để trực tiếp can thiệp vào Việt Nam bằng cách đưa ông Ngô Đình Diệm về dựng lên một chính quyền Quốc gia chống cộng mạnh để bảo vệ thế giới tự do. Sau đó, cộng sản vin vào cớ ấy mà lập ra cái gọi là "Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam" để chống Mỹ cứu nước, giải phóng dân tộc. Thế là cuộc chiến tranh giữa Quốc gia và Cộng sản lại bắt đầu tại miền Nam.

Chính quyền ông Ngô Đình Diệm càng ngày càng trở nên độc tài, gia đình trị và có tính kì thị tôn giáo, nên ít được lòng dân. Sau khi đã tiêu diệt các giáo phái khác, như Cao Đài, Hòa Hảo, năm 1963, ông Ngô Đình Diệm ra tay đàn áp Phật giáo, toàn thể tăng ni Phật tử miền Nam đã phải đứng lên chống lại để bảo vệ đạo pháp. Đến tháng 11 năm 1963, chế độ ông Ngô Đình Diệm bị lật đổ.

Năm 1965, sau cái gọi là "sự kiện vịnh Bắc Việt", chính phủ Mỹ bắt đầu ném bom miền Bắc, đến năm 1966 đổ vào miền Nam nửa triệu quân Mỹ và hàng chục nghìn quân các nước đồng minh Thái Lan, Nam Hàn, Úc Đại Lợi để trực tiếp chiến đấu, từ đó cuộc chiến trở nên ác liệt, sự chết chóc tàn phá cực kì khủng khiếp. Với nửa triệu quân Mỹ và quân đồng minh mà phe Tư bản vẫn không thắng được phe Cộng sản. Có nhiều nguyên do, nhưng nguyên do chính vẫn là sự hiện diện đông đảo của những đoàn quân ngoại bang trên đất nước Việt Nam đã tạo thêm "chính nghĩa" bề ngoài cho cộng sản Việt Nam, khiến khẩu hiệu "chống Mỹ cứu nước giải phóng dân tộc" của họ trở thành hiện thực, nhờ thế, cộng sản đã động viên được toàn lực nhân dân miền Bắc và một bộ phận lớn nhân dân yêu nước miền Nam có thiện cảm với cộng sản ủng hộ họ, cho nên cuối cùng cộng sản đã thắng. Về điểm này, như đã nói ở trên, phe Cộng sản khôn hơn phe Tư bản, vì họ chỉ dùng người cộng sản bản xứ đánh nhau ngoài chiến trường, chứ không có lính Tàu, Nga, Ba Lan, Tiệp Khắc v.v... những nước ấy chỉ cho cộng sản Việt Nam vay tiền bạc, súng đạn và cố vấn ở hậu trường mà thôi. Do đó, cộng sản Việt Nam dễ tuyên truyền là nước Việt Nam đang bị quân ngoại bang xâm lăng, mà chống xâm lăng để bảo vệ đất nước là chính nghĩa, thì người dân bình thường và có lòng yêu nước nào mà chẳng tin cộng sản có chính nghĩa. Và bất cứ cuộc chiến đấu nào, hễ có chính nghĩa thì dù có khó khăn, khổ cực đến mấy đi nữa, cuối cùng tất cũng sẽ thắng. Hơn nữa, cộng sản còn vận động được một số nước trong phe Tư bản ủng hộ họ, đồng thời, nhân dân Mỹ thấy cuộc chiến ở Việt Nam chẳng có liên quan gì đến quyền lợi thiết thân của nước Mỹ mà con em của họ phải chết, bởi thế họ đòi chính phủ Mỹ phải đưa trả con em về. Đó cũng là những yếu tố rất lợi cho cộng sản, cho nên họ càng khai thác tình cảm ấy bằng cách tỏ cho thế giới biết rằng mình là một chú tí hon đang bị một anh khổng lồ cậy khỏe bắt nạt, ức hiếp.

Cũng như người Pháp năm 1954, đã không thắng được thì phải rút quân, nhưng rút cách nào cho khỏi mất thể diện, Mỹ bèn dùng máy bay B52 bỏ bom Hà Nội để buộc cộng sản Bắc Việt phải ngồi vào bàn hội nghị nói chuyện hòa bình. Bởi thế, hội nghị Ba Lê đã được mở ra, đến tháng 1 năm 1973 thì hai bên thỏa thuận đình chiến và Mỹ bắt đầu rút quân. Bây giờ còn lại một mình Việt Nam Cộng Hòa cố gắng kháng cự cộng sản, nhưng đến ngày 30-4-1975, Việt Nam Cộng Hòa đầu hàng và cộng sản đã chiếm toàn miền Nam. Họ thực sự đã làm đúng khẩu hiệu "đánh cho Mỹ cút, đánh cho Ngụy nhào".

Ngay từ trước ngày 30-4-1975, rồi sau ngày cộng sản toàn thắng và mở cuộc đấu tranh căm thù giai cấp, đánh Tư sản miền Nam, đã có cả triệu người bỏ nước ra đi, thậm chí cho đến nay (1992) người ta vẫn tiếp tục ra đi. Trong số những người vượt biển ra đi ấy, đã có bao nhiêu người bất hạnh vùi thân dưới đáy biển hoặc làm mồi cho cá? Bao nhiêu người đã đến được nước nào đó, nhưng thuyền của họ lại bị đẩy ra khơi trở lại và số phận họ sau đó ra sao? Bao nhiêu người đã bị hải tặc cướp bóc hãm hiếp rồi quăng họ xuống biển? Bao nhiêu người tuy đã đến được bến bờ tự do, nhưng quá sợ hãi vì đã nhìn thấy những điều xẩy ra trong cuộc phiêu lưu mạo hiểm, nên đã trở thành điên khùng, mất trí? Và hiện đang còn bao nhiêu chục nghìn người đang sống lây lất như những con vật hai chân trong các trại tị nạn trên khắp vùng Đông Nam Á?

Bao nhiêu người đã chết trong các trại tù trong số hàng trăm nghìn sĩ quan binh sĩ và nhân viên của chế độ cũ mà cộng sản bắt đi học tập cải tạo?

Rồi ngay trên đất nước Việt Nam hiện giờ đây còn bao nhiêu nhà trí thức, giáo sư, văn nghệ sĩ, tu sĩ, đang phải sống đọa đày trong các nhà tù cộng sản hoặc bị lưu đày quản thúc chỉ vì họ nói lên tiếng nói của lương tri, muốn cho dân tộc được tự do dân chủ thực sự? Tất cả đều không ai biết được. Thật là khủng khiếp. Suốt bốn nghìn năm lịch sử dân tộc, chưa từng có giai đoạn nào đau thương khổ thảm như giai đoạn này. Ngay cả dưới chế độ thực dân phong kiến thống trị, người dân chẳng ai bỏ nước ra đi, vậy mà ngày nay được "độc lập tự do hạnh phúc" thì hàng triệu người lại ùn ùn bỏ nước ra đi bất chấp hiểm nguy chết chóc là nghĩa làm sao? Có nhiều người bảo vì nghèo khó mà người Việt bỏ nước ra đi để tìm một cuộc sống khá hơn. Không phải thế. Gần hai mươi năm qua đã biết bao nhiêu người bỏ hết tài sản cơ nghiệp mà có thể họ ăn đến mấy đời không hết để thoát thân, nếu không may phải chết đuối ngoài biển họ cũng vui lòng và bảo chết thế càng mát! Ngay cả bây giờ đây (1992), các nước tư bản đã vào Việt Nam kinh doanh, kinh tế đang phát triển, đời sống tương đối đở đói hơn trước; nhưng giả sử có nước nào hào hiệp sẵn sàng đón nhận người Việt Nam đến sinh sống, hoặc có một hòn đảo nào sinh sống được mà quốc tế giúp đỡ cho người Việt đến đó làm ăn và nhà cầm quyền Hà Nội cho họ tự do ra đi không hạn chế, thì tôi tin chắc rằng sẽ có một nửa dân số Việt Nam, nếu không nói là hơn thế nữa, sẽ bỏ nước ra đi một cách không vấn vương thương tiếc.

Tại sao vậy? Bởi vì ở Việt Nam hiện nay có cái tội danh "phá rối trật tự an ninh xã hội" nó mông mênh lắm, không giới hạn nào, không biêứt đâu mà tránh, cho nên người dân sống trong tình trạng nơm nớp lo sợ, như con cá nằm trên thớt, không biết mình bị bắt lúc nào nếu lỡ mồm lỡ miệng nói điều gì đó mà đảng cộng sản không vừa lòng là bị khép ngay vào cái tội danh trên và sẽ biến mất vào ban đêm, hàng xóm không ai biết. Bởi thế mỗi khi muốn nói điều gì có liên quan đến chính trị một chút thì phải nhìn trước nhìn sau, thậm chí nhìn cả dưới gầm giường, gầm bàn xem có ai nghe lén không rồi mới dám nói, nhưng cũng không dám nói to đâu, chỉ nói thầm như bàn nhau đi ăn trộm ấy thôi, vì sợ có người núp ở sau nhà nghe lén.

Một người ở xã Vũ Đoài ra chùa, xin tôi mấy chữ Hán về treo trước bàn thờ tổ tiên trong ba ngày tết. Tôi nghĩ treo trước bàn thờ tổ tiên thì không có chữ nào hợp tình hợp cảnh bằng bốn chữ xưa nay rất thông dụng, đó là bốn chữ ẨM THUệY TƯ NGUYÊN, nghĩa là uống nước nhớ nguồn. Vậy mà công an đến hỏi người chủ nhà những chữ gì, vì anh ta không biết chữ Hán. Sau khi nghe chủ nhà giải nghĩa, anh công an nói: "Coi chừng hắn (tức là tôi) định nói chính trị trong đó đấy!". Sống trong một xã hội luôn luôn bị rình rập và nghi kỳ như vậy, đến mấy chữ uống nước nhớ nguồn mà cũng nghi là chính trị, cũng như tôi bị quản thúc lưu đày đã mười năm nay (1982-1992) chỉ vì cái tội "làm việc tôn giáo cũng là làm chính trị", thì tôi thiết nghĩ dù có ngồi trên đống vàng cũng chẳng cảm thấy hạnh phúc. Bởi vậy bất cứ lúc nào có cơ hội là người Việt Nam sẵn sàng bỏ nước ra đi, chứ không phải vì nguyên do nghèo khó, kinh tế thiếu thốn đâu. Tôi xin kể một câu truyện cổ để chứng minh. Đức Khổng Tử sang nước Tề, đi qua núi Thái Sơn, thấy một người đàn bà đang khóc ở ngoài đồng, nghe thảm thiết lắm. Ngài nói với đoàn tùy tùng: "Người đàn bà kia hình như trong nhà có trùng tang". Rồi sai Tử cống đến hỏi. Người đàn bà nói: "Ơệ đây lắm hổ (cọp), bố chồng tôi chết vì hổ, chồng tôi chết vì hổ, bây giờ đến lượt con tôi cũng lại chết vì hổ. Thảm lắm ông ơi!". Tử cống bảo: "Thế sao không bỏ chỗ này đi ở chỗ khác?". Người đàn bà trả lời: "Tuy vậy nhưng ở đây chính sách quan trên không đến nỗi hà khắc như ở các nơi khác".

Tử cống đem chuyện thưa lại với đức Khổng Tử. Ngài nói: "Các ngươi nhớ đấy: chính trị hà khắc khốc hại hơn mãnh hổ!".

Cũng thế, hàng triệu người Việt Nam ngày nay bỏ nước ra đi là vì sợ một chế độ chính trị hà khắc chứ không phải vì sợ đói khổ, như tôi đã trình bày ở trên, có những người ăn đến mấy đời không hết của mà vẫn bỏ nước ra đi và có chết ngoài biển cũng vui lòng, như vậy chứng tỏ họ sợ chính trị hà khắc còn hơn cả sợ chết, cho nên ngài Khổng Tử mới nói "chính trị hà khắc khốc hại hơn mãnh hổ" là thế.

Suốt hai mươi mốt năm trời (1954-1975), cộng sản Việt Nam đã tận dụng nhân lực vật lực của nhân dân miền Bắc và của đại bộ phận nhân dân miền Nam, để ra sức "đánh cho Mỹ cút đánh cho Ngụy nhào", thì năm 1973 Mỹ đã "cút" thật sau hai mươi năm trút hàng triệu tấn bom đạn và chất độc hóa học xuống đất nước Việt Nam, rồi đến năm 1975 thì "Ngụy" cũng đã "nhào" thật, cộng sản đã "toàn thắng", chiến công đạt đến tuyệt đỉnh vinh quang. Nhưng sau mười tám năm (1975-1992) vinh quang oanh liệt, đến khi phe cộng sản Đông âu và Liên xô tan rã, thì giờ đây cộng sản Việt Nam thấy mình hụt hẫng, không còn chỗ dựa, và để cứu vãn nền kinh tế kiệt quệ vì không còn được ai cho vay nên đành phải cúi mặt mà mời người Mỹ trở lại hy vọng bỏ cấm vận. Nhưng khốn nỗi người Mỹ lại làm cao, đặt ra các điều kiện này nọ, mà điều kiện tiên quyết là phải tìm kiếm đào bới cho đủ số hơn hai nghìn lính Mỹ còn bị liệt kê mất tích trong chiến tranh tại Việt Nam. Cộng sản Việt Nam phải trần lực ra đi đào bới tìm kiếm từng mẩu xương khô, và cứ mỗi lần cộng sản giao trả cho Mỹ mấy bộ xương thì Mỹ lại "tưởng thưởng" cho cộng sản một cái gì đó theo như lộ trình họ đã định. Các ông cộng sản Việt Nam có cảm thấy "khó chịu" không? Nhân đây tôi cũng xin nói với quí ông trong chính phủ Mỹ rằng, nếu quí ông tưởng thưởng cho cộng sản thì cứ nói rõ là tưởng thưởng cho cộng sản, chứ dân tộc Việt Nam chúng tôi với truyền thống Lý Thái Tổ, Lý Thường kiệt, Trần Nhân Tôn, Trần Hưng Đạo, Lê Lợi, Nguyễn Trãi v.v... có đi đào thuê cuốc mướn cho quí ông đâu mà quí ông tưởng thưởng cho Việt Nam. Kể cũng chua chát, người Mỹ đã trút hàng triệu tấn bom đạn và chất độc da cam xuống đất nước Việt Nam tàn sát hơn một triệu người dân Việt, bao nhiêu người tàn phế và trẻ em quái thai vì chất độc hóa học, và hậu quả khốc hại của nó còn kéo dài trong nhiều thế hệ nữa; nhưng vì họ có nhiều đô la (mà trước kia cộng sản cho là đồng tiền "vấy máu") cho nên cộng sản phải cố làm vừa lòng họ. Còn những người dân Việt Nam yếu hèn thì cộng sản đối xử như những con vật, cho nên người dân miền Bắc đã phải nói "ăn như lợn (tức ăn độn), ở như chuột, làm như trâu, đối xử như chó". Lại như H.T. Huyền Quang và tôi chỉ vì cộng sản làm bậy, đập tượng phá chùa, lấy chùa làm nhà hộ sinh (nhà đỡ đẻ), làm rạp chiếu bóng, bắt bớ tăng ni Phật tử một cách bừa bãi, chúng tôi buộc lòng phải phản đối những hành động ngông cuồng và phi pháp ấy của cộng sản, chứ có tranh giành quyền lợi gì với họ đâu, vậy mà họ giam cầm đày ải suốt mười mấy năm nay!

Hơn hai nghìn lính Mỹ mất tích còn có người tìm kiếm đào bới, thế còn hơn ba trăm nghìn lính cộng sản Bắc Việt mất tích thì ai tìm kiếm đào bới? Còn các ông "Ngụy" đã "nhào" mà thoát thân trước ngày 30-4-1975, và những người vượt biên sau đó, đều bị cộng sản lên án là phản quốc, bây giờ trở thành người nước ngoài gốc Việt, nếu muốn về thăm quê cũ với đô la đầy túi, thì cũng được hoan nghênh là "Việt kiều yêu nước"!

Còn một điều trớ trêu nữa là năm 1954 tại miền Bắc và năm 1975 tại miền Nam, bao nhiêu nhà tư sản Việt Nam cộng sản đánh gục hết để rồi giờ đây phải trải thảm đỏ mà mời tư bản nước ngoài vào, còn gì nghịch lý hơn? Vậy tại sao cộng sản Việt Nam không mời tư bản nước ngoài vào ngay từ 1945 hoặc 1954 hay ít nữa là 1975 có tốt hơn không? Tại sao lại đợi đến sau bốn mươi mốt năm (1945-1986) cố sức "đào mồ chôn sống bọn tư bản" chẳng được, gây ra bao nhiêu tang thương khổ thảm đổ nát chết chóc rồi mới chịu rước tư bản vào? Đảng cộng sản thường nói, "giữa con đường xã hội chủ nghĩa và tư bản chủ nghĩa ai thắng ai?". Ngày nay rõ ràng tư bản nó thắng rồi đó: nó đã vào nằm trong sân, trong đầu giường, thậm chí chui cả vào túi của đảng rồi đó. Xã hội chủ nghĩa chỉ còn cái vỏ thôi, lột vỏ luôn đi cho hợp thời! Danh có chính ngôn mới thuận, đảng lãnh đạo là đảng cộng sản, tên nước là Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam, kinh tế là kinh tế thị trường tư bản, chắp vá như vậy nghĩa là làm sao? Nghe nó không ổn. Giá như Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Sô viết còn tồn tại thì nghe còn đỡ, bây giờ còn một mình cộng sản Việt Nam nghe lạc lõng lắm.

Cộng sản giết địa chủ bóc lột để rồi trở lại chính sách canh thu tô của địa chủ, đào mồ chôn tư bản nội địa để rước tư bản nước ngoài vào. Thật cái vòng lẩn quẩn. Thế mà mồm vẫn cứ nói là cách mạng! Rồi đây, tài nguyên của đất nước, thượng vàng hạ cám, có gì cũng sẽ bị những con bạch tuộc nước ngoài ấy moi móc cho bằng hết. Giá như người Việt Nam mình, một nửa thế kỷ qua, làm được cách mạng kiểu Minh trị duy tân của Nhật Bản thay vì cuộc cách mạng vô sản căm thù đấu tranh giai cấp tàn hại lẫn nhau, thì ngày nay người Việt mình đã có thừa nhân tài và kỹ thuật để làm chủ và khai thác tài nguyên của đất nước, chứ không đến nỗi phải lẹt đẹt theo sau các nước láng giềng và phải mất ba, bốn mươi năm nữa mới đuổi kịp họ như hiện nay. Nhưng trong khi mình đuổi theo ba, bốn mươi năm ấy thì họ lại tiến xa hơn nữa rồi, thành thử mình cứ phải theo sau mãi. Nên nhớ những nước láng giềng ấy, như Thái Lan, Tân Gia Ba v.v... trước đây cộng sản Việt Nam cho họ là tay sai đế quốc Mỹ, vậy mà bây giờ phải theo sau tay sai đó! Và vinh dự hơn nữa là còn xin gia nhập khối "tay sai" và mời tay sai làm cố vấn kinh tế!

Nhân đây tôi cũng xin nói với các ông tư bản nước ngoài rằng, các ông cứ nói Việt Nam là một thị trường béo bở với bảy mươi hai triệu con người tiêu thụ. Các ông nghĩ lầm rồi đó, không béo bở như các ông tưởng đâu. Này nhé, nhân dân Việt nam tám mươi phần trăm là nông dân sống ở nông thôn, mà người nông dân Việt Nam thì chỉ lo sao cho có đủ hạt gạo để ăn no bụng lá khó lắm rồi, chứ đâu dám mơ tưởng đến những món hàng đắt tiền của các ông. Các ông nên nhớ rằng, Việt Nam đang còn là một trong những nước nghèo nhất, lạc hậu nhất trên thế giới, với lợi tức đổ đồng mỗi đầu người trên dưới hai trăm đô la một năm, trong khi lợi tức đổ đồng của Nhật Bản mỗi đầu người bảy nghìn đô la một năm. Cứ đó suy ra thì Việt Nam phải mất mấy trăm năm nữa mới đuổi kịp Nhật Bản! Vậy các ông lấy đâu ra bảy mươi hai triệu người tiêu thụ mà cho là béo bở?. Có béo bở chăng là béo bở mấy ông tư bản đỏ, các ông tham ô và những người buôn lậu thôi, chứ tuyệt đại đa số nhân dân Việt Nam không dám đụng đến chai coca-cola của các ông đâu, chứ nói chi đến các món hàng khác. Như vậy, nếu các ông tính cả bảy mươi hai triệu người tiêu thụ để thu lợi thì các ông sẽ lỗ to đấy!

Tóm lại, đảng cộng sản Việt Nam đã phạm những sai lầm tai hại sau đây đối với dân tộc Việt Nam:

1) Đảng đã đưa vận mệnh nước Việt Nam ràng buộc vào với ý thức hệ cộng sản quốc tế, dùng dân tộc Việt Nam đấu tranh tiêu diệt chủ nghĩa tư bản để truyền bá chủ nghĩa cộng sản trên toàn thế giới bằng khẩu hiệu "Giữa con đường tư bản chủ nghĩa và xã hội chủ nghĩa ai thắng ai", chống Pháp, chống Mỹ để bảo vệ "tiền đồn (tức là nước Việt Nam) của phe Xã hội Chủ nghĩa" khiến dân tộc Việt Nam đã phải gánh chịu cuộc chiến tranh giành ảnh hưởng giữa hai phe Tư bản và Cộng sản quốc tế ròng rã hai mươi chín năm trời (1946-1975) trên đất nước Việt Nam, làm cho ba triệu người chết, bốn triệu người bị thương, nửa triệu trẻ em sinh ra quái thai và tàn phế, và hàng triệu tấn bom đạn, thuốc khai quang đã tàn phá đất nước Việt Nam mà hậu quả còn di hại đến không biết bao nhiêu thế hệ sau.

2) Thiết lập một chế độ độc tài độc đảng độc quyền chính trị, không chấp nhận đối lập, một mình một chợ, coi như đất nước này là của riêng mình, thu tóm hết quyền lực vào trong tay một nhóm người, thao túng lũng đoạn, đưa đến tình trạng lạm dụng quyền hành, tham ô thối nát, cai trị tùy hứng, muốn giết ai thì giết, muốn bỏ tù ai thì bỏ, bóp chết mọi mầm mống tư tưởng tự do; những người thông minh có nhiều sáng kiến có thể làm lợi cho đất nước dân tộc, nhưng không hợp với đường lối chủ trương của đảng, thì không dám nói ra, phải giả điếc giả dại để bảo toàn tính mệnh, kết quả đã khiến cho bao nhiêu nhân tài của đất nước phải thui chột và đất nước rơi vào tình trạng nghèo khó nhất, lạc hậu nhất trên thế giới hiện nay. Không nói đến quá khứ nữa mà ngay bây giờ đây, có bao nhiêu người Việt tài giỏi trên khắp thế giới, đủ mọi ngành nghề, có thể phát triển đất nước một cách mau chóng, nhưng có ai dám về để góp phần xây dựng đất nước đâu? Không những thế, nếu còn ai sót lại trong nước thì cũng tìm mọi cách thoát thân ra nước ngoài làm giầu cho thiên hạ! Cái tai hại của một chế độ độc tài hà khắc là thế đó! Trong khi ấy thì đảng cộng sản Việt Nam phải đi mời ông Lý Quang Diệu của Singapour (một đảo quốc mấy triệu dân), mà trước kia cộng sản Việt Nam cho là tay sai đế quốc Mỹ, làm cố vấn kinh tế cho cộng sản, nhưng ông ta từ chối! Mới chỉ mười tám năm trước (1975-1992) những người cộng sản Việt Nam thường nói một cách tự hào rằng "Việt Nam ra ngõ gặp anh hùng! Hà Nội là trái tim của loài người", và chính ông Lê Duẩn lúc đó (1975) là Tổng bí thư đảng cộng sản Việt Nam đã nói ở Sàigòn rằng: "Từ nay trở đi không còn một ngoại bang nào dám nhòm ngó Việt Nam nữa". Vậy mà bây giờ phải hạ mình đi mời "tay sai Mỹ" làm cố vấn, nhưng lại bị từ chối! Còn gì mỉa mai hơn? Còn gì đau đớn hơn? Còn gì đáng hổ hơn?

3) Kích động căm thù đấu tranh giai cấp bằng cuộc cải cách đấu tố năm 1956 tại miền Bắc, khiến bảy trăm nghìn người phải mất mạng và tài sản tiêu tan.

4) Giết địa chủ, cường hào lấy ruộng chia cho nông dân, sau lại bắt dân gom hết ruộng vào Hợp tác xã để thiết lập hệ thống kinh tế chỉ huy theo chủ nghĩa cộng sản. Công việc xây dựng Hợp tác xã nông nghiệp đã làm hao tổn bao nhiêu công của sức lực của dân suốt hai mươi sáu năm (1960-1986) khiến dân đói khổ để rồi giờ đây giải thể, phá tan Hợp tác xã mà trở về chế độ phát canh thu tô của địa chủ cũ tại nông thôn, và giải tư các xí nghiệp nhà nước, tuyên bố phá sản để theo hệ thống kinh tế thị trường tự do của chủ nghĩa tư bản tại thành thị.

5) Năm 1954 tại miền Bắc và năm 1975 tại miền Nam, phát động căm thù đấu tranh giai cấp đánh tư sản Việt Nam, khiến hàng triệu người phải bỏ đất nước chạy trốn ra nước ngoài, để rồi giờ đây lại rước tư bản ngoại quốc vào làm ăn khai thác để học tư bản.

6) Lấy học thuyết Mác Lê làm nền tảng cho tất cả mọi lãnh vực sinh hoạt trong xã hội, dạy dân căm thù đấu tranh giai cấp để giành giật miếng ăn mà bỏ hết luân thường đạo lý, truyền thống nhân ái, hiếu nghĩa và phá hoại các di sản tinh thần và vật chất của tổ tiên, ông cha Việt Nam mà cho là tàn dư của phong kiến.

2.- ĐỐI VỚI PHẬT GIÁO VIỆT NAM

Như đã nói trong đoạn trước, cộng sản là những người vô thần duy vật, chủ trương tiêu diệt các tôn giáo, vì Marx cho tôn giáo là thuốc phiện của loài người mà "bọn" tư bản dùng làm công cụ ru ngủ nhân dân lao động bằng cách khuyên họ cố gắng chịu những khổ cực ở đời này rồi sẽ được đền bù một thiên đường ở kiếp sau để dễ bề bóc lột, trong khi chủ nghĩa cộng sản chủ trương xây dựng thiên đường cộng sản ngay trên mặt đất này. Bởi vậy, cộng sản cho tôn giáo là một trở lực cần phải tiêu diệt.

Tại Việt Nam có hai tôn giáo chính là Thiên chúa giáo và Phật giáo. Cộng sản gọi Thiên chúa giáo là Công giáo mà tiếng lóng của họ là "cứt gà", còn Phật giáo thì tiếng lóng của họ là "phân gà". Tại sao họ lại gọi là cứt gà và phân gà? Tức họ cho Công giáo khó tiêu diệt hơn Phật giáo. Họ phân tích rất kỹ và vì nhiều lý do, nhưng quá dài không thể kể hết ra ở đây, tôi chỉ tóm tắt sự phân tích của họ như sau: cộng sản đánh giá Công giáo tuy là số ít, nhưng là những con sư tử, khó tiêu diệt, cũng như cứt gà sáp (cứt gà ướt sền sệt) đã dính vào quần áo thì chỉ còn cách cắt bỏ chỗ ấy đi thôi, chứ giặt khó sạch lắm; còn Phật giáo tuy là số nhiều, nhưng chỉ là những con cừu, dễ tiêu diệt, cũng như phân gà khô, chỉ cần gạt một cái là sạch! Nhưng dù khó hay dễ thì cuối cùng cũng phải tiêu diệt. Nhưng cách thức tiêu diệt thì tùy từng giai đoạn, tùy từng nơi chỗ. Người cộng sản có đường lối gọi là "biện chứng", nghĩa là mục tiêu họ đã đặt ra là phải đạt cho bằng được; nhưng trên đường đi đến mục tiêu ấy mà êm xuôi thì đi đến ngay, còn nếu gặp trở ngại thì tạm thời dừng lại, nếu cần phải lùi thì lùi, cần phải rẽ ngang cũng rẽ ngang, nhưng cuối cùng vẫn phải đạt mục tiêu, châm ngôn của họ là "lùi một bước tiến ba bước". Đối với việc tiêu diệt các tôn giáo nói chung, Phật giáo nói riêng, cũng vậy, nếu nơi nào xóa bỏ được ngay mà không gặp chống đối hoặc phản ứng bất lợi, thì họ làm ngay, nếu thấy trở ngại thì họ ngưng lại. Không những ngưng lại, mà nếu xét thấy tôn giáo trong giai đoạn ấy có lợi cho cộng sản thì họ lại lợi dụng tôn giáo tối đa. Trong chủ trương tiêu diệt Phật giáo Việt Nam cũng không ngoài đường lối ấy.

Chẳng hạn, trong thời gian kháng chiến chống Pháp, cộng sản Việt Nam cần phải đoàn kết toàn dân, hơn nữa, cũng chưa rảnh tay để nghĩ đến việc tiêu diệt Phật giáo, cho nên họ lại lợi dụng Phật giáo bằng cách lập ra cái gọi là PHẬT GIÁO CỨU QUỐC nằm trong mặt trận Liên Việt. Lúc đó "sư cụ" Phạm Thế Long trụ trì chùa Cổ Lễ tại phủ Xuân Trường, tỉnh Nam Định, đưa ra lời kêu gọi thanh niên tăng "Tạm xếp cà sa khoác chiến bào", nghĩa là hãy tạm thời cởi bỏ áo nhà tu để đi cầm súng giết Tây. Thế là hàng loạt sư trẻ bỏ chùa bỏ Phật để đi "yêu nước". Đây là chính sách dùng một mũi tên bắt hai con chim một lúc: trước mắt có thêm người cầm súng, đồng thời, lại được cái lợi (mà cái lợi này mới là chủ yếu) là tiêu diệt mầm non của Phật giáo trong tương lai! Mà lại dùng chính sư ra lời kêu gọi để tiêu diệt mầm non Phật giáo mới hợp thức, ai trách được cộng sản bắt sư đi lính! Điều đó cũng dễ hiểu thôi: nếu muốn bắt cò thì phải dùng con cò làm chim mồi, muốn bắt cu thì phải dùng con cu làm chim mồi, chứ nếu muốn bắt cò mà dùng cu làm chim mồi thì bắt sao được.

Lại nữa, xét thấy những ngôi chùa lịch sử danh tiếng, điển hình như chùa Thiên Trù (chùa Hương - chùa ngoài) ở huyện Mỹ Đức tỉnh Hà Đông, chùa Quỳnh Lâm tại làng Cổ pháp xưa (nay thuộc tỉnh Quảng Ninh) do Thiền sư Định Không (729-808) sáng lập vào khoảng năm Trinh Nguyên đời Đường bên Tàu, cộng sản thấy sau này, khi đã thành công, khó mà tự mình ra tay phá được vì sẽ có ảnh hưởng rất lớn, chi bằng mượn tay quân Pháp cho tiện. Cộng sản bèn đưa quân lính đến đóng tại các chùa đó, treo cờ đỏ sao vàng lên, máy bay thám thính của Pháp đến, thấy có cờ Việt Minh liền báo cho oanh tạc cơ đến bỏ bom (dĩ nhiên là Việt Minh đã rút trước rồi), thế là chùa tan nát! Trong trường hợp này cũng lại một mũi tên bắt hai con chim: một mặt kích động lòng căm thù của nhân dân, lên án giặc Pháp phá chùa và kêu gọi toàn dân hết lòng đánh Pháp; mặt khác, sau này, khi thành công rồi khỏi phải phá để tránh tiếng cộng sản phá chùa lịch sử danh tiếng !

Tôi cảm thấy xót xa vô hạn khi đến nhìn lại nền chùa Quỳnh Lâm nơi thờ pho tượng là một trong "Việt Nam tứ khí" do Thiền sư Không Lộ, Quốc sư đời Lý, kiến tạo. Tôi đến đây vào cuối năm 1991. Nghe người ta kể lại, sau khi Pháp dội bom phải mất hơn một tháng trời mới cháy hết ngôi chùa. Hiện còn lại những cái tảng đá chân cột rất lớn, chứng tỏ những cây cột gỗ lim ngày xưa phải đến một vòng tay người ôm; một vài ngôi tháp đá không bị cháy. Sau ngày cải cách tố khổ, những gạch của chùa của tháp còn sót lại được dùng để xây nhà nuôi lợn của Hợp tác xã ngay trước cửa chùa cũ. Sau ngày "đổi mới", Hợp tác xã giải thể, nhà nuôi lợn đã được bán đấu giá. Tôi thấy một vài tấm bia đá đổ úp xuống đất, nhờ người lật lên xem thì thấy khắc Pháp danh của mấy vị Tăng thống đời Trần. Ngày tôi đến đây, sau sáu năm đổi mới, dân chúng địa phương đã góp sức làm được ba gian nhà gạch sơ sài trên nền chùa cũ để thờ Phật. Hiện có một vị sư trụ trì, vị sư duy nhất tại tỉnh Quảng Ninh, nhưng cũng là người Hà Nam Ninh lên, chứ ở địa phương không còn sư nữa. Tôi được biết hầu hết các tỉnh trên Việt Bắc không còn chùa còn sư nữa. Ngay tại tỉnh Thái Bình chỗ tôi ở, cả tỉnh cũng chỉ còn tám vị sư tăng già tuổi, từ bảy mươi trở lên và mấy chục sư ni vừa già vừa trẻ. Sau khi về Vũ Đoài được vài tuần, tôi nghe bộ Văn Hóa của nhà nước cộng sản Việt Nam đã xếp hạng chùa Quỳnh Lâm vào hàng "di tích lịch sử" có cấp bằng và tổ chức rước hẳn hoi. Còn gì nữa đâu mà di tích với lịch sử! Đến ngay cái nền nhà nuôi lợn Hợp tác xã trước cửa chùa cũng chẳng còn !

Chùa Hoa Yên trên núi Yên Tử bị đốt cháy, chùa Phật Tích ở Bắc Ninh xây dựng ở đời Lý cũng đã bị phá hủy. Chùa Thầy ở huyện Thạch Thất tỉnh Sơn Tây, nơi thờ Thiền sư Từ Đạo Hạnh, cũng được xây dựng vào đời Lý, đang trong tình trạng xuống cấp nặng nề, ngôi nhà Tổ phải chống đỡ bằng nhiều cây tre, chưa biết sẽ sụp đổ lúc nào. Chùa Pháp Vũ (chùa Đậu) ở phủ Thường Tín tỉnh Hà Đông, nơi có nhục thân (xác khô) của hai vị Thiền sư đời Lê, một vị đã bị cưa trán ra để khám nghiệm! Chùa chính đã bị phá, còn ngôi bái đường và nhà tổ trong tình trạng xuống cấp. Chỉ có chùa Thiên Trù và chùa Quỳnh Lâm là mỗi chùa có một vị sư, còn các chùa kia không có sư. Những chùa được xếp hạng di tích lịch sử do ti Văn hóa địa phương quản lí. Du khách đến tham quan hoặc khách hành hương phải mua vé vào cửa và trả tiền bến đậu xe. Hôm đoàn chúng tôi đến lễ, đậu xe chưa đến nửa giờ mà phải trả năm nghìn đồng. Diệt Phật, đồng thời, bán Phật!

Trên đây là mấy ngôi chùa điển hình mà tôi đã đến tận nơi thấy tận mắt và kể lại sơ qua thế thôi, chứ nếu đi sâu vào chi tiết thì còn nhiều điều thương tâm lắm, việc ấy để cho các nhà viết sử Phật giáo sau này.

Đến năm 1954, cộng sản về tiếp thu Hà Nội, đã hoàn toàn làm chủ miền Bắc từ vĩ tuyến 17 trở ra, bắt đầu thực hiện chủ nghĩa cộng sản, nhất là sau cuộc căm thù đấu tranh giai cấp, cải cách tố khổ, thì ở nông thôn, việc phá chùa đình miếu mạo không còn phải e ngại gì nữa. Nhiều đình chùa bị trưng dụng làm nhà kho chứa thóc lúa, nông cụ, hoặc phá đi lấy gạch, gỗ để làm nhà kho, sân kho, nhà nuôi lợn v.v... của Hợp tác xã; cột đình cột chùa bằng gỗ lim đưa ra bắc cầu qua các rạch nước ở ngoài đồng cho những người gánh phân gánh lúa đi qua; các tấm gỗ câu đối sơn son thếp vàng thì dùng đóng ghế dài cho học sinh ngồi học, úp mặt chữ xuống dưới. Đó là ở nông thôn, còn ở thành thị thì chùa được trưng dụng làm cơ sở sản xuất công nghệ, làm trụ sở Uệy ban, làm nơi hội họp, cũng có chỗ làm nhà chăn nuôi. Và để thế tục hóa, chùa nào có sư ở thì dân chúng vào chiếm các nhà phụ cận của chùa để ở, chỉ trừ chùa và nhà Tổ là để cho sư, còn các nhà họ chiếm hết. Họ nấu nướng, ăn uống, phơi áo quần chăn mền, nhìn vào không còn gì là vẻ tôn nghiêm của ngôi chùa nữa.

Tôi còn nhớ năm 1975, Hòa thượng Thích Đôn Hậu về chùa Ấn Quang kể lại tình trạng chùa Quán Sứ tại Hà Nội, dân chúng vào ở đầy trong chùa, hệt như dãy chung cư, chứ không còn là chùa nữa. Rồi Hòa thượng kể Hòa thượng có nói với sư cụ Trí Độ như sau: "Cụ ở đây mà để cho ngôi chùa thế này à?". Sau đó Hoà thượng Đôn Hậu kể tiếp, tại một cuộc họp ở Liên minh Dân chủ Dân tộc và Hòa bình do ông Trịnh Đình Thảo chủ tọa, trong bài phát biểu của mình, sư cụ Trí Độ nói: "Từ ngày được ánh sáng của chủ nghĩa Mác soi đường, tôi mới thấy rõ con đường mình đi!". Thì ra hàng mấy chục năm xuất gia theo Phật, sư cụ vẫn đi trong đêm tối; nhưng đến ngày đó và mãi cho đến lúc chết, tuy không mặc áo Phật, mà mặc áo cộng sản, nhưng sư cụ vẫn cứ ở chùa và ăn cơm Phật! Khi nghe sư cụ Trí Độ nói thế, một bà Phật tử trước là hiệu trưởng trường Đồng Khánh (bà Nguyễn Đình Chi) ở Huế, cũng ra "bưng" năm Mậu Thân (1968), tỏ vẻ khinh thị. Rồi đến bữa ăn, bà này đến chỗ Hòa thượng Đôn Hậu xin một món ăn chay, vì bà ăn mười ngày chay mỗi tháng, mà ngày hôm ấy là ngày 15; một cán bộ nói với bà: "Chị đã đi làm cách mạng mà ăn chay làm gì? Sư cụ Trí Độ kia có kiêng gì đâu?". Bà ta trả lời: "Trước đây tôi đã qui y Phật và tự nguyện sẽ ăn chay mười ngày, chứ Phật không bắt buộc. Đã tự nguyện như thế mà không giữ thì tức tôi đã phản bội chính tôi, vậy là một Phật tử xấu. Và đã là một Phật tử xấu thì làm sao trở thành người cách mạng tốt cho được". Người cán bộ kia phải xin lỗi.

Tóm lại, các chùa đều bị trưng dụng để làm cơ sở này cơ sở khác, còn không thì cho người tại gia vào ở làm mất vẻ tôn nghiêm của chùa và thế tục hóa dần dần. Về các cơ sở vật chất thì phá hoại bằng những cách như trên, còn đối với cơ cấu tổ chức của giáo hội thì cộng sản dùng thủ đoạn quen thuộc là "gậy ông đập lưng ông", nghĩa là dùng tăng ni chia rẽ tăng ni để phá hoại nội bộ giáo hội.

Trước năm 1954, Hòa thượng Thích Tố Liên là Trị sự trưởng lãnh đạo Giáo hội Phật giáo miền Bắc nằm trong Tổng hội Phật giáo Việt Nam toàn quốc, gồm sáu tập đoàn Tăng già và Cư sĩ Bắc Trung Nam. Tổng hội Phật giáo Việt Nam là thành viên sáng lập của hội Phật giáo thế giới. Năm 1957, một số tăng ni hoặc bị hăm dọa, hoặc vì sợ hãi, hoặc cũng có những người vì động cơ danh lợi thúc đẩy, nên đã họp nhau tại chùa Quán Sứ để tố khổ Hòa thượng Thích Tố Liên (ta còn nhớ trong thời cải cách tố khổ, con tố cha, vợ tố chồng, trò tố thầy, tín đồ tố sư, tố Linh mục, anh em họ hàng tố lẫn nhau. Bây giờ đến lượt tăng ni tố tăng ni! "văn hóa" cộng sản là thế đó!), rồi đem chùa Quán Sứ hiến cho "Phật giáo cứu quốc", mời sư cụ Trí Độ về ở chùa Quán Sứ và thành lập hội Phật giáo mới là Hội Phật giáo thống nhất Việt Nam do cụ Trí Độ làm Hội trưởng, thế là Giáo hội Phật giáo truyền thống tại miền Bắc tan rã. Hai mươi bốn năm sau (1957-1981) họ cũng làm hệt như vậy đối với Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất tại miền Nam (sẽ nói sau).

Về mặt tinh thần thì phá hoại bằng cách chùa nào cũng phải nuôi lợn nghĩa vụ, thậm chí các sư giết lợn gà là thường. Nuôi lợn là để phá bầu không khí thanh tịnh trang nghiêm của cảnh chùa, giết lợn giết gà là hủy hoại tinh thần từ bi và giới sát của đạo Phật để thế tục hóa đạo Phật, đó là cách tiêu diệt đạo Phật nhanh nhất.

Trước năm 1954, chùa Quán Sứ là trụ sở Trung ương của Giáo hội Phật giáo miền Bắc, trong đó có viện Phật học đào tạo tăng ni, trường trung học Khuông Việt dạy chương trình thế học, nhà in Đuốc Tuệ in Nguyệt san Phương Tiện và kinh sách, có thư viện v.v..., nhưng sau khi cộng sản tiếp thu Hà Nội thì Viện Phật học phải giải tán để tăng ni ở đâu về đó lo việc tăng gia sản xuất, trường Trung học Khuông Việt đóng cửa, thư viện khóa kín, Nguyệt san Phương Tiện đình bản và nhà in Đuốc Tuệ bị chiếm dụng. Nghĩa là tất cả mọi hoạt động của Giáo hội hoàn toàn bị đình đốn, hệt như trong miền Nam năm 1975.

Bây giờ Hội Phật giáo thống nhất Việt Nam về đóng đô ở chùa Quán Sứ đã làm được những gì cho Phật giáo miền Bắc? Phải trả lời ngay là chẳng làm được gì cả. Tại sao ? Bởi vì chủ trương của cộng sản là tiêu diệt Phật giáo trong ngắn hạn cũng như trong dài hạn, như vậy làm sao họ để cho Hội Phật giáo hoạt động được? Hơn nữa, như lời Hòa thượng Thích Đôn Hậu kể mà tôi vừa nhắc lại ở trên, cụ Trí Độ được ánh sáng của chủ nghĩa Mác soi đường cụ mới thấy rõ đường đi, thì dĩ nhiên bây giờ cụ phải đi con đường sáng của cụ để truyền bá chủ nghĩa Mác, chứ cụ đâu có làm gì cho Phật giáo nữa. Còn cái Hội Phật giáo thống nhất Việt Nam của cụ chẳng qua chỉ dùng để phục vụ đường lối chính trị của đảng cộng sản Việt Nam bằng cách thỉnh thoảng đi dự một vài hội nghị về hòa bình do phe cộng sản quốc tế tổ chức họp tại Liên xô, Mông Cổ để lên án giặc Mỹ xâm lược, đồng thời, cũng để cho miền Nam và thế giới biết, dưới chế cộng sản miền Bắc, tôn giáo vẫn được tôn trọng, thế thôi, chứ thực chất thì Hội Phật giáo Thống nhất Việt Nam của cụ Trí Độ chẳng làm gì cho Phật pháp, nếu không nói là ngồi làm bù nhìn để hợp thức hóa cho việc cộng sản tiêu diệt Phật giáo. Không phải tôi nói ngoa đâu, lịch sử còn đó.

Xuất phát từ âm mưu tiêu diệt Phật giáo ngắn hạn cũng như trong dài hạn, từ năm 1954 trở đi, cộng sản chỉ cho mỗi chùa một sư già ở làm chủ hộ, còn sư trẻ (nếu có, hiếm lắm ) phải về quê cũ sản xuất làm ăn. Sau khi sư già chết, không ai kế tiếp, chùa bỏ không, nếu ở thành thị thì bị trưng dụng làm cơ sở sản xuất, còn ở nông thôn thì ủi bằng đi để làm ruộng cấy lúa. Giả sử (hiếm lắm) có ai muốn đi tu thì phải làm đơn và khai lí lịch nộp cho công an, với lí do nhà nước chọn công dân tốt cho đi tu để ích đạo lợi đời, nhưng có người chờ đến già mà vẫn chưa được phép! Vì Hiến pháp nhà nước cộng sản có điều khoản "tự do tín ngưỡng, tự do không tín ngưỡng" (một cách chơi chữ), vậy người có tín ngưỡng muốn đi tu, chẳng lẽ lại nói huỳch toẹt ra rằng anh hay chị không được phép đi tu à? Thôi thì nại lí do "chọn công dân tốt ích đạo lợi đời" để ngăn chặn là hợp hiến hợp pháp nhất! Tôi nghe người ta kể lại thị xã Thái Bình có mấy người xin đi tu, chờ đợi đã lâu mà chẳng được phép, bèn tổ chức "thụ giới chui" ở một chùa nọ bị công an đến tóm cổ hết! Dưới chế độ cộng sản tất cả thượng vàng hạ cám đều do nhà nước quản lí, nếu tư nhân muốn làm gì riêng phải làm lén lút, họ gọi là "làm chui" như những người vượt biên gọi là đi chui, bán phở lén gọi bán chui, rồi đến đi tu cũng thụ giới chui! Những người muốn xuất gia làm tăng ni thì như thế. Còn thanh thiếu niên nam nữ ngoài đời thì đoàn thể nào vào đoàn thể ấy rồi, nếu em nào lai vãng đến chùa thì bị đoàn thể phê bình chế giễu, vì thế chẳng em nào dám bén mảng đến chùa; câu "Trẻ vui nhà già vui chùa" được ứng dụng một cách triệt để. Như thế là ngoài đời cũng vậy, chỉ còn một số rất ít các cụ già trầu móm mém hơn bảy tám mươi thuộc lớp người cũ còn lại là được tự do tín ngưỡng đến chùa, những người ấy qua đời rồi thì tín đồ tại gia cũng hết !

Một em bé trai mười hai tuổi ở thị xã Thái Bình chỉ thích đi tu, em thường đến chùa Kỳ Bá tụng kinh, có khi ở lại chùa mấy hôm liền. Tối đến công an vào chùa đuổi, em chui vào gầm giường hoặc trèo lên cây để trốn. Sau nhiều lần như thế, bố mẹ em được gọi lên ty công an bảo phải đến chùa bắt em về và ra lệnh cho sư già ở chùa không được chứa chấp, nếu không nghe sẽ bị "xử lí". Đó là âm mưu tiêu diệt mầm non của Phật giáo và cộng sản hy vọng trong vòng năm mươi năm là Phật giáo sẽ bị tiêu diệt hoàn toàn trên cả nước. Nhưng người xưa đã nói "Mưu sự tại nhân, thành sự tại thiên", người Tây phương cũng có câu tương tự: "Man proposes, God disposes", nghĩa là con người mưu tính là một chuyện, nhưng nên việc hay không thì lại do trời. Mà thực vậy, bức tường Bá Linh đã sụp đổ, khối cộng sản Đông âu và Liên xô đã tan rã, cộng sản Việt Nam không còn đủ thì giờ để thực hiện được việc đó nữa đâu. Thời đại "nhất đội nhì trời" không còn nữa và chủ nghĩa duy ý chí "Thằng trời đứng ra một bên, để cho thủy lợi tiến lên thay trời" cũng chẳng còn giá trị gì nữa. Khối cộng sản Liên xô sụp đổ cũng chỉ vì thái độ kiêu căng ngạo mạn và ngông cuồng ấy. Nhà sử học Hy Lạp sống vào thế kỷ thứ năm trước tây lịch là ông Herodotus đã nói: "Vận mệnh của một chế độ chia làm ba giai đoạn: giai đoạn thứ nhất là thành công, giai đoạn thứ hai là kiêu căng, giai đoạn thứ ba là sụp đổ".

Đến năm 1975, cộng sản toàn thắng miền Nam về tiếp thu Sài gòn. Đối với Phật giáo, đại khái cộng sản cũng làm y hệt như ngoài miền Bắc, nghĩa là cũng chiếm dụng các chùa, các cơ sở giáo dục, văn hóa, như các trường Trung tiểu học Bồ đề, viện Đại học Vạn Hạnh, các Trung tâm văn hóa, từ thiện xã hội từ Trung ương đến các địa phương trên toàn miền Nam, tất cả đều bị chiếm dụng vào các mục đích đại để cũng như ngoài miền Bắc. Các viện Phật học phải giải tán để tăng ni sinh về quê sản xuất, các chùa chỉ để một vài sư già, sư trẻ phải đi nghĩa vụ hoặc về quê làm ruộng, đại khái cũng hệt như ngoài miền Bắc. Về cơ cấu tổ chức của Phật giáo thì Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất (GHPGVNTN) là đối tượng chính mà cộng sản, bằng mọi cách, phải triệt hạ cho bằng được và, dĩ nhiên, cũng dùng thủ đoạn gậy ông đập lưng ông. Nhưng thủ đoạn nầy chỉ áp dụng được với Phật giáo mà thôi, chứ không dùng được với Công giáo mà họ gọi là "cứt gà sáp" như đã nói ở trên.

Trước hết, cộng sản đẻ ra cái gọi là "Ban liên lạc Phật giáo yêu nước" do sư cụ Minh Nguyệt làm trưởng ban, đặt trụ sở tại chùa Vĩnh Nghiêm ở đường Công Lý Sàigòn. Đứng về phương diện luận lí mà nói, đã có phật giáo yêu nước thì tất phải có Phật giáo không yêu nước, hoặc nói theo ngôn ngữ của cộng sản là "Phật giáo phản động". Vậy cái Phật giáo phản động ấy là Phật giáo nào? Đích thị là GHPGVNTN rồi chứ còn ai nữa. Như vậy, theo chủ trương căm thù đấu tranh giai cấp của đảng cộng sản thì, tất nhiên là Phật giáo yêu nước phải đấu tranh để tiêu diệt Phật giáo phản động. Oái ăm thay! Một đảng chính trị như đảng cộng sản Việt Nam, lúc nào cũng hô hào đoàn kết, đại đoàn kết, mà lại chủ trương căm thù đấu tranh giai cấp, thì đoàn kết làm sao? Thật là mâu thuẫn.

Phật giáo Việt Nam có mặt trên đất nước này suốt dòng lịch sử trên dưới hai nghìn năm, đã cùng chung một vận mệnh thăng trầm vinh nhục, qua các thời đại, đã có lần nào Phật giáo phản bội dân tộc chưa, để giờ đây phải lập ra Phật giáo yêu nước, yêu chủ nghĩa xã hội để đấu tranh căm thù với Phật giáo phản động ? Từ đó, cộng sản dùng các vị tăng "yêu nước, yêu chủ nghĩa xã hội" đi hăm dọa thúc ép tăng ni trong GHPGVNTN gia nhập Ban liên lạc Phật giáo yêu nước. Hai người hăng hái và đắc lực nhất trong việc này là sư cụ "nằm vùng" Pháp Lan và sư Từ Hạnh. Tuy bị hăm dọa, ép buộc, khủng bố, nhưng chỉ có một số rất ít tăng ni nằm vùng hoặc vì quá sợ hãi mà phải tham gia cho yên thân, còn tuyệt đại đa số tăng ni trong Giáo hội, từ Quảng Trị vào đến Cà mau, vẫn một lòng trung thành với Giáo Hội và kiên trì chịu đựng.

Đến tháng 11 năm 1975, xẩy ra vụ tự thiêu tập thể của mười hai vị tăng ni ở Thiền viện Dược sư tại Rạch Gòi thuộc tỉnh Cần Thơ để phản đối cộng sản đàn áp Phật giáo. Mãi đến tháng 12 năm 1976 vụ ấy mới được báo cáo lên Giáo hội Trung ương. Viện Hóa Đạo GHPGVNTN gửi văn thư khiếu nại với nhà nước cộng sản, yêu cầu điều tra sự việc. Ông Mai Chí Thọ, lúc đó là Giám đốc sở Công an thành phố Sàigòn, đến chùa Ấn Quang đề nghị Viện Hóa Đạo cử người đi điều tra (xin nói lại ở đây là kể từ ngày 30-4-1975 đến hôm ấy, Viện Hóa Đạo đã gửi tất cả sáu mươi hai (62) văn thư lên nhà nước cộng sản phản đối và yêu cầu giải quyết các vụ bắt bớ tăng ni Phật tử và đập tượng phá chùa, lấy chùa làm nhà đở đẻ, nhưng không hề được trả lời. Đây là lần đầu tiên một thư khiếu nại của Viện Hóa Đạo được đáp ứng và dĩ nhiên họ đã sắp đặt như thế nào để có lợi cho họ rồi đó). Bấy giờ Thượng tọa Trí Tịnh đề nghị rằng sự việc xẩy ra đã hơn một năm rồi, thôi, xin bỏ qua! Nhưng cố Thượng tọa Thiện Minh, Thượng tọa Huyền Quang và tôi phản đối đề nghị ấy và yêu cầu Viện Hóa Đạo cử người đi điều tra, Viện liền cử Đại Đức Hộ Giác và tôi đại diện Viện đi điều tra, nhưng sau Đ.Đ. Hộ Giác bận việc khác nên chỉ có tôi đi. Tất nhiên, như tôi vừa nói ở trên, mọi việc đã được nhà nước cộng sản sắp đặt cả rồi, đi điều tra chẳng qua chỉ là để hợp thức hóa cho cái kết quả mà họ đã định sẵn.

Trong cuộc điều tra này, có ông Huỳnh Châu Sổ, Phó Thanh tra Trung ương từ Hà Nội vào, chủ trì cuộc họp. Ngoài ra có nhiều cán bộ địa phương, trong đó tôi để ý có một người to béo vạm vỡ, lúc nào cũng nhìn tôi trừng trừng với nét mặt hầm hầm dữ tợn, đằng đằng sát khí như muốn ăn tươi nuốt sống người ta, hình như để uy hiếp tinh thần tôi. Về giới sư thì có sư cụ Thiện Hào và sư Huệ Thành là thầy của Đại Đức Thích Huệ Hiền. Có một số "nhân chứng" được lựa chọn từ địa phương xẩy ra vụ tự thiêu được đưa lên ngồi sẵn đó. Sau ngày đầu làm việc tại thành phố Cần Thơ, tôi yêu cầu được về tận Thiền viện Dược sư cách thành phố Cần Thơ năm mười cây số để xem xét hiện trường, nhưng họ bảo là về đó không an ninh! Tôi nói bây giờ chính quyền cách mạng làm chủ cả nước còn ai làm gì nữa mà không an ninh?. Nhưng đó chỉ là cái cớ, chứ thực thì Thiền viện Dược sư đã bị san bằng và xới đất lên trồng chuối rồi. Sau khi mười hai tăng ni tự thiêu, cán bộ địa phương kéo mười hai cái xác ra để bên lề đường cho những người qua lại được thấy, sau đó hai ngày họ phun xăng vào đốt rồi tất cả phần còn lại của mười hai xác chết được dồn vào hai cái quan tài và họ đưa đi chôn ở đâu, không ai biết.

Sau ba ngày làm việc, ông Huỳnh Châu Sổ đúc kết biên bản cuộc điều tra qua mấy điểm dưới đây:

1) Huệ Hiền (tức vị trụ trì Thiền viện Dược sư đứng đầu trong mười hai tăng ni tự thiêu) trước đây làm chỉ điểm (CIA) cho Mỹ Ngụy, sau ngày miền Nam được hoàn toàn giải phóng, y sợ bị cách mạng trừng trị nên đã tự tử và bắt mười một người khác chết theo y;

2) Trước đây Huệ Hiền được Mỹ Ngụy cung cấp lương thực đầy đủ, nhưng nay thấy không còn phương tiện sinh sống nên phải tự tử tập thể.

3) Huệ Hiền đã dâm ô hủ hóa với mấy ni cô, sợ việc ấy đổ bể, nên y đã tự tử và đốt chùa cùng với mười một người khác.

Các nhân chứng cũng nói hệt như vậy và nhất là sư Huệ Thành, thầy của Đ.Đ. Huệ Hiền cũng công nhận như vậy! Sau đó họ bảo tôi kí vào biên bản đúc kết ấy. Tôi nói tôi không kí, vì nội dung biên bản đúc kết hoàn toàn trái ngược với bức thư tuyệt mệnh của Đ.Đ. Thích Huệ Hiền đề ngày 29 tháng 9 năm Ất Mão (2-11-1975) nên tôi không kí. Để chứng minh, tôi đọc nguyên văn bức thư tuyệt mệnh ấy như sau:

Ngày 29-9 Âm lịch 75

Nam mô Đông phương Giáo chủ Lưu Ly Quang Như Lai tác đại chứng minh.

Đệ tử chúng con xuất gia, Thiền viện Dược sư, kính dâng lên chư Phật Bồ tát Thánh hiền tăng lời tâm huyết phát nguyện của đệ tử tăng ni toàn chùa, thiêu thân ngày 29 tháng 9 năm Ất Mão, tức ngày 2 tháng 11 năm 75.

- Để bảo vệ tiền đồ Phật pháp, chánh pháp Như lai bất diệt;

- Để bảo vệ phẩm giá và đức hạnh người xuất gia trường cửu;

- Để bảo vệ ngôi Tam bảo Thiền viện Dược sư bất diệt;

- Tha thiết kêu gọi chính phủ cách mạng lâm thời cộng hòa miền Nam Việt Nam, Mặt trận giải phóng tôn trọng triệt để tự do tín ngưỡng của các tôn giáo đúng mức;

- Tha thiết kêu gọi tăng ni đồng bào Phật tử các giới Việt Nam thân yêu phải nhứt quyết nhứt tâm bảo vệ trái tim Bắc và Nam theo lời di chúc Hồ chủ tịch vĩ đại, Bắc và Nam chỉ một trái tim, nếu một ai xé nát trái tim người Việt Nam, không luận kẻ thù hay kẻ thân đều là phản bội lời di chúc của Bác Hồ chí minh vĩ đại. Kẻ ấy là nối giáo cho giặc, phản bội dân tộc cách mạng.

- Lá cờ Phật giáo thế giới, GHPGVNTN tiêu biểu cho sáu hào quang chư Phật và Lục thông chư Phật bất diệt trường cửu;

Cầu nguyện độc lập tự do hòa bình trường cửu bất diệt.

Sau đó, Đ.Đ. Thích Huệ Hiền ghi tên mười hai tăng ni do Đại Đức đứng đầu, phát nguyện tự thiêu vì bảy thỉnh nguyện kể trên và Đại Đức kết luận:

- Chết vinh hơn sống nhục

- Chấp nhận chết bảo vệ lí tưởng

- Chấp nhận chết bảo vệ lương tâm

- Chấp nhận chết bảo vệ chân lí

Đại diện tăng ni Trụ Trì

Ấn ký

Đại Đức Thích Huệ Hiền

Trên đây là bức thư tuyệt mệnh của Đ.Đ.Thích Huệ Hiền viết trước khi tự thiêu cùng với mười một vị tăng ni khác. Nội dung bức thư, như tôi đã nói trên, hoàn toàn khác với ba điểm đúc kết biên bản điều tra của ông Huỳnh Châu Sổ, do đó tôi đã không thể kí vào biên bản ấy. Họ giữ tôi lại thêm một ngày một đêm để làm áp lực buộc tôi phải kí, họ định dùng tôi để hợp thức hóa cho những điều dối trá của họ, nhưng tôi đã kiên quyết từ chối. Sau cùng họ thấy không lung lạc được nên đành phải đưa tôi về chùa Ấn Quang. T.T. Huyền Quang và các sư thấy tôi về rất mừng, vì đã ba bốn hôm không thấy tôi về cũng lo. Cuộn băng ghi lại những điều tôi phát biểu trong cuộc họp điều tra thì họ tịch thu, không cho tôi mang về, viện lí do đó là "bí mật quốc gia"!

Trong chuyến đi này, tôi được biết một số chi tiết nhỏ, nhưng mang một ý nghĩa quan trọng. Vào một buổi sáng, tôi vừa điểm tâm xong, một ông cán bộ vào chỗ tôi nói chuyện chơi trước khi ra phòng họp. Ông nói về việc phát triển đất nước, về xây dựng chủ nghĩa xã hội. Nhưng ông nói: "Chúng tôi chưa phải là những người xây dựng chủ nghĩa xã hội chuyên môn, chỉ còn đang thực tập thôi, nhưng làm mãi cũng phải được. Cũng như người thợ mới tập đóng cái bàn (vừa nói ông vừa chỉ vào bàn ăn), đóng cái này chưa được thì đóng cái khác, cứ đóng mãi rồi cũng phải được". Tôi nghe mà giật mình, vì người cộng sản quan niệm việc quản lý một đất nước sao mà quá đơn giản! Đến tháng 2 năm 1982, cộng sản đưa tôi ra Bắc quản thúc tại xã Vũ Đoài, huyện Vũ Thư, tỉnh Thái Bình, tôi mới nghiệm ra là lời nói của ông cán bộ kia quả đã đúng. Về nông nghiệp, như tôi đã nói ở phần 1, năm 1956, sau cuộc căm thù đấu tranh giai cấp, giết các địa chủ, đảng cộng sản chia ruộng cho dân làm chủ và lập Tổ đổi công làm lẫn cho nhau: đây là người thợ đóng cái bàn đầu tiên. Đến năm 1960, đảng bắt đầu góp hết ruộng vào Hợp tác xã lớn để làm chủ tập thể: đây là đóng cái bàn thứ hai. Đến năm 1980, thấy lối làm ăn tập thể thất bại, đảng đề ra chính sách khoán sản phẩm: đây là đóng cái bàn thứ ba. Đến năm 1985, chính sách khoán sản phẩm cũng chẳng ra gì, đảng bèn cho khoán trắng: đây là đóng cái bàn thư tư! Nhưng cái bàn thứ tư này lại càng méo mó, xấu xí hơn ba cái trước nhiều, vì nó đã quay 180 độ để trở lại chế độ phát canh thu tô của địa chủ ngày trước mà cộng sản đã giết! Thế mới vỡ lẽ họ chỉ mò mẫm gặp gì làm nấy, hễ được thì làm, hỏng thì bỏ. Chỉ khổ cho những người dân hiền lành đã phải làm vật hy sinh để cho một nhóm người thử nghiệm cái tư tưởng ngông cuồng và thiển cận của họ suốt một phần tư thế kỷ (1960-1985), đã phải đổ ra bao nhiêu của, sức lực và mồ hôi nước mắt để xây dựng Hợp tác xã làm chủ tập thể kiểu cộng sản, thì tất cả giờ đây đã bị phá toang. Đây tôi chỉ nói về nông nghiệp thôi, vì tôi sống ở nông thôn, còn các lãnh vực kinh tế cộng sản chỉ huy khác thì tôi không được biết. Nhưng chắc cũng thế thôi, bởi vì cái bàn đóng lần chót này cũng là cái bàn kinh tế thị trường tự do kiểu tư bản!

Trở lại cuộc điều tra vụ mười hai tăng ni tự thiêu tại tỉnh Cần Thơ để phản đối chính sách đàn áp Phật giáo, mà cộng sản định gán cho Đ.Đ.Thích Huệ Hiền tội làm chỉ điểm cho Mỹ Ngụy và tội hủ hóa để khiến cho cái chết của mười hai vị tăng ni trở thành vô nghĩa, nhưng mưu đồ ấy đã thất bại, vì tôi đã không kí vào biên bản đúc kết để hợp pháp hóa cho mưu đồ ấy của họ.

Từ đó tình hình mỗi ngày một căng thẳng và ngày 3-3-1977 đã đến điểm cao nhất khi cộng sản đến chiếm dụng Cô Nhi Viện Quách Thị Trang ở đường Trần Quốc Toản (phía sau Việt Nam Quốc tự mà trước đó họ đã chiếm rồi và bây giờ một rạp chiếu bóng rất lớn đã được xây lên tại đó), giật tấm bảng mang danh hiệu GHPGVNTN và liệng xuống lề đường. Ngay 11 giờ hôm ấy, nhân danh Tổng Thư Kí Viện Hóa Đạo, tôi đã kí một thông tư kêu gọi tăng ni sẵn sàng hy sinh để bảo vệ đạo pháp và danh dự của Giáo hội. Đến ngày 6-4-1977, T.T. Huyền Quang và tôi cùng một số vị khác bị bắt vào nhà tù Phan Đăng Lưu ở Bà Chiểu Gia Định. Ít lâu sau, tôi được biết cố T.T. Thích Thiện Minh cũng bị bắt và đã chết một cách bí ẩn tại sở công an Sài gòn ở đường Trần Hưng Đạo. Thật là đau đớn, xót xa. Đến ngày 10-12-1978, chúng tôi bị đưa ra tòa xét xử, T.T. Huyền Quang và tôi được tha về, còn các vị khác phải ở thêm mỗi người mấy tháng tù nữa.

Sau khi được tha về, chúng tôi lại tiếp tục làm việc Giáo hội như cũ. Khoảng đầu năm 1980, lần đầu tiên cố Hòa thượng Thích Trí Thủ, Viện trưởng Viện Hóa Đạo, T.T. Trí Tịnh, Tổng vụ trưởng Tổng vụ Tăng sự và TT. Minh Châu, Tổng vụ trưởng Tổng vụ Giáo dục, được nhà nước cộng sản mời với tư cách cá nhân đi dự cuộc "gặp mặt đầu năm", do ông Nguyễn Văn Linh, Bí Thư Thành ủy chủ trì. Ba vị về cho chúng tôi biết có cả Hòa thượng Thích Đôn Hậu và các vị đứng đầu các tổ chức Phật giáo trong cả nước cũng có mặt và mục đích cuộc họp mặt là bàn việc thống nhất Phật giáo Việt Nam. Tôi nghĩ hơi lạ, việc thống nhất Phật giáo mà sao ông Bí Thư Thành ủy của đảng cộng sản lại chủ trì cuộc họp bàn, thế đảng cộng sản còn kiêm cả Giáo hội nữa à? Sao mà tham thế? Nhưng lúc ấy chúng tôi nghe các vị thuật lại thì cũng chỉ biết thế thôi chứ không có ý kiến gì, bởi lẽ ba vị được mời dự họp với tư cách cá nhân chứ không liên quan gì đến Giáo hội.

Từ đó trở đi, thỉnh thoảng ba vị lại đi họp rồi về trình bày lại với Ban Chỉ Đạo Viện Hóa Đạo các ý kiến trong cuộc họp và yêu cầu Viện Hóa Đạo cho biết ý kiến. T.T. Huyền Quang và tôi chủ trương chỉ khi nào Viện Hóa Đạo chính thức được mời và cử đại diện dự họp đường hoàng thì Viện sẽ có ý kiến ngay giữa cuộc họp, còn giờ đây ba vị đi họp với tư cách cá nhân thì Viện không dám lạm bàn. Vả lại, việc thống nhất Phật giáo là việc của chư tăng hai miền, sao không để cho chư tăng Bắc, Nam họp lại với nhau bàn bạc, mà nhà nước lại can thiệp vào làm gì. Đất nước đã thống nhất, dĩ nhiên Phật giáo cũng mong được thống nhất, nhưng chúng tôi cho đó là việc của Phật giáo hai miền chứ không phải công việc của nhà nước.

Về sau, cố Hòa thượng Trí Thủ được ai đó bầu làm Trưởng ban vận động Thống nhất Phật giáo, T.T. Trí Tịnh Phó trưởng ban và T.T. Minh Châu làm Thư kí. Từ đó ba vị đi họp luôn, có khi ra họp ngoài Hà Nội, và cứ mỗi lần đi họp về, các vị đưa vấn đề ra trước Viện Hóa Đạo xin góp ý kiến, chúng tôi vẫn không dám bàn đến, lí do là Viện Hóa Đạo có chính thức được mời dự bất cứ cuộc họp nào bàn việc thống nhất Phật giáo đâu, kể cả cái Ban vận động thống nhất Phật giáo do ai lập ra và lập ra tại đâu, Viện Hóa Đạo cũng không biết, thì làm sao Viện góp ý cho được.

Thế rồi vào khoảng cuối năm 1980, văn phòng Viện Hóa Đạo nhận được một văn thư do cố Hòa thượng Trí Thủ ký tên với tư cách Trưởng ban vận động thống nhất Phật giáo, xin đến thăm xã giao Viện Hóa Đạo và các vị giáo phẩm của Viện và sẽ được tiếp đón vào ngày giờ nào. Tôi thảo văn thư phúc đáp là sẽ hân hạnh tiếp đón phái đoàn vào ngày giờ đó và xin cho trước một bản danh sách các thành viên và chức vụ trong phái đoàn để tiện việc sắp xếp. Hôm sau tôi nhận được bản danh sách từ chùa Xá Lợi gửi đến, gồm có: sư cụ Phạm Thế Long (ngày trước ngoài Bắc các sư đều lấy họ Thích, nhưng từ khi cộng sản cai trị, họ bắt phải gọi theo họ thế tục, cho nên mới là Phạm Thế Long. Còn chùa thì cũng được coi như một hộ, tức như một gia đình, chứ không gọi là chùa (đây cũng nằm trong âm mưu tiêu diệt Phật giáo dần dần), người mà ba mươi năm về trước (1945-1980) đã từng kêu gọi thanh niên tăng miền Bắc lúc bấy giờ là "hãy tạm xếp cà sa khoác chiến bào", hiện là Phó chủ tịch Quốc hội cộng sản, làm Trưởng đoàn, cố Hoà thượng Trí Thủ Phó trưởng đoàn, T.T. Trí Tịnh đoàn viên, T.T. Minh Châu đoàn viên, Đ.Đ.Từ Hạnh (cựu Chánh đại diện GHPGVNTN tỉnh Gia Định) đoàn viên. Khi nhìn qua danh sách của phái đoàn Ban vận động thống nhất Phật giáo đến thăm "xã giao" Viện Hóa Đạo, tôi cứ cười thầm một mình và liên tưởng đến hai câu thơ đầu trong bài thơ "Nói chuyện với ảnh" của nhà thơ Tản Đà:

Người đâu cũng giống đa tình

Ngỡ là ai lại là mình với ta...

vì trong bản danh sách, trừ cụ Phạm Thế Long ra, còn đều là người "trong nhà", và cái "tréo cẳng ngỗng" đến mỉa mai ở đây là các vị "chủ nhân ông" đã tự biến mình thành những người khách xa lạ về "thăm xã giao" nhà mình !

Đúng ngày giờ đã định, phái đoàn đến Viện Hóa Đạo, T.T. Huyền Quang, T.T. Pháp Tri và tôi tiếp phái đoàn. Sau khi nghi thức giới thiệu, sư cụ Phạm Thế Long đứng lên nói: "Thưa qúi vị! Hôm nay phái đoàn Ban vận động thống nhất Phật giáo chúng tôi đến đây, trước hết, để thăm Tổ đình Ấn Quang và tăng ni chùa Ấn Quang, cầu chúc quí vị dồi dào sức khoẻ và đạt nhiều thành tích tốt đẹp. Sau xin thưa để quí vị rõ là Đảng chủ trương đất nước đã thống nhất, thì Phật giáo cũng phải thống nhất. Vậy mục đích chúng tôi đến đây hôm nay, như vừa nói ở trên để thăm Tổ đình Ấn Quang và cũng để xin quí vị góp ý kiến cho việc thống nhất Phật giáo mà sẽ là ngôi nhà chung cho Phật giáo cả nước".

Khi cụ Phạm Thế Long dứt lời, ngồi xuống, tôi gọi thư kí đưa ra hai văn thư của Ban vận động thống nhất Phật giáo xin đến thăm xã giao Viện Hóa Đạo và các vị giáo phẩm trong Viện, và văn thư của Văn phòng Viện Hoá Đạo trả lời định ngày giờ đón tiếp phái đoàn như đã nói ở trên. Tôi đọc lại hai văn thư thật rõ ràng, rồi nói: "Thưa phái đoàn, theo tinh thần nội dung văn thư của Ban vận động thống nhất Phật giáo như tôi đã đọc thì hôm nay phái đoàn đến đây là để thăm xã giao Viện Hóa Đạo và các vị giáo phẩm của Viện. Song, như cụ Trưởng đoàn vừa nói, thì các vị đến đây là để thăm Tổ đình Ấn Quang và tăng ni chùa Ấn Quang để hỏi ý kiến về việc thống nhất Phật giáo, chứ có thăm Viện Hóa Đạo đâu? Vậy, Văn phòng của Tổ đình Ấn Quang ở đầu ngõ vào, mời quí vị ra ngoài đó, chứ đây là Văn phòng của Viện Hóa Đạo GHPGVNTN". Nói xong, tôi mời T.T. Huyền Quang và T.T. Pháp Tri giải tán. Bấy giờ tôi mới thấy cái "lắt léo" và "lật lờ đánh lận con đen" của sư cụ cộng sản: khi muốn đến thăm thì nói thăm ông A, nhưng khi đến nơi thì lại bảo thăm ông B! Có gì đâu, thâm ý của sư cụ nhà ta là cố tình tránh né, không thừa nhận tính hợp pháp của GHPGVNTN, thế thôi. Nhưng nếu hôm ấy mà chúng tôi góp ý kiến thì về sư cụ lại tuyên bố đó là ý kiến của GHPGVNTN!

Thấy tình hình không êm xuôi, cụ Phạm Thế Long định "lùi một bước" để rồi sẽ "tiến ba bước" bằng cách đứng lên chắp tay xin sám hối và xác nhận lại là phái đoàn đến thăm Viện Hóa Đạo và các vị giáo phẩm của Viện đúng như nội dung văn thư. Lúc đó tôi mới mời T.T. Huyền Quang và T.T. Pháp Tri ngồi lại tiếp Phái đoàn.

Thượng tọa Huyền Quang phát biểu: "Quí Ngài là những người đề xướng việc thống nhất theo chủ trương của Đảng muốn thống nhất Phật giáo, quí ngài là những kiến trúc sư của ngôi nhà Phật giáo cả nước, vậy quí ngài đã có đồ án nào chưa? Kiểu mẫu ngôi nhà ấy như thế nào? Tuy nhiên, theo như lời Hòa thượng Thích Đôn Hậu kể lại, thì Giáo hội chúng tôi khó có vinh dự được sống chung trong ngôi nhà Phật giáo cả nước ấy. Vì khi Hòa thượng chúng tôi có lần bàn với ông Nguyễn Văn Hiếu, lúc đó Bộ trưởng Văn hóa của chính phủ cách mạng lâm thời cộng hòa miền Nam Việt Nam, xin thống nhất Phật giáo cả nước, thì ông Bộ trưởng trả lời Hòa thượng chúng tôi rằng: "Thống nhất thì tốt, nhưng thống nhất các tổ chức Phật giáo yêu nước, chứ thống nhất làm gì với Phật giáo phản động?". Hòa thượng chúng tôi hỏi: "Phật giáo phản động là Phật giáo nào?". Ông Bộ trưởng không trả lời. Như vậy, chắc nhà nước muốn ám chỉ Giáo hội chúng tôi là phản động, không được dự phần vào việc thống nhất Phật giáo cả nước, nên chúng tôi không dám đóng góp ý kiến".

Khi H.T. Huyền Quang dứt lời, tôi nói: "Mấy chục năm qua, quí vị ở ngoài Bắc may mắn được sống trong hòa bình, độc lập, tự do, hạnh phúc, chắc quí vị đã làm được rất nhiều việc cho Phật pháp ngoài ấy, còn tại miền Nam này chúng tôi phải sống trong chiến tranh, lại bị kìm kẹp, đàn áp, nên chẳng làm được bao nhiêu Phật sự. Mà có làm được chút nào thì nhà nước cũng trưng dụng cả rồi. Như quí vị chắc đã thấy, các trường Trung Tiểu học Bồ Đề, viện Đại học Vạn Hạnh, các Trung tâm văn hóa và các cơ sở từ thiện xã hội từ Trung ương đến các địa phương đều đã phải giao cho nhà nước. Các Phật học viện thì phải giải tán cho tăng ni sinh ở đâu về đó lo việc sản xuất, thành thử bây giờ Giáo hội chẳng còn gì cả. Cho nên, nếu được vinh dự thống nhất với quí vị thì cũng chỉ với hai bàn tay không thôi. Như vậy, ai cần thống nhất với ai?".

Lúc đó đã đến giờ ngọ trai, chúng tôi mời phái đoàn ở lại dùng cơm trưa, vì chúng tôi đã chuẩn bị cả rồi. Thế là cuộc thăm xã giao và hỏi ý kiến cũng chẳng mang lại kết quả gì.

Từ đó, cố H.T. Trí Thủ, các T.T. Trí Tịnh, Minh Châu trong Ban vận động thống nhất Phật giáo tiếp tục vận động, tiếp tục đi họp, và mỗi lần đi họp về, các vị lại thúc ép T.T. Huyền Quang và tôi gia nhập thống nhất. T.T. Huyền Quang và tôi chủ trương một cách cương quyết là GHPGVNTN phải chính thức được mời dự họp, họp với ai, ai đứng ra tổ chức họp để bàn việc thống nhất Phật giáo, thống nhất trên cơ sở nào, theo hình thức nào, cơ cấu tổ chức ra sao, và sau khi thống nhất rồi, thì các tổ chức Phật giáo trước kia, không riêng gì GHPGVNTN, mà các tổ chức của các giáo phái khác đều xóa bỏ hẳn, hay còn được giữ lại dưới một hình thức nào đó để lo những sinh hoạt nội bộ, đó là những điều Giáo hội cần phải biết rõ, cần phải bàn cho thấu đáo trước khi thống nhất hoàn toàn, chứ không thể cứ nói thống nhất một cách khơi khơi như vậy được.

Kết luận, chúng tôi cùng đưa ra một ý kiến: "Ngôi nhà GHPGVNTN đây là do tăng ni miền Nam, từ Quảng Trị đến Cà Mau xây dựng nên với sự đóng góp xương máu, nước mắt của toàn thể tăng ni Phật tử miền Nam, họ không thể tất cả tập trung về đây để trông nom ngôi nhà ấy được, nên họ nhờ quí vị và chúng tôi trông nom giữ nhà giùm họ. Nếu bây giờ vì một lý do nào đó, quí vị thấy không thể tiếp tục giữ nhà giùm họ nữa, thì quí vị phải gọi họ về mà trả nhà lại cho họ để họ quyết định, nếu họ muốn giữ lại nhà, thì họ sẽ nhờ người khác, còn nếu họ muốn bán hoặc cho ai thuê thì đó là quyền của họ, chứ quí vị cũng như chúng tôi ở đây không ai có thẩm quyền quyết định việc này. Nói cách khác, Hiến chương Giáo hội đã qui định, Đại hội Giáo hội thường niên là hai năm một kỳ, nhưng khi có vấn đề liên quan đến sự tồn vong của Giáo hội, thì phải triệu tập Đại hội bất thường để giải quyết, chứ Ban chỉ đạo Viện Hóa Đạo không có quyền quyết định. Bây giờ đây chính là lúc có liên quan đến sự tồn vong của Giáo hội, vậy xin Hòa thượng Viện trưởng thay mặt Đức Tăng Thống, triệu tập Đại hội bất thường để Đại hội quyết định vấn đề này".

Sau đó ít hôm, tôi nhận được văn thư của sở Công an thành phố mời ra gặp ông Quang Minh (xin nói nhỏ ở đây là tại đất nước Việt Nam độc lập tự do hạnh phúc này, ai nhận được thư sở công an mời là "dựng tóc gáy" rồi đó). Riêng tôi đã có "vinh dự" được nhiều lần như vậy. Khi tôi đến nơi, sau vài câu nói xã giao, ông Quang Minh bảo "Đảng" cần thống nhất Phật giáo trong lúc này và buộc tôi phải đồng ý (tất nhiên với giọng hăm dọa quen thuộc). Tôi nói tôi cũng đã được nghe sư cụ Phạm Thế Long nói tại chùa Ấn Quang như vậy, rồi tôi đưa Hiến chương Giáo hội ra trình bày cũng như tôi vừa nói ở trên, phải do Đại hội quyết định chứ không có cá nhân hoặc một nhóm người nào quyết định được. Và tôi, yêu cầu ông Quang Minh cho chúng tôi triệu tập Đại hội bất thường. Tôi nói rõ bình thường thì mỗi tỉnh cử năm đại biểu hoặc ba, nhưng trong tình hình hiện nay, tôi chỉ yêu cầu cho mỗi tỉnh cử một vị Chánh đại diện, nếu Chánh đại diện đau ốm, thì vị Phó hoặc Thư Kí, hay bất cứ ai trong ban đại diện đi thay cũng được. Rồi tôi nói với ông Quang Minh thông cảm vì chúng tôi phải làm theo đúng nguyên tắc Hiến chương mà chắc ông làm hành chính thì cũng thế thôi. Nhưng ông Quang Minh bảo không còn thì giờ nữa! Tôi nói việc thống nhất Phật giáo chứ đâu phải là việc hành quân mà gấp rút như vậy. Ông Quang Minh bảo tôi nguyên văn như sau: "Tính ông thì chỉ thích làm anh hùng!". Tôi nói: "Tôi là một nhà sư tu hành mà anh hùng cái nỗi gì, anh hùng rơm ấy à?". Ông Quang Minh nói: "Sư thứ dữ chứ phải sư vừa đâu!". Tôi đứng dậy chào ông và "thong thả" ra về.

Đến khoảng tháng 9 năm 1981, cố H.T. Trí Thủ, với danh nghĩa Trưởng ban vận động thống nhất Phật giáo, đề nghị Viện Hóa Đạo cử Đại diện Giáo hội đi dự Đại hội thống nhất Phật giáo sẽ họp tại Hà Nội vào cuối năm đó. Tôi đề nghị nhà nước đã không cho triệu tập Đại hội bất thường thì bây giờ phải triệu tập Hội đồng Viện Hóa Đạo gồm mười một quận Giáo hội Đô thành để thông báo cho họ biết về việc này. Cố Hòa thượng Trí Thủ đồng ý.

Hôm sau tôi gửi văn thư mời các vị trong Ban Đại diện Giáo hội của mười một quận về chùa Ấn Quang họp. Hình như họ đã đoán trước được là cuộc họp này rất quan trọng nên họ về dự rất đông, không những chỉ có các vị Đại diện chính thức của mười một quận, mà còn có cả tăng ni về dự thính, ngồi chật giảng đường, đứng ngoài sân và trên các hành lang trong chùa. Cố H.T. Trí Thủ chủ tọa cuộc họp (xin nhắc lại, với tư cách Trưởng ban vận động thống nhất Phật giáo thì ngài là khách, nên lần trước ngài đã về "thăm xã giao" nhà Ngài. Nhưng hôm nay với tư cách Viện trưởng Viện Hóa Đạo nên Ngài chủ tọa cuộc họp). Với tư cách Tổng thư kí Viện Hóa Đạo GHPGVNTN, tôi đứng lên tuyên bố rõ lý do triệu tập cuộc họp. Trước hết, tôi đọc lại các văn thư mà Viện Hóa đạo đã gửi ra phủ Thủ tướng tại Hà Nội nói rõ quá trình thành lập Giáo hội và các cơ cấu tổ chức cùng các hoạt động của Giáo hội tại miền Nam Việt Nam trước ngày đất nước thống nhất, đồng thời, gửi kèm bản Hiến chương và nội qui của Giáo hội để tường trình với nhà nước. Kế đó, tôi nói với các vị Đại diện Giáo hội trong cuộc họp như sau: "Nay H.T. Viện trưởng Viện Hóa Đạo đứng ra làm Trưởng ban vận động thống nhất Phật giáo, không biết ai đã thành lập ban này, thành lập ở đâu và ai đã bầu Hòa thượng làm Trưởng ban, Viện Hóa Đạo hoàn toàn không được biết điều đó, và cho đến nay, Giáo hội cũng chưa chính thức được mời dự bất cứ cuộc họp nào bàn về thống nhất Phật giáo. Bởi vậy, Giáo hội chưa biết thống nhất trên cơ sở nào, theo hình thức nào và sau khi thống nhất, tư cách pháp lý của GHPGVNTN sẽ ra sao. Đây là vấn đề tồn vong của Giáo hội, mà theo Hiến chương Giáo hội, phải do Đại hội quyết định. Cách đây mấy hôm, tôi đã được sở Công an mời ra bảo tôi phải đồng ý thống nhất, tôi đã nói với ông Quang Minh (người tiếp tôi) là Ban chỉ đạo Viện Hóa Đạo không đủ thẩm quyền quyết định việc quan trọng này, mà phải do Đại hội Giáo hội. Và tôi đã yêu cầu ông Quang Minh cho chúng tôi triệu tập Đại hội bất thường, mỗi tỉnh cần một vị Chánh đại diện hay Thư kí cũng được, nhưng ông Quang Minh đã không đồng ý, viện lẽ không còn đủ thì giờ! Bây giờ đây H.T. Viện trưởng đề nghị Viện Hóa Đạo cử Đại biểu Giáo hội đi dự Đại hội thống nhất Phật giáo sẽ họp ngoài Hà Nội, tôi nhận thấy Đại hội bất thường thì nhà nước không cho, bởi thế hôm nay Viện Hóa Đạo mời quí vị về họp để hỏi ý kiến và tùy quí vị quyết định". Trước khi dứt lời để trao quyền điều khiển cuộc họp cho Hòa thượng chủ tọa, tôi có bày tỏ một vài ý kiến như sau:

"Kính bạch Hòa thượng Viện trưởng Viện Hóa Đạo chủ tọa cuộc họp, kính thưa toàn thể quí vị, chắc quí vị cũng như tôi đều thấy rõ hiện nay con thuyền GHPGVNTN đang lênh đênh giữa biển khơi và gặp sóng to gió lớn, chưa biết sẽ chìm lúc nào. Vậy, nếu những ai trong quí vị có mặt ở đây hôm nay cảm thấy nguy nan sợ hãi mà muốn bước sang thuyền khác để thoát thân, thì xin quí vị ấy cứ việc tự do, không ai ngăn cản cả. Nhưng tôi chỉ xin quí vị ấy một điều là: trước khi bước sang thuyền khác qúi vị cứ để mặc cho con thuyền Giáo hội lênh đênh trôi dạt trong sóng gió với những người còn ở lại trên đó, họ sẽ cố sức lèo lái, nếu may mắn vượt qua cơn nguy nan mà đến được bờ bình an thì họ sống, còn nếu chẳng may con thuyền chìm thì họ cũng sẽ sẵn sàng chết theo nó, chứ quí vị ấy đừng đang tâm nhận chìm con thuyền của mình mà có lần đã từng đưa quí vị đến bờ danh vọng, lợi lộc, trước khi bước sang thuyền khác. Tôi chỉ xin quí vị có thế thôi. Tôi dứt lời và cảm ơn quí vị".

Khi tôi nói xong thì cả trong hội trường và ngoài sân, ngoài các hành lang nổi lên những tràng pháo tay vang dội, rồi tôi thấy T.T. Trí Tịnh đứng dậy đi ra trước tiên, kế đó là T.T. Minh Châu và sau cùng là Hòa thượng Viện trưởng chủ tọa! Thế là cuộc họp tự nhiên cũng tan. Sau đó tôi nghe có tiếng vọng lại: "Hôm nay thầy Quảng Độ mời chúng tôi về đây để thóa mạ chúng tôi". Còn lại Thượng tọa Huyền Quang và tôi, chúng tôi nhìn nhau một lúc rồi cũng giải tán!

Ba hôm sau, Văn phòng Viện Hóa Đạo nhận được bản "Thông báo" của Ban vận động thống nhất Phật giáo đề ngày 17-9-1981, do T.T. Minh Châu kí tên, dài lắm, tôi chỉ còn nhớ một đoạn ngắn, vì có lẽ nó là đoạn quan trọng nhất trong bản Thông báo. Đoạn ấy như sau:

"...Thượng tọa Thích Quảng Độ, Tổng thư kí Viện Hóa Đạo, đã triệt hạ uy tín của toàn Ban vận động thống nhất Phật giáo Việt Nam, phá hoại công cuộc thống nhất Phật giáo, ngang nhiên thách thức với chính phủ và Mặt Trận Tổ quốc Việt Nam là những người đang khuyến khích và hỗ trợ sự nghiệp thống nhất Phật giáo cả nước!".

Bản Thông báo của Ban vận động thống nhất Phật giáo trên đây sau được ai đó gửi đi khắp các tỉnh miền Nam, bắt tăng ni học tập rồi kí tên kiến nghị gửi về chùa Ấn Quang, yêu cầu Giáo hội trục xuất tôi ra khỏi Giáo hội và không được đặt chân đến chùa Ấn Quang! Không biết ai đã làm việc đó giúp Ban vận động thống nhất Phật giáo, nhưng dù ai thì tôi thấy cũng có trách nhiệm giúp thêm một tay bằng cách cho dán bản Thông báo trước Văn phòng Viện Hóa Đạo và cho in ronéo ra thêm hàng chục ram giấy để phân phát cho tăng ni và Phật tử "học tập" cho có hiệu quả hơn. Một Phật tử nói với tôi: "Người ta đòi trục xuất thầy ra khỏi Giáo hội và chùa Ấn Quang mà sao thầy lại quảng cáo thêm cho người ta vậy?". Tôi trả lời: "Bao giờ người ta trục xuất hãy hay, bây giờ thầy còn làm việc ở đây thì thầy giúp thêm họ một tay có làm sao, và nếu đạo hữu còn giấy cũ thì cho thầy thêm ít nữa!".

Nhân đây tôi cũng xin thanh minh rằng tôi không chủ trương "phá hoại thống nhất Phật giáo" mà tôi chỉ muốn thống nhất trong tinh thần hòa hợp, đồng thuận theo đúng luật Phật "Hòa hợp phủ? - Hòa hợp!" (chư tăng có hòa hợp không? - Hòa hợp!); nghĩa là việc thống nhất Phật giáo là việc của chư tăng hai miền Nam Bắc, phải do chư tăng hai miền quyết định một cách hòa hợp và đồng thuận, chứ tôi không muốn nhà nước cộng sản can thiệp vào rồi bắt chúng tôi phải thống nhất theo ý muốn của nhà nước để sau dễ bề lợi dụng Giáo hội cho những mục đích chính trị và hợp thức hóa cho chủ trương tiêu diệt Phật giáo của đảng và nhà nước cộng sản.

Còn bảo tôi "ngang nhiên thách thức với chính phủ và Mặt Trận Tổ quốc Việt Nam", thì, trời ơi, ai dám làm điều đó? Bởi vì ai cũng biết chính phủ và Mặt trận Tổ quốc là do đảng cộng sản Việt Nam lập ra, là hai cơ quan quyền lực nhất nước, cộng thêm biết bao nhiêu máy bay tàu bò, xe tăng thiết giáp, hỏa tiễn thần công, súng đạn đầy người, nhà tù khắp nước, công an như ruồi; còn một nhà sư như tôi trong tay không có lấy một tấc sắt, vậy họa có là điên rồ hoặc muốn về chầu tổ tiên ông bà thì mới dám "ngang nhiên thách thức"! T.T. Minh Châu ác lắm, muốn nhờ cái búa tạ để đập nát một hạt đậu nhỏ đó! tu hành từ bi mà sao dữ quá vậy. T.T. Minh Châu với tôi có xa lạ gì đâu, cùng đi học với nhau bên Tích Lan rồi sau cùng sang học bên Ấn Độ, chỉ học khác trường mà thôi. Khi Giáo hội mở Viện Đại học Vạn Hạnh thì chúng tôi vừa làm việc trong Viện Hóa Đạo, vừa làm việc ở Đại học Vạn Hạnh rất là thân mật quí hóa. Mỗi khi Thượng tọa có việc phải xuất ngoại thì Thượng tọa giao cho tôi Quyền Viện trưởng Xử lý Đại học Vạn Hạnh. Thế mới biết danh lợi dễ làm cho con người hư hỏng, và thế cũng mới biết cộng sản đến đâu là làm tình người tan nát đến đấy. Và chỉ mấy tháng sau là T.T. Huyền Quang và tôi bị đưa đi quản thúc lưu đày vì bản Thông báo đó. Tôi biết được điều này là vì sau khi tôi bị đưa ra Bắc ít lâu, người ta nói với tôi là họ thắc mắc hỏi công an tại sao lại bắt tôi ra đây, thì công an bảo tôi ở trong Nam chống phá Giáo hội, bởi vậy các ông Trí Thủ, Trí Tịnh, Minh Châu yêu cầu nhà nước đưa "hắn" (tức là tôi) ra đây để trong ấy họ dễ làm việc, chứ nhà nước có bắt bớ gì hắn đâu. Cái lợi thống nhất Phật giáo do cộng sản chỉ huy là thế.

Có lẽ T.T. Minh Châu chỉ muốn một mình mình sống trong "Thiên đường" thôi, vì trong một chuyến đi Liên xô với cố H.T. Trí Thủ về, T.T. Minh Châu đã tuyên bố "Mạc Tư Khoa" (thủ đô của Liên xô cũ) là Thiên đường trên mặt đất. T.T. Minh Châu cũng đã từng chu du nước Mỹ đến Hoa Thịnh Đốn, nhưng chắc bơ sữa Hoa Thịnh Đốn không ngon bằng bơ sữa thiên đường Mạc Tư Khoa! Chưa hết, sau khi T.T. Minh Châu xuất gia, bát cơm đầu tiên mà T.T. Minh Châu ăn là cơm Bắc Tông (tức Đại Thừa), bổn sư của Thượng tọa là đức Đệ nhất Tăng Thống của GHPGVNTN. Sau ngài sang Tích Lan và Ấn Độ học Nam Tông (tức Tiểu Thừa), ngài mặc áo vàng rồi vào tuyên bố các kinh điển Đại Thừa (tức Bắc Tông) không phải Đức Phật nói (ngụ ý là ma nói), mà đức Phật chỉ nói có các bộ Trường bộ kinh, Trung bộ kinh, Tăng nhất bộ kinh v.v... mà ngài đã dịch ra tiếng Việt thôi. Vậy theo quan điểm của T.T. Minh Châu, những người tu theo Bắc Tông như tôi là những kẻ ngoại đạo thì không có tư cách được sống ở Thiên đường, vì Sài gòn cũng sẽ là một thiên đường, cho nên phải đuổi nó xuống địa ngục!

Đến cuối năm 1981, Đại hội thống nhất Phật giáo chính thức được mở ra tại Hà Nội. Tôi được biết, T.T. Thích Thiện Siêu cầm đầu một phái đoàn mười người nói là đại diện cho GHPGVNTN, có văn thư đề cử đóng khuôn dấu Viện Hóa Đạo đường hoàng, tôi rất ngạc nhiên. Bởi vì T.T. Thiện Siêu có chức vụ gì trong Viện Hóa Đạo đâu, mà Viện Hóa Đạo cử T.T. Thiện Siêu làm đại biểu của Viện đi dự họp, còn khuôn dấu Viện Hóa Đạo do tôi cất giữ, khi đến văn phòng thì tôi mang đến, hết giờ làm việc thì tôi mang về, vậy khuôn dấu ở đâu ra? Lúc đầu tôi không tin, bởi lẽ tôi biết T.T. Thiện Siêu là bậc học thức, có đức hạnh, tôi rất kính trọng Thượng tọa và tuyệt đại đa số tăng ni miền Nam cũng thế, không tin Thượng tọa lại có thể làm một việc như vậy, nhưng sau tôi mới biết rõ đó là sự thật!

Trong Đại hội ấy, cố Hòa thượng Trí Thủ được bầu làm Trị sự trưởng Trung ương Giáo hội Phật giáo Việt Nam (do cộng sản chỉ huy), T.T. Trí Tịnh Đệ nhất Phó trị sự trưởng, T.T. Minh Châu Thư kí Văn phòng II đặt tại chùa Xá Lợi ở Sài gòn, T.T. Thiện Siêu và các vị khác đều có chức vụ, nghĩa là tùy theo công lao nhiều ít, đều được tưởng thưởng cả !

Tôi còn nhớ tháng 12 năm 1978, sau khi tôi được tha từ nhà tù Phan Đăng Lưu về, một vị đệ tử của T.T. Trí Tịnh, trước kia có học tôi ở Đại học Vạn Hạnh, từ Thủ Đức lên thăm tôi, vị ấy nói với tôi là "thầy con (tức T.T. Trí Tịnh) bảo thầy con là bậc đại trí mới tránh được những tai nạn". Đến nay tôi nghĩ lại thì thấy T.T. Trí Tịnh và T.T. Minh Châu quả thực là hai bậc đại trí. Năm 1963, ông Ngô Đình Diệm đàn áp Phật giáo, tăng ni Phật tử buộc lòng phải đứng lên chống lại; nửa đêm 20 tháng 8 năm 1963, ông Diệm cho cảnh sát tấn công tất cả các chùa trên toàn miền Nam, bắt hết tăng ni. Sáng hôm sau các Phật tử ở Thủ Đức biết tin ấy, vào chùa Vạn Đức báo cho T.T. Trí Tịnh biết và khóc lóc. T.T. Trí Tịnh bảo họ: "Các sư tu hành mà làm chính trị thì người ta bắt là phải, còn khóc lóc gì!".

Nhưng, sau khi chế độ Ngô Đình Diệm đổ, GHPGVNTN được thành lập thì T.T. Trí Tịnh ra giữ chức Tổng vụ trưởng Tổng vụ Tăng sự. Đến tháng 4 năm 1975 thì T.T. Trí Tịnh không dự một cuộc họp nào của Viện Hóa Đạo nữa. Ngày 30-4-1975 cộng sản toàn thắng về tiếp thu Sài gòn; ngày 15-5-1975 cộng sản tổ chức ăn mừng chiến thắng có diễn binh trước dinh Độc Lập và truyền hình trực tiếp. Khi nhìn vào Tivi, trên khán đài danh dự, tôi đã thấy T.T. Trí Tịnh đang ngồi chễm chệ trên đó rồi, thật là bậc đại trí!

Còn T.T. Minh Châu thì năm 1964 mới từ Ấn Độ trở về và được Giáo hội mời làm Tổng vụ trưởng Tổng vụ giáo dục kiêm Viện trưởng Viện Đại Học Vạn Hạnh. Năm 1972 cuộc chiến Việt Nam đã đến giai đoạn khốc liệt. Người ta chưa quên Quảng Trị mùa hè rực lửa. Lúc đó, Hội nghị Tôn giáo Thế giới về Hòa bình (The World Conference on Religion and Peace) vận động hòa bình cho Việt Nam và mời Giáo hội tham gia. Tình hình chiến sự càng ngày càng sôi động và đến khoảng tháng 3 năm 1975, T.T. Minh Châu cũng không dự cuộc họp nào của Viện Hóa Đạo nữa và tuyên bố tách rời khỏi đường lối vận động hòa bình của Giáo hội. T.T. Minh Châu nói ngài chỉ chuyên về lãnh vực văn hóa giáo dục mà thôi. Nhưng đến năm 1976 thì T.T. Minh Châu lại ra ứng cử vào Quốc hội thống nhất đầu tiên của cộng sản và cho đến nay (1992) ngài vẫn còn ngồi trong cơ quan đó. Thì ra T.T. Minh Châu thích làm chính trị cộng sản chứ không thích vận động hòa bình. Cũng là một bậc đại trí hiếm có.

Kể từ ngày cố H.T. Trí Thủ được bầu làm Trị sự trưởng của Giáo hội nhà nước thì GHPGVNTN không còn Viện trưởng Viện Hóa Đạo. Không có Viện trưởng thì Phó Viện trưởng lên Quyền Viện trưởng cho đến khi có Đại hội bầu lại đúng như Hiến chương Giáo hội đã qui định. Do đó, T.T. Huyền Quang là Đệ nhất Phó Viện trưởng lên làm Quyền Viện trưởng và chúng tôi vẫn tiếp tục làm việc Giáo hội như thường. Có lẽ nhà nước cộng sản Việt Nam nghĩ rằng, nếu cứ để T.T. Huyền Quang và tôi tiếp tục làm việc như vậy, thì sau này Giáo hội nhà nước sẽ khó lòng đến chiếm Văn phòng Viện Hóa Đạo được; mà nếu không chiếm được Văn phòng và trụ sở Trung ương của Giáo hội thì cũng khó bắt các Giáo hội địa phương theo Giáo hội nhà nước, cho nên việc phải đến đã đến và dựa vào bản Thông báo của T.T. Minh Châu tố cáo tôi "ngang nhiên thách thức với chính phủ và Mặt trận Tổ quốc Việt Nam" như tôi đã nói ở trên làm cơ sở.

Lúc 4 giờ chiều ngày 24-2-1982, tôi nhận được một văn thư của sở Công an thành phố, ngoài bì đề "Hỏa tốc". Tôi mở ra xem thì biết tôi được "mời" đến sở Công an vào đúng 8 giờ ngày 25-2-1982, lí do cho biết sau, do ông Quang Minh tiếp đón (lại Quang Minh!). Kể ra tôi cũng có "duyên" với ông này lắm, có lẽ đã từ bao kiếp trước! Tôi không biết chức vụ của ông, nhưng chắc là cấp cao. Suốt thời gian tôi ở trong nhà tù Phan Đăng Lưu, cứ mỗi tuần, dần dần mỗi tháng, tôi lại được "tiếp" ông ta một lần để "làm việc" (tức lấy khẩu cung). Rồi sau khi ra khỏi nhà tù, tôi cũng được ông "tiếp" luôn và có lẽ lần này là lần chót. Người thứ hai mà tôi cũng "kết duyên thắm thiết" đó là ông Mai Chí Thọ Giám đốc sở Công an thành phố và sau là Bộ trưởng Bộ Nội vụ tôi cũng được "hỏi thăm sức khỏe" luôn. Lại một lần "dựng tóc gáy".

Đúng 8 giờ ngày 25-2-1982, tôi tới sở Công an, được đưa đến một căn phòng ngồi chờ và có hai anh công an đồng phục mang súng lục đứng canh gác. Đúng là dựng tóc gáy rồi. Tôi nghĩ bụng lại một phen đi nghỉ mát? Khoảng một tiếng đồng hồ sau, chắc họ cho là khủng bố thế là đủ, tôi được đưa vào gặp ông Quang Minh. Ông ta nói: "Ông làm việc tôn giáo cũng là làm chính trị (!), chúng tôi sẽ có thái độ với ông". Thế rồi khoảng năm phút sau, ông Quang Minh đứng dậy đọc bản quyết định, do ông Lê Quang Chánh ký tên, ông này là Phó Chủ tịch Uệy ban Nhân dân Thành phố, trục xuất tôi ra khỏi thành phố. Sau ít phút, một người gọi là Trưởng toán đưa tôi đi đến lãnh nhiệm vụ và bốn anh công an vũ trang đầy đủ áp giải tôi xuống xe đưa đi, hệt như một vụ bắt cóc người đòi tiền chuộc! Lúc ấy là 9 giờ 30. Khi đến ngã ba Dầu Dây thuộc tỉnh Long Khánh, đoàn xe chừng mười cái dừng lại tại một khu rừng cao su nghỉ để ăn cơm trưa, tôi thấy T.T. Huyền Quang ngồi cách tôi độ mười mét, lúc ấy tôi mới biết T.T. Huyền Quang cũng được đi "ngao du sơn thủy" trong chuyến này.

Kể từ ngày đó, các sinh hoạt của GHPGVNTN hoàn toàn bị đình đốn. Sau đó, cố H.T. Trí Thủ, Trị sự trưởng Trung ương của Giáo hội nhà nước về chiếm Văn phòng Viện Hóa Đạo tại chùa Ấn Quang làm Văn phòng "Thành hội Phật giáo" của Giáo hội nhà nước. Hòa thượng Thích Đôn hậu, Chánh thư kí kiêm Xử lí Viện Tăng thống GHPGVNTN, đã gửi văn thư phản đối việc làm ấy của cố H.T. Trí Thủ. Rồi từ đó trở đi, tất cả tổ chức của GHPGVNTN từ Trung ương đến các địa phương đều bị buộc phải hạ bảng hiệu của Giáo hội xuống và trương bản hiệu của Giáo hội nhà nước lên thay, luôn cả trụ sở, nhân viên của của GHPGVNTN trước đây, cũng được biến thành trụ sở, nhân viên của Giáo hội nhà nước, cũng Chánh đại diện, Thư kí và ban này ban nọ, hệt như cơ cấu tổ chức của GHPGVNTN, chỉ khác có tên gọi "Giáo hội Phật giáo Việt Nam" tức Giáo hội nhà nước mà thôi. Thật là một đòn gậy ông đập lưng ông hiểm độc. Đây mới chỉ là mưu đồ ngắn hạn, tức mới chỉ dùng người của Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất để triệt hạ GHPGVNTN, còn về dài hạn, thì cái Giáo hội Phật giáo nhà nước ấy được dùng để tiêu diệt Phật giáo một cách hợp thức hợp pháp, cũng như cái Hội Phật giáo Thống nhất Việt Nam do sư cụ Trí Độ làm Hội trưởng ngoài miền Bắc trước đây vậy. Và cuối cùng, khi đã thực sự tiến lên "thiên đường cộng sản" rồi thì chính cái Giáo hội nhà nước ấy cũng sẽ bị tiêu diệt.

Nhưng cái viễn tượng thiên đường cộng sản ấy xem ra còn xa vời lắm, nhất là từ khi bức tường Bá Linh sụp đổ, khối cộng sản Đông âu và Liên xô tan rã, khiến thế đứng của cộng sản Việt Nam lung lay, thì giờ đây cộng sảnlại lợi dụng Phật giáo làm chỗ dựa, đưa vận mệnh của Phật giáo Việt Nam ràng buộc vào với chủ nghĩa xã hội, cũng như nửa thế kỷ trước, cộng sản Việt Nam đã đưa vận mệnh nước Việt Nam ràng buộc vào với khối cộng sản quốc tế. Cũng như mấy chục năm qua, cộng sản đâu có nhắc đến ngày giỗ Tổ Hùng Vương, nhưng bây giờ ngày 10 tháng 3 âm lịch mới dở trò tế Tổ. Rồi nghe đâu bây giờ trong miền Nam, cộng sản cho các chùa thu nhận người xuất gia và cho mở các trường Phật học cơ bản để đào tạo tăng ni. Cũng nghe đâu vào ngày Phật Đản và ngày tết, các quan chức đảng và nhà nước có đến các chùa "lễ Phật"! Chao ôi, quí hóa thay! Các ngài vô thần đến lễ Phật, Phật tổ chứng minh công đức! Nhưng giá như từ năm 1945, 1954 hay ít ra từ năm 1975 mà các ngài nhà ta làm thế thì có tốt hơn không? Tuy nhiên, màn thưa chẳng che nổi mắt Thánh đâu. Bất quá "Giết chẳng được thì tha làm phúc" đó thôi, chưa tiêu diệt được thì hãy lợi dụng đã, "lùi một bước để tiến ba bước" mà! "Phân gà" thì gạt lúc nào mà chẳng được. Thật vậy, nói đổ xuống sông xuống biển, nếu mai mốt đây bức tường Bá Linh lại được xây lại, khối cộng sản Đông âu và Liên xô được khôi phục, và cộng sản Việt Nam lại có cái thế "thừa thắng xông lên" của năm 1975, thì làm gì còn chùa để các ngài vô thần đến lễ Phật! Tôi còn nhớ sau ngày 30-4-1975, khẩu hiệu: "Chủ nghĩa Mác-Lê bách chiến bách thắng muôn năm!", "Chủ nghĩa Mác-Lênin vô địch bất diệt" được treo trên khắp các nẻo đường ở Sài gòn, và hang cùng ngõ hẻm nào cũng thấy các tấm bảng đỏ sao vàng trông chói cả mắt. Rồi đến ngày cách mạng tháng 10 Nga thì tổ chức kéo dài cả tháng. Lúc đó có ông cộng sản nào nhắc đến ngày 10 tháng 3 giỗ Tổ Hùng Vương hoặc đến chùa lễ Phật đâu? Cũng như nếu cộng sản đã đào mồ chôn sống được "bọn" Tư bản rồi thì bây giờ làm gì còn tư bản để các ngài rước vào Việt Nam và xin gia nhập khối Tư bản Đông Nam Á mà trước kia các ngài cho là tay sai đế quốc Mỹ? Đập tượng phá chùa để rồi đến lễ Phật, chôn sống tư bản để rồi đi theo tư bản, kể cũng giỏi, cũng hay!

Tóm lại, đạo Phật đã truyền vào Việt Nam trên dưới hai nghìn năm, đã cùng chung vận mệnh thăng trầm vinh nhục với dân tộc Việt Nam trong suốt dòng lịch sử ấy. Đạo Phật đã cống hiến những gì cho dân tộc Việt Nam? Vấn đề này đã được ghi rõ trong sử sách, ở đây tôi không dám nhắc lại sợ dài dòng và có thể cho là chủ quan. Tôi chỉ xin trích một đoạn rất ngắn trong cuốn sách Lý Thường Kiệt của giáo sư Hoàng Xuân Hãn ở phần thứ ba chương XIV, trang 429, nói về đạo Phật đời Lý và kết luận như sau:

"Nói tóm lại, sau các đời vua hung hãn họ Đinh, Lê, ta thấy xuất hiện ra những kẻ cầm quyền có độ lượng khoan hồng, những người giúp việc ít tham lam phản bạn. Đời Lý có thể gọi là đời THUẦN TỪ nhất trong lịch sử nước ta. Đó chính là nhờ ảnh hưởng đạo Phật. Mà thực vậy, mỗi lúc ta thấy có Nho gia bài xích Phật giáo, thì ta biết rằng trong nước sẽ có cuộc tranh quyền lợi mà giết lẫn nhau. Sau khi Đàm Dĩ Mông sa thải tăng già, thì có Trần Thủ Độ tàn sát họ Lý. Cuối đời Trần, Nho học lên thịnh. Có Trương Hán Siêu, Lê Quát chỉ trích Phật giáo, thì sau lại có Hồ Quý Ly sát hại họ Trần. Trần Thủ Độ, Hồ Quý Ly làm những việc kia, ấy cũng vì muốn thi hành chính sách vị danh, xa hẳn lòng bác ái từ bi của Phật".

Còn một điều rất căn bản tôi muốn nói ở đây là: Bất cứ ai, muốn trở thành một Phật tử chân chính, thì trước hết phải lãnh nhận ba Quy y Phật Pháp Tăng và sống theo năm giới điều: Không giết hại, không trộm cướp, không gian dâm, không nói dối, không uống rượu. Đó là đời sống đạo đức.

Ngày xưa, sau khi đánh bại Sở Bá Vương Hạng Vũ thống nhất Trung Hoa, Hán Cao Tổ Lưu Bang rất kiêu căng ngạo mạn, hay chế giễu chửi bới các nhà Nho, có khi gặp Nho sinh thì bắt họ bỏ mũ ra rồi Cao Tổ đi tiểu vào mũ của họ! Nhà trí thức Giả Nghị thấy thế khuyên Cao Tổ đọc sách, Lưu Bang trả lời: "Nãi công cư mã thượng nhi đắc thiên hạ an sự thi thư?". Nghĩa là "Ta đây ngồi trên lưng ngựa mà được thiên hạ, cần gì phải đọc sách?". Rõ là giọng kẻ võ biền gặp thời, kẻ tiểu nhân đắc thế. Giả Nghị thưa: "Chúa công có thể ngồi trên lưng ngựa mà được thiên hạ, nhưng không thể ngồi trên lưng ngựa mà trị thiên hạ!". Thật là chí lí. Các vua chúa Việt Nam đời Lý, Trần thông minh và khiêm tốn hơn Hán Cao Tổ của Tàu; họ tự biết giới hạn của mình, họ biết không thể cứ cậy có nhà tù, quân đội, công an mà làm được tất cả mọi việc, mà khiến được dân trở nên lương thiện. Bởi thế họ đã làm chùa và khuyến khích việc làm chùa ở khắp mọi nơi để thờ Phật, nhờ Tăng dạy dân sống theo ba Qui y và năm giới điều để xây dựng một xã hội có đạo đức, nhân ái, lễ nghĩa, hiếu thảo và độ lượng, nhờ đó xã hội được yên vui.

Tâm lý con người kể cũng lạ. Ngày nay tôi nhận thấy thanh niên ở miền Bắc, phần nhiều họ không sợ nhà tù, họ ra rồi vào, vào rồi ra, cứ như là đi... nghỉ mát ấy. Thậm chí họ còn nói thanh niên nếu không vào tù ít ra là vài ba lần trong cuộc đời thì không phải là thanh niên! Vậy mà khi đến chùa Vũ Đoài, nghe tôi nói về đạo Phật, về nhân báo quả ứng, về địa ngục v.v... các anh đâm ra sợ và bỏ nghề bất chính, nhất là nghề đồ tể thì nhiều anh bỏ.

Như vậy, khi đảng cộng sản Việt Nam, theo giáo điều vô thần duy vật của chủ nghĩa cộng sản quốc tế, nhằm tiêu diệt đạo Phật, phá hủy đình chùa, tức là đã đạp đổ nền đạo đức của dân tộc, hủy hoại di sản kiến thức văn hóa của tổ tiên, phản bội tinh thần nhân ái truyền thống của dân tộc, tinh thần "dĩ hòa vi quí" của ông cha từ ngàn xưa để thay bằng căm thù đấu tranh giai cấp, cộng thêm với việc dạy dỗ con tố cha, vợ tố chồng, anh em họ hàng và thầy trò tố lẫn nhau trong cuộc cải cách ruộng đất "ôn nghèo gợi khổ" tại miền Bắc năm 1956 và đánh tư sản tại miền Nam năm 1975, đã khiến cho cả nền đạo đức nhân nghĩa của dân tộc gây dựng hàng nghìn năm bị đổ nát tan hoang, tôn ti trật tự xã hội bị đảo lộn và luân thường đạo lý phải bại hoại. Hậu quả là ngày nay con lợn chết thì người ta khóc, bố mẹ chết thì người ta mừng; khi con lợn đau ốm thì người ta lo chạy chữa thuốc thang, tráng trứng gà cho lợn ăn, còn bố mẹ ốm đau thì nằm khô chờ chết! Người ta kể câu chuyện một anh nọ ở thành phố nuôi chó Tây để bán, mua giường sắm màn cho nó ngủ, mua thịt bò, trứng gà cho nó ăn; bà mẹ ốm đau nằm không, thấy thế thèm quá, nói với con "Tao ốm nằm đây, chẳng có gì ăn mà thấy mày cho chó ăn thịt bò, trứng gà thao thèm quá!". Người con trả lời: "Bà biết không? Bạc triệu đấy! Còn bà thì làm ra được đồng nào mà đòi ăn thịt bò với trứng gà? Bà chết mau đi còn may nữa!". Khủng khiếp chưa, con Rồng cháu Tiên! Còn tình trạng con cái chửi bố mẹ thì xẩy ra như cơm bữa, thậm chí giết cả bố mẹ. Đáng lo lắm thay! Sự tàn phá về vật chất, khi sửa chữa hoặc xây dựng lại, tương đối còn dễ, nhưng sự hủy hoại về tinh thần này không biết đến đời nào mới vãn cứu được. Đó là sự sai lầm tai hại của đảng cộng sản Việt Nam đối với Phật giáo nói riêng và đối với văn hóa truyền thống của dân tộc nói chung.

Kết luận. Tôi chắc rằng, khi đảng cộng sản Việt Nam đọc bản nhận định này, sẽ cho tôi là chống đảng, mà chống đảng tức là chống Tổ quốc, hơn thế nữa là chống trời, thì chắc chắn là sẽ bị đấu tố đến chết rồi. Tôi đã ý thức rõ điều đó, nhưng tôi sẵn sàng đón nhận, bởi vì những điều tôi nói trong bản nhận định này đều là sự thật, vậy nếu phải chết cho sự thật, thì cũng chẳng có gì đáng ân hận hối tiếc cả. Vả lại, tôi cũng chẳng còn gì trên đời này nữa: bố tôi đã chết sớm, mẹ tôi thì đã bị cộng sản Việt Nam bắt đi đày cùng với tôi năm 1982 và đã chết thảm thương tại xã Vũ Đoài năm 1985; sư phụ (bổn sư) tôi là Hòa thượng Thích Đức Hải, từng du học nước Pháp, đã bị Việt Minh đến chùa bắt vào lúc 8 giờ sáng ngày 19-8-1945, tức ngày 12 tháng 7 năm Ất Dậu, ngày cách mạng thành công, đưa đến sân đình làng Bặt, gần nhà ông Bùi Bằng Đoàn, ở phủ Ứng Hòa tỉnh Hà Đông xét xử tử và kết án tử hình về tội "Việt gian bán nước", rồi đưa thầy tôi ra bãi cỏ trước đình bắn vào màng tai thầy tôi ba phát súng lục, một dòng máu đỏ tươi phun lên thẳng tắp, cho đến nay, tôi vẫn còn nhớ như in, vì lúc đó tôi đã 18 tuổi. Nhân đây tôi cũng xin minh oan cho thầy tôi không phải Việt gian bán nước mà nguyên nhân như sau:

Vì năm Giáp Thân (1944), nhiều nơi người Nhật bắt dân phá lúa đi để trồng đay, và tháng 10 năm ấy lại mất mùa, nên năm Ất Dậu (1945) dân đói lắm, nhất là hai tỉnh Thái Bình, Nam Định, người chết đói nằm ngổn ngang đầy đường. Những ai còn sức đi được, họ kéo nhau lên Hà Nội, Hà Đông để xin ăn, nhiều người đến nơi thì kiệt sức nằm chết ngoài đường phố. Lúc đó thầy tôi đang ở chùa làng Thanh Sam phủ Ứng Hòa tỉnh Hà Đông, nghe người ta nói thương tâm lắm, thầy tôi bèn ra Thị xã Hà Đông, lập hội cứu tế giúp người đói, lúc ấy là tháng 3 năm 1945. Thầy tôi mở một khu trại và đưa những người đói về đó để nuôi. Bấy giờ thầy tôi có nhờ ông Hồ Đắc Điềm là Tổng đốc Hà Đông, can thiệp với người Nhật xin một số gạo để cứu đói. Hội đã cứu được nhiều người qua cơn đói, đến tháng 6 năm 1945 thì những người đói đã khỏe mạnh, tất cả họ đã trở về quê cũ để thu hoạch vụ chiêm, trại đóng cửa và thầy trò tôi cũng về chùa. Có thế thôi. Vậy mà đến ngày 19-8-1945 cách mạng thành công, Việt Minh lên án thầy tôi là theo Nhật, bán nước, rồi giết như tôi vừa nói ở trên. Ngày ấy có rất nhiều người chết tương tự như thế.

Đến lượt sư bá tôi (tức là anh trong đạo của thầy tôi), là Hòa thượng Thích Đại Hải, trụ trì chùa Pháp Vân (chùa Dâu) ở tỉnh bắc Ninh, cũng bị Việt Minh bắt năm 1946 và sau đó đã chết về tội đảng viên Quốc dân đảng! (Tôi mở ngoặc đơn để nói thêm rằng, những người Quốc dân đảng là ai? Họ cũng là những người yêu nước, đấu tranh giành độc lập cho dân tộc, mồ các liệt sĩ Quốc dân đảng tại Yên bái còn đó, họ có nợ máu gì với cộng sản Việt Nam đâu mà sao cộng sản nỡ đang tâm giết họ?). Trong cuộc cải cách đấu tố năm 1956, Quốc dân đảng được xếp vào kẻ thù hàng đầu (tức là trí thức) và nếu bị phát hiện đều phải giết hết. Chẳng qua cộng sản Việt Nam học chính sách của cộng sản Tàu mà thôi. Vì Quôc dân đảng Trung Hoa (Tưởng Giới Thạch) đã từng nắm chính quyền và đánh nhau với cộng sản Tàu, khiến Mao Trạch Đông phải mở cuộc "Vạn lí trường chinh". Đến tháng 12 năm 1949, Mao Trạch Đông chiếm toàn lục địa Trung Hoa, Tưởng Giới Thạch phải chạy ra đảo Đài Loan, sau đó họ Mao ra lệnh giết hết những đảng viên Quốc dân đảng Trung Hoa còn lại không chạy kịp để trả thù. Tuy vậy họ Mao vẫn chưa hả dạ, còn ngờ có kẻ len lỏi trốn thoát trong hàng ngũ các nhân viên của chế độ cũ, phải phát giác để tiêu diệt cho bằng hết. Bởi vậy, đến năm 1956, họ Mao tung ra chiến dịch "Trăm hoa đua nở", nghĩa là cho phép tất cả mọi người được tự do nói ra những điều mình không bằng lòng với chế độ cộng sản để đảng sửa sai. Ai cũng tưởng thật và có điều gì dấu kín trong tâm tư đem phun ra hết. Thế là họ Mao tiêu diệt tất cả những người nhẹ dạ, hầu hết là đảng viên Quốc dân đảng, đã tin vào chiến dịch trăm hoa đua nở? Nhưng còn ở Việt Nam thì Quốc dân đảng đã nắm chính quyền bao giờ đâu, đã có đánh nhau với cộng sản Việt Nam đâu mà cứ hễ ai là Quốc dân đảng là phải giết hết?

Rồi đến sư Tổ tôi (ông nội trong đạo), trụ trì chùa Trà Lũ Trung, phủ Xuân Trường, tỉnh Nam Định, năm 1954, cộng sản vào chùa bảo Tổ tôi là dùng thuốc phiện tôn giáo ru ngủ nhân dân, sẽ bị qui định thành phần và đưa ra đấu tố, thế là Tổ tôi sợ quá phải tự thắt cổ chết!

Nay đến lượt tôi cũng đã bị cộng sản Việt Nam giam cầm đày đọa suốt mười mấy năm rồi, chỉ vì cái "tội" trung thành với lí tưởng đạo Phật, muốn bảo vệ nền văn hóa truyền thống của dân tộc, di sản tinh thần và kiến trúc vật chất của tổ tiên, thế thôi, chứ có tranh giành quyền lợi gì với ai đâu. Vì, theo tôi, văn hóa truyền thống và di sản tinh thần của tổ tiên rất là quan trọng, nhờ đó mà dân tộc Việt Nam đã không bị đồng hóa bởi các thế lực phong kiến, đế quốc và thực dân xưa cũng như nay, khi thống trị Việt Nam trước sau có tới hơn nghìn năm. Dĩ nhiên, vì đã lâu đời nên nền văn hóa cổ truyền của chúng ta cũng đã có những cái lỗi thời, ta nên bỏ đi, rồi học hỏi những cái hay cái đẹp của thế giới mà bồi bổ thêm cho mạnh thì được; chứ nếu chúng ta bảo nó đã lâu đời quá rồi, không còn thích hợp với đời nữa, thôi bỏ hết nó đi để thay vào đó một thứ văn hóa hoàn toàn mới, hoàn toàn xa lạ, thì chúng ta sẽ bị rơi vào trạng huống:

Tây chẳng phải Tây Đông chẳng Đông
Quỉ quái sinh ra lũ cuồng ngông
Mồ mả tổ tiên cày xới hết
Đình chùa miếu mạo phá bằng không
Ông bà xem nhẹ hơn con lợn
Bố mẹ coi như khúc gỗ thông
Phảng phất non sông hồn Lạc Việt
Bốn nghìn tuổi sử tủi hay không?

Tóm lại, như tôi đã nói ở trên, mẹ tôi, sư phụ tôi, sư bá tôi, sư Tổ tôi đều đã chết thảm, nay đến lượt tôi nếu lại chết thảm, thì xin góp thêm một giọt máu nữa vào trang sử đau thương của dân tộc.

Viết tại xã Vũ Đoài huyện Vũ Thư, tỉnh Thái Bình

Tháng 1 năm 1992 (Ngày 14 tháng 12, Tân Mùi)

Kỉ niệm năm thứ 10 bị quản thúc lưu đày.

Thích Quảng Độ

Tổng Thư Ký Viện Hóa Đạo

Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất

 


 

Còn Tệ Hơn là Tắm Máu

 

Tháng 4,1975, Saigon và miền Nam bị tắm máu. Nhiều vụ xử tử xảy ra khắp các đường phố, hoặc giấu giếm chứng cớ.Tai Ban Mê Thuột, tất cả những cấp chỉ huy và cựu quân nhân thuộc các dân tộc thiểu số miền Thượng du Bắc Việt đã bị giết, bởi họ di cư vào Nam từ năm 1954-1955.
Theo nhận định của Đại Tướng Vanuxem người Pháp tác giả hồi ký " La Mort Du Vietnam"(1) thì miền Nam sau 30-4-1975 còn tệ hại hơn là tắm máu "Vô số thường dân và binh sĩ bị xử bắn tại chỗ.Thương bệnh binh bị đuổi hết ra khỏi bệnh viê.n.Những ai bất tuân lệnh, hay không lết đi nổi, thì bị bắn chết ngay tai chỗ.
Bác sĩ Vincent D'Athis Mons, một người Việt có quốc tịch Phápp là nhân chứng hiếm hoi chứng kiến việc nàỵÔng là người Việt có quốc tịch Pháp, thuộc phái đòan "Y Sĩ Không Biên giới" trong phái bộ y tế do nước Pháp gởi sang Vietnam.
Trong những giờ phút lịch sử đó, ông có mặt tại một bệnh viện dân sự của Viet Nam Cộng Hòa ở Vũng Tàu. Phái đoàn y tế Pháp lúc ấy đang chăm sóc cho khoản 80 người bị thương, đa số là thường dân và binh sĩ nhảy dù. Khi Việt Cộng đến, họ lập tức bắn chết tại chỗ các thương bệnh binh. Một phương cách giải quyết nhanh gọn, lạnh lùng, man rợ, phi nhân tính. Đại Tướng Pháp, ông Vanuxem viết:
"Đến lược những người man rợ đến. Có lẽ chưa có chỉ thị của cấp trên, nên họ ra lệnh ngưng lại tất cả mọ công tác và ý định chữa trị cho những người bị thương nói trên. Rồi một ngưpời khác lại đến, những người này có vẽ hiểu biết hơn, nhưng ra lệnh buộc tất cả phải rpời khỏi bệnh viện này, vì họ đang cần dùng."
Vì các Y Sĩ Không Biên giới không biết phải đưa những người bị thương mà họ đang chữa trị đi đâu, nên họ từ chối lệnh này. Tức thì một người chỉ huy tóan "giải phóng quân" nói với Bác Sĩ Vincent rằng: 'đây rồi, chúng tôi đã có cách.' Nói xong, hắn ta rút súng ngắn ra, kê vào đầu một ngườibị thương cạnh đó, và bóp cò. Bác Sĩ Voncent phản đối. Người ta lôi ông ra chỗ khác, và rồi, ông nghe nhiều tiếng súng lục nổ.Đến lúc súng hết nổ thì thì bệnh viện đã trống, sa94n sàng cho giải phóng quân sử dụng!
"Đây là một trong những nhân chứng và và chứng cớ của cuộc hành quyết nhanh gọn của những kẻ xâm lăng man rợ nàỵMột người trong phái bộ Y Sĩ không Biên Giới phải thốt lên: Thật là giống y như bọn phát xít Đức hồi năm 1940!"
Tình trạng đuổi bắn người cũng xảy ra y như vậy ở Quân Y Viện Cộng Hòa tại Hạnh Thông Tây, Gò Vấp. Các bác sĩ quân y, nam nữ trợ y trợ tá, và thương bệnh binh đều bị đuổi đi khỏi bệnh viê.n. Hoặc đi, hoặc chết tại chỗ. Quả là điều bi thảm.

VÔ ĐỊCH GIẾT NGƯỜI
Người ta không hiểu tại sao người Cộng Sản lại có thể hung dữ, ác độc, mạnh tay giết người như vâ.y. Trên thế giới, ở đâu cộng sản cướp chính quyền xong, là có thanh trừng và giết chốc đẫm máu, kéo dài nhiều chục năm. Nơi nào có cộng sản là có giết người, tù tội, nghèo đói. Chủ nghĩa cộng sản xem con người chỉ là một sinh vật vô thần, một loại thú vật hạ đẳng, cần được cải tạo thành "con người mới xã hội chủ nghĩạ"
Đối với người Cộng Sản, hành động sát nhân được coi là một hành vi khoa học xã hô.i. Cải tạo con người là một biện pháp bình thường và hợp lý của khoa học xã hội, khoa học thực nghiệm kiểu cộng sản. Chủ nghĩa cộng sản cướp đi quyền làm người, và vô địch về giết người.
Bác Sĩ Fred Scharz trong quyển "You Can Trust The Communist" (2) viết: "Cộng Sản chủ nghĩa quả thực vô địch về những hành động anh em trong nhà giết lẫn nhau, về những hành động anh em trong nhà giết lẫn nhau, về những hành động sát nhân, diệt chủng. Lòng coi thường tính mạng các nhân của cộng sản thật là vô giới ha.n. Dù người bị hi sinh là bạn hay là thù đối với cộng sản, cũng chẳng thành vấn đề."
"Người cộng sản đã hủy diệt địa chủ và tư bản, các nông dân và thợ thuyền , cùng với những biện pháp man rợ như nhau (..). Nhiều người lấy làm lạ là họ đã không rời bỏ chủ nghĩa cộng sản vì kinh tởm khi họ thấy trước mắt sự dã man, tàn ác, sự đánh đĩ trí thức khôn tả của công sản."
GHI KHẮC BIẾN CỐ 30-4-1975
Ghi khắc biến cố miền Nam sụp đổ từ 30.4.1975, người Việt hải ngoại nhất là giới trẻ bàng hoàng nhìn lại 23 năm miền Nam thống khổ. Cả nước còn chìm name trong chủ nghĩa cộng sản u ám. Đông Aâu và Liên xô đã được giải thoát, lẽ nào giới lãnh đạo Việt Nam còn tiếp tục tung hô chủ nghĩa cộng sản điên cuồng, bệnh ho.an. Cách đây vài ngày, báo chí nhà nước vẫn còn tung hô Lênin, ông tổ cộng sản, một lãnh tụ đồ tể của của thế kỷ 20.
Thế giới hiểu tại sao cộng đồng người Việt hải ngoại giữ vững lập trường kiên định chống Cộng Sản Việt Nam. Cộng đồng này gồm nhiều nạn nhân của chế độ cộng sản hung ba.o. Nhiều người đã bị bỏ tù lao động cải tạo nhiều năm. Họ từng bị cộng sản khủng bố, tra tấn, thoát chết trong đường tơ kẻ tóc. Họ đã chứng kiến nhiều phương cách sát nhân tinh vi của Cộng Sản Việt Nam.
Cho nên khối người Việt hải ngoại rất quý tự do, dân chủ. Ho. là những nhân chứng hùng hồn, đầy lòng thương cảm, luôn tranh đấu cho những người dân đang chịu khổ nạn trong nước. Đây là một cộng đồng trí thức, tự trọng, năng động, đóng góp nhiều cho bản xứ. Họ gây chú ý cho dư luận quốc tế, vì họ yêu nước và đòi nhân quyền cho Việt Nam.
Hơn ai hết, khối người Việt hải ngoại hiểu rõ về "bạo lực cách ma.ng." Càng ngày, giới trẻ hải ngoại càng rõ hiểu hơn về chiến tranh Việt Nam, về cái ác của Việt Cộng sau khi Sàigòn sụp đổ 30.4.1975, về Tết Mậu Thân 1968 ở Huế.
Người Việt hiểu rõ cái ác độc và gian xảo của cộng sản hồi thập niên 50 ở Bắc Việt, qua những giải pháp hòa hợp bhòa giải giả hiệu để thanh trừng các đảng phái quốc gia, chính sách Cải Cách Ruộng Đất, Trăm Hoa Đua Nở hay Xét La.i.
Người Việt hãi ngoại không mơ hồ về chủ nghĩa cộng sản hung tàn. NÓ hung tàn bằng hành động, mỹ miều bằng chữ nghĩa. Sự thật về Chiến Tranh Việt Nam và bộ mắt thật của Cộng Sản Việt Nam được người Việt hải ngoại và thế giới biết rõ. Lịch sử đã được viết lại chính xác, khẳng định đó là một cuộc chiến phá hoại do đảng cộng sản quốc tế lèo lái nhuộm đỏ Việt Nam.
Bom đạn của chiến tranh Việt Nam không có sức tàn phá đất nước khốc liệt bằng chủ nghĩa cộng sản bạo tàn. Nó tàn phá sinh lực nước Việt Nam bằng những cuộc trả thù, cải tạo, diệt chủng. Không thấy tắm máu một loạt như ở Cam Bốt, nhưng là những cuộc tắm máu bí mật và rỉ rả. Hiện vẫn còn nhiều trí thức của miền Nam đang bị nhốt tù chưa được thả.
Chủ nghĩa cộng sản vô thần và hung bạo đã giết nhiều triệu người dân quân Việt Nam Cộng Hòa yêu tự do. Nó gây nhiều tổn thất sâu đậm về vật chất lẫn tinh thần. Sự tổn hại này sẽ còn kéo dài nhiều thế hệ, khiến cho sự canh tân hóa quốc gia Việt Nam sẽ vô cùng khó khăn.
Ôn cố tri tân. Người Việt trong và nước ghi khắc biến cố 30.4.1975, và suốt chiều dài lịch sử Việt Nam cận đại, để tiếp tục chính nghĩa chống Cộng Sản, bạo lực và bất công. Người Việt trong nước và ngoài nước đang liên kết tranh đấu tích cực, để sớm dành lại nhân quyền, tự do và dân chủ đích thực cho Việt Nam tưới sáng ở thế kỷ 21.

NGUYỄN HOÀNG LAN
27.4.1998 



 

Nhân Dân đăng tin Công Hàm Bán Nước

Đây là copy từ báo Nhân Dân ra ngày 22 tháng 9, 1958. Tài liệu lấy ra từ thư viện của nhóm giáo sư Douglas Pike.

 

Ngay bên góc mặt của trang báo này là bản tin với tựa: "CHÍNH PHỦ NƯỚC VIỆT NAM DÂN CHỦ CỘNG HÒA CÔNG NHẬN QUYẾT ĐỊNH VỀ HẢI PHẬN CỦA TRUNG QUỐC."

Bản tin này được phóng lớn như hình trên. Nội dung bản tin được tóm gọn theo cách trình bày của nhà báo, gần như là nguyên văn của bản công hàm do Phạm Văn Đồng ký mà nhiều người đã từng thấy qua.

Sau đây là nguyên văn của bản tin trên báo Nhân Dân:

 

CHÍNH PHỦ NƯỚC VIỆT NAM DÂN CHỦ CỘNG HÒA CÔNG NHẬN QUYẾT ĐỊNH VỀ HẢI PHẬN CỦA TRUNG QUỐC.

Sáng ngày 21-9-1958, đồng chí Nguyễn Khang, Đại Sứ nước Việt nam dân chủ cộng hòa tại Trung Quốc, đã gặp đồng chí Cơ Bàng phi, Thứ trưởng Bộ Ngoại giao nước Cộng hòa nhân dân Trung hoa và đã chuyển bức công hàm sau đây của chính phủ ta:

Thưa đồng chí Chu Ân lai,

Tổng lý Quốc vụ viện nước Cộng hòa nhân dân Trung hoa,

Chúng tôi xin trân trọng báo tin để đồng chí Tổng lý rõ:

Chính phủ nước Việt nam dân chủ Cộng hòa ghi nhận và tán thành bản tuyên bố, ngày 4 tháng 9 năm 1958, của Chính phủ nước Cộng hòa nhân dân Trung hoa, quyết định về hải phận của Trung quốc.

Chính phủ nước Việt nam dân chủ cộng hòa tôn trọng quyết định ấy và sẽ chỉ thị cho các cơ quan Nhà nước có trách nhiệm triệt để tôn trọng hải phận 12 hải lý của Trung quốc trong mọi quan hệ với nước Cộng hòa nhân dân Trung hoa trên mặt biển.

Chúng tôi xin kính gửi đồng chí Tổng lý lời chào rất trân trọng.

Hà nội, ngày 14 tháng 9 năm 1958

PHẠM VĂN ĐỒNG

Thủ tướng Chính phủ

nước Việt nam dân chủ cộng hòa

    


 

Au Chau len an cong san_Nghi Quyet 1481

Chủ nghĩa cộng sản là tội ác của nhân loại
NGHỊ QUYẾT QUỐC HỘI ÂU CHÂU về CỘNG SẢN Resolution 1481 (2006) - Chủ nghĩa cộng sản là tội ác của nhân loại

Bản Tiếng Việt
HỘI ĐỒNG ÂU CHÂU
Nghị Viện Quốc Hội
Bản dự thảo
Nhu cầu kết án quốc tế về những tội phạm
của những chế độ cộng sản toàn trị
NGHỊ QUYẾT 1481 (Năm 2006) (1)
1. Nghị Viện Quốc Hội tham chiếu Nghị Quyết 1096 (Năm 1996) của mình về những biện pháp tháo bỏ cái di sản của những hệ thống cộng sản toàn trị đã qua.
2. Những chế độ cộng sản toàn trị đã cai trị ở Trung và Đông Âu-châu trong thế kỷ vừa qua, và những chế độ ấy vẫn còn nắm quyền tại một số nước trên thế giới, hết thảy các chế độ ấy, không có ngoại lệ, đã bị xếp loại vào đặc tính là mang những vi phạm tập thể về nhân quyền. Những vi phạm này đã có những khía cạnh khác nhau tùy thuộc vào nền văn hóa, vào quốc gia và vào giai đoạn lịch sử, và những vi phạm này đã bao gồm những vụ ám sát và xử tử cá nhân hay tập thể, bao gồm việc chết chóc trong các trại tập trung, bao gồm việc bỏ đói, lưu đầy, tra tấn, lao động nô dịch và bao gồm những hình thức khác như khủng bố thể xác hàng loạt, như bách hại dựa theo tiêu chuẩn chủng tộc hay tôn giáo, như vi phạm vào tự do của lương tâm, của tư tưởng và phát biểu, vi phạm vào tự do báo chí, và cũng như thiếu đa dạng chính trị.
3. Các tội ác đã được biện bạch nhân danh lý thuyết đấu tranh giai cấp và nhân danh nguyên tắc độc tài của giai cấp vô sản. Sự giải thích của hai nguyên tắc ấy đã hợp thức hóa việc “trừ khử“ những người bị xem là nguy hại tới việc xây dựng một xã hội mới và, như thế, những người này bị coi là những kẻ thù của các chế độ cộng sản toàn trị. Con số lớn rộng những nạn nhân trong mỗi quốc gia liên hệ đã là công dân thuộc chính quốc gia ấy. Đặc biệt đó là trường hợp của các dân tộc thuộc cựu Liên bang Xô Viết, vốn vượt rất xa các dân tộc khác về con số nạn nhân.
4. Nghị viện thừa nhận rằng, mặc dù các tội ác của các chế độ toàn trị, vài đảng cộng sản Âu-châu cũng đã có những đóng góp vào việc đạt tới nền dân chủ.
5. Sự sụp đổ của các chế độ cộng sản toàn trị tại Trung và Đông Âu-châu đã không được tiếp nối theo, trong mọi trường hợp, bởi một cuộc điều tra quốc tế về những tội ác vi phạm bởi các chế độ này. Hơn thế nữa, những thủ phạm gây ra tội ác đã không bị mang ra tòa xử án bởi cộng đồng quốc tế giống như trường hợp các tội ác khủng khiếp vi phạm bởi chế độ Quốc Xã đã bị mang ra xử. 6. Bởi thế, việc cảnh giác quần chúng về các tội ác vi phạm bởi các chế độ cộng sản toàn trị thực là rất được ít ỏi thực hiê.n. Đảng cộng sản còn hợp pháp và còn hoạt động tại một số quốc gia, ngay cả trong một số trường hợp chính những đảng này đã không xa ra cho lắm (rất gần) những tội ác vi phạm bởi các chế độ cộng sản toàn trị trong quá khứ.
7. Nghị viện xác tín rằng việc cảnh giác Lịch sử là một trong những tiền điều kiện để tránh những tội ác tương tự trong tương lai. Hơn thế nữa, việc thẩm định luân lý và việc kết án những tội ác đã vi phạm giữ một vai trò quan trọng việc giáo dục các thế hệ trẻ. Quan điểm minh bạch của cộng đồng quốc tế về quá khứ có thể là một điểm tham chiếu cho những hành động tương lai của họ.
8. Ngoài ra, Nghị viện tin rằng những nạn nhân của các tội ác vi phạm bởi những chế độ cộng sản toàn trị, mà những nạn nhân này còn đang sống hay gia đình của họ, đều xứng đáng nhận lòng trìu mến, sự thông cảm và sự thừa nhận về những nỗi thống khổ của họ.
9. Những chế độ cộng sản toàn trị còn hoạt động trong một số quốc gia trên thế giới và những tội ác còn tiếp tục vi pha.m. Những quan tâm về quyền lợi quốc gia chớ nên ngăn cản các quốc gia ấy phê phán thích đáng về các chế độ cộng sản toàn trị hiện tại. Nghị viện kết án mạnh mẽ tất cả những vi phạm đó về nhân quyền.
10. Các cuộc tranh luận và lên án mà cho tới nay vẫn được tiến hành ở bình diện quốc gia tại một số nước thành viên của Hội Đồng Âu Châu không thể miễn trừ cho cộng đồng quốc tế trong việc lấy một vị trí minh bạch về các tội ác vi phạm bởi các chế độ cộng sản toàn trị. Cộng đồng quốc tế có bổn phận luân lý phải làm như vậy mà không được trì hoãn lâu hơn nữa.
11. Hội Đồng Âu-Châu có vị trí tốt cho một cuộc tranh luận như vậy ở bình diện quốc tế. Tất cả các quốc gia cộng sản cũ Aâu-châu, ngoại trừ Belarus, ngày nay là thành viên của Hội Đồng và việc bảo vệ nhân quyền cũng như quy tắc luật pháp đều là những giá trị nền tảng mà Hội Đồng chủ trương.
12. Vì thế, Nghị viện Quốc Hội mạnh mẽ kết án những vi phạm tập thể về nhân quyền do các chế độ cộng sản toàn trị gây ra và bầy tỏ lòng trìu mến, sự thông cảm và thừa nhận đối với những nạn nhân của các tội ác này.
13. Hơn nữa, Nghị viện Quốc Hội kêu gọi tất cả các đảng cộng sản hay hậu cộng sản trong những nước thành viên mà cho đến nay đã chẳng làm như thế để tái thẩm định lịch sử chủ nghĩa cộng sản và quá khứ riêng của mình, hãy tự tách rời mình ra một cách rõ rệt khỏi những tội ác đã vi phạm bởi những chế độ cộng sản toàn trị và hãy kết án những tội ác ấy không chút mơ hồ nào cả.
14. Nghị viện tin tưởng rằng quan điểm minh bạch này của cộng đồng quốc tế sẽ dọn đường cho sự hòa giải tương lai. Hơn nữa, hy vọng Nghị viện sẽ khuyến khích các sử gia khắp thế giới tiếp tục công cuộc khảo cứu của họ nhắm mục đích xác định và kiểm chứng khách quan về những gì đã xẩy ra.
=============
(1) Nghị viện tranh luận vào ngày 25.02.2006 (Phiên họp thứ 5)(xem Doc.10765, phúc trình của Uûy Ban Chính Trị Vụ,Người Phúc trình:Ông LINDBLAD). Văn bản được Nghị viện thông qua vào ngày 25.02.2006 (Phiên họp thứ 5).
______________________________________________
Bản tiếng Anh
Parliamentary Assembly Assemblee parlementaire
Provisional edition
Need for international condemnation of crimes of totalitarian communist regimes
RESOLUTION 1481 (2006)1

1. The Parliamentary Assembly refers to its Resolution 1096 (1996) on measures to dismantle the heritage of the former communist totalitarian systems.

2. The totalitarian communist regimes which ruled in Central and Eastern Europe in the last century, and which are still in power in several countries in the world, have been, without exception, characterised by massive violations of human rights. The violations have differed depending on the culture, country and the historical period and have included individual and collective assassinations and executions, death in concentration camps, starvation, deportations, torture, slave labour and other forms of mass physical terror, persecution on ethnic or religious base, violation of freedom of conscience, thought and expression, of freedom of press, and also lack of political pluralism.

3. The crimes were justified in the name of the class struggle theory and the principle of dictatorship of the proletariat. The interpretation of both principles legitimised the "elimination" of people who were considered harmful to the construction of a new society and, as such, enemies of the totalitarian communist regimes. A vast number of victims in every country concerned were its own nationals. It was the case particularly of peoples of the former USSR who by far outnumbered other peoples in terms of the number of victims.

4. The Assembly recognises that, in spite of the crimes of totalitarian communist regimes, some European communist parties have made contributions to achieving democracy.

5. The fall of totalitarian communist regimes in Central and Eastern Europe has not been followed in all cases by an international investigation of the crimes committed by them. Moreover, the authors of these crimes have not been brought to trial by the international community, as was the case with the horrible crimes committed by National Socialism (nazism).

6. Consequently, public awareness of crimes committed by totalitarian communist regimes is very poor. Communist parties are legal and active in some countries, even if in some cases they have not distanced themselves from the crimes committed by totalitarian communist regimes in the past.
7. The Assembly is convinced that the awareness of history is one of the preconditions for avoiding similar crimes in the future. Furthermore, moral assessment and condemnation of crimes committed play an important role in the education of young generations. The clear position of the international community on the past may be a reference for their future actions.

8. Moreover, the Assembly believes that those victims of crimes committed by totalitarian communist regimes who are still alive or their families, deserve sympathy, understanding and recognition for their sufferings.

9. Totalitarian communist regimes are still active in some countries of the world and crimes continue to be committed. National interest perceptions should not prevent countries from adequate criticism of present totalitarian communist regimes. The Assembly strongly condemns all those violations of human rights.

10. The debates and condemnations which have taken place so far at national level in some Council of Europe member states cannot give dispensation to the international community from taking a clear position on the crimes committed by the totalitarian communist regimes. It has a moral obligation to do so without any further delay.

11. The Council of Europe is well placed for such a debate at international level. All former European communist countries, with the exception of Belarus, are now its members and the protection of human rights and the rule of law are basic values for which it stands.

12. Therefore, the Parliamentary Assembly strongly condemns the massive human rights violations committed by the totalitarian communist regimes and expresses sympathy, understanding and recognition to the victims of these crimes.

13. Furthermore, it calls on all communist or post-communist parties in its member states which have not so far done so to reassess the history of communism and their own past, clearly distance themselves from the crimes committed by totalitarian communist regimes and condemn them without any ambiguity.

14. The Assembly believes that this clear position of the international community will pave the way to further reconciliation. Furthermore, it will hopefully encourage historians throughout the world to continue their research aimed at the determination and objective verification of what took place.
---------------------------
1 Assembly debate on 25 January 2006 (5th Sitting) (see Doc.10765, report of the Political Affairs Committee, rapporteur: Mr Lindblad ). Text adopted by the Assembly on 25 January 2006 (5th Sitting).
---------------------------
RESOLUTION 1096 (1996)(1)
Dưới đây là nguyên bản văn của Nghị Quyết 1096 ngày 27/06/1996 của Nghị Viện Quốc Hội Âu Châu về những biện pháp tháo bỏ cái di sản của những hệ thống cộng sản toàn trị đã qua.

RESOLUTION 1096 (1996)(1) on measures to dismantle the heritage of former communist totalitarian systems
1. The heritage of former communist totalitarian systems is not an easy one to handle. On an institutional level this heritage includes (over)centralisation, the militarisation of civilian institutions, bureaucratisation, monopolisation, and over-regulation; on the level of society, it reaches from collectivism and conformism to blind obedience and other totalitarian thought patterns. To re-establish a civilised, liberal state under the rule of law on this basis is difficult - this is why the old structures and thought patterns have to be dismantled and overcome.

2. The goals of this transition process are clear: to create pluralist democracies, based on the rule of law and respect for human rights and diversity. The principles of subsidiarity, freedom of choice, equality of chances, economic pluralism and transparency of the decision-making process all have a role to play in this process. The separation of powers, freedom of the media, protection of private property and the development of a civil society are some of the means which could be used to attain these goals, as are decentralisation, demilitarisation, demonopolisation and debureaucratisation.

3. The dangers of a failed transition process are manifold. At best, oligarchy will reign instead of democracy, corruption instead of the rule of law, and organised crime instead of human rights. At worst, the result could be the "velvet restoration" of a totalitarian regime, if not a violent overthrow of the fledgling democracy. In that worst case, the new undemocratic regime of a bigger country can present also an international danger for its weaker neighbours. The key to peaceful coexistence and a successful transition process lies in striking the delicate balance of providing justice without seeking revenge.

4. Thus a democratic state based on the rule of law must, in dismantling the heritage of former communist totalitarian systems, apply the procedural means of such a state. It cannot apply any other means, since it would then be no better than the totalitarian regime which is to be dismantled. A democratic state based on the rule of law has sufficient means at its disposal to ensure that the cause of justice is served and the guilty are punished - it cannot, and should not, however, cater to the desire for revenge instead of justice. It must instead respect human rights and fundamental freedoms, such as the right to due process and the right to be heard, and it must apply them even to those people who, when they were in power, did not apply them themselves. A state based on the rule of law can also defend itself against a resurgence of the communist totalitarian threat, since it has ample means at its disposal which do not conflict with human rights and the rule of law, and are based upon the use of both criminal justice and administrative measures.

5. The Assembly recommends that member states dismantle the heritage of former communist totalitarian regimes by restructuring the old legal and institutional systems, a process which should be based on the principle(s) of:
i. demilitarisation, to ensure that the militarisation of essentially civilian institutions, such as the existence of military prison administration or troops of the Ministry of the Interior, which is typical of communist totalitarian systems, comes to an end;
ii. decentralisation, especially at local and regional levels and within state institutions;
iii. demonopolisation and privatisation, which are central to the construction of some kind of a market economy and of a pluralist society;
iv. debureaucratisation, which should reduce communist totalitarian over-regulation and transfer the power from the bureaucrats back to the citizens.

6. This process must include a transformation of mentalities (a transformation of hearts and minds) whose main goal should be to eliminate the fear of responsibility, and to eliminate as well the disrespect for diversity, extreme nationalism, intolerance, racism and xenophobia, which are part of the heritage of the old regimes. All of these should be replaced by democratic values such as tolerance, respect for diversity, subsidiarity and accountability for one's actions.

7. The Assembly also recommends that criminal acts committed by individuals during the communist totalitarian regime be prosecuted and punished under the standard criminal code. If the criminal code provides for a statute of limitations for some crimes, this can be extended, since it is only a procedural, not a substantive matter. Passing and applying retroactive criminal laws is, however, not permitted. On the other hand, the trial and punishment of any person for any act or omission which at the time when it was committed did not constitute a criminal offence according to national law, but which was considered criminal according to the general principles of law recognised by civilised nations, is permitted. Moreover, where a person clearly acted in violation of human rights, the claim of having acted under orders excludes neither illegality nor individual guilt.

8. The Assembly recommends that the prosecution of individual crimes go hand-in-hand with the rehabilitation of people convicted of "crimes" which in a civilised society do not constitute criminal acts, and of those who were unjustly sentenced. Material compensation should also be awarded to these victims of totalitarian justice, and should not be (much) lower than the compensation accorded to those unjustly sentenced for crimes under the standard penal code in force.

9. The Assembly welcomes the opening of secret service files for public examination in some former communist totalitarian countries. It advises all countries concerned to enable the persons affected to examine, upon their request, the files kept on them by the former secret services.

10. Furthermore, the Assembly advises that property, including that of the churches, which was illegally or unjustly seized by the state, nationalised, confiscated or otherwise expropriated during the reign of communist totalitarian systems in principle be restituted to its original owners in integrum, if this is possible without violating the rights of current owners who acquired the property in good faith or the rights of tenants who rented the property in good faith, and without harming the progress of democratic reforms. In cases where this is not possible, just material compensation should be awarded. Claims and conflicts relating to individual cases of property restitution should be decided by the courts.

11. Concerning the treatment of persons who did not commit any crimes that can be prosecuted in accordance with paragraph 7, but who nevertheless held high positions in the former totalitarian communist regimes and supported them, the Assembly notes that some states have found it necessary to introduce administrative measures, such as lustration or decommunisation laws. The aim of these measures is to exclude persons from exercising governmental power if they cannot be trusted to exercise it in compliance with democratic principles, as they have shown no commitment to or belief in them in the past and have no interest or motivation to make the transition to them now.

12. The Assembly stresses that, in general, these measures can be compatible with a democratic state under the rule of law if several criteria are met. Firstly, guilt, being individual, rather than collective, must be proven in each individual case - this emphasises the need for an individual, and not collective, application of lustration laws. Secondly, the right of defence, the presumption of innocence until proven guilty, and the right to appeal to a court of law must be guaranteed. Revenge may never be a goal of such measures, nor should political or social misuse of the resulting lustration process be allowed. The aim of lustration is not to punish people presumed guilty - this is the task of prosecutors using criminal law - but to protect the newly emerged democracy.

13. The Assembly thus suggests that it be ensured that lustration laws and similar administrative measures comply with the requirements of a state based on the rule of law, and focus on threats to fundamental human rights and the democratisation process. Please see the "Guidelines to ensure that lustration laws and similar administrative measures comply with the requirements of a state based on the rule of law" as a reference text.2

14. Furthermore, the Assembly recommends that employees discharged from their position on the basis of lustration laws should not in principle lose their previously accrued financial rights. In exceptional cases, where the ruling elite of the former regime awarded itself pension rights higher than those of the ordinary population, these should be reduced to the ordinary level.

15. The Assembly recommends that the authorities of the countries concerned verify that their laws, regulations and procedures comply with the principles contained in this resolution, and revise them, if necessary. This would help to avoid complaints on these procedures lodged with the control mechanisms of the Council of Europe under the European Convention on Human Rights, the Committee of Ministers' monitoring procedure, or the Assembly's monitoring procedure under Order No. 508 (1995) on the honouring of obligations and commitments by member states.

16. Finally, the best guarantee for the dismantlement of former communist totalitarian systems are the profound political, legal and economic reforms in the respective countries, leading to the formation of an authentic democratic mentality and political culture. The Assembly calls, therefore, on all consolidated democracies to step up their aid and assistance to emerging democracies in Europe, in particular as far as the support for the development of a civil society is concerned.
--------------------------------------------
1 Assembly debate on 27 June 1996 (22nd Sitting) (see Doc. 7568, report of the Committee on Legal Affairs and Human Rights, rapporteur: Mr Severin). Text adopted by the Assembly on 27 June 1996 (23rd Sitting).
2 See Doc. 7568.

Vụ CSVN thảm sát dân Làng Ba Chúc

 TỘI ÁC CỘNG SẢN VIỆT NAM TRONG BIẾN CỐ LÀNG BA CHÚC, AN GIANG THÁNG 4/1978

NGUYỄN VĨNH LONG HỒ


Hình chụp từ vệ tinh: làng Ba Chúc - Huyện Tịnh Biên - tỉnh Châu Đốc nằm sát biên giới Cam Bốt.Làng Ba Chúc và Huyện Tịnh Biên được khoanh màu đỏ.
Biên giới Việt Nam - Cam Bốt là gạch màu vàng.

 


Khi phát hiện chúng tôi trên núi, bọn chúng vây quanh và cứ thế những người lớn thì bị chúng lần lượt bắt giết, cưỡng hiếp… Trẻ con thì chúng lấy báng súng đập đầu, rồi tung lên trời cho rớt xuống đá hoặc xé xác đứa trẻ làm hai…”.

Nhìn thấy cảnh tượng hai đứa con bị đập đầu, mắt bà đã mờ đi nhưng khi bọn chúng chuẩn bị tung đứa thứ ba lên trời, với bản năng của một người mẹ, bà vùng dậy che chở cho con thì bị bọn chúng đè đầu xuống nền đá và bắn một viên đạn xuyên qua cổ họng bà. Không thể có nỗi đau nào lớn hơn nỗi đau phải nhìn tận mắt những đứa con thân yêu của mình bị giết hại, bà trừng trừng nhìn chúng và bất tỉnh.

Nhưng khi tai nghe được tiếng kêu la, tiếng khóc của con – đứa con trai nhỏ nhất (4 tuổi) và là đứa con thứ tư, đứa cuối cùng đang bị sát hại, bà lại hồi tỉnh. “Bọn chúng tung nó lên trời cho rớt xuống đá để bể đầu mà chết. 3 lần bị tung lên trời nhưng thằng nhỏ không chết, nằm trên phiến đá, máu me chảy đầy mình mẩy, nó thấy tôi thì kêu lớn: Má ơi … má ơi… Nghe tiếng kêu của thằng nhỏ, bọn chúng quay lại rút súng bắt thẳng vào ngực nó và một đứa cầm cục đá đập vào đầu tôi rồi bỏ đi luôn” – bà Nga kể tiếp.Chiều cùng ngày, bà tỉnh lại nhưng khi nhìn đống thi thể quanh mình là những đứa con và người thân, một lần nữa bà lại chết lịm. Sau đó là hành trình 12 ngày đêm bà trốn trong Núi Tượng để tránh bọn diệt chủng. Ban ngày tìm chỗ ẩn núp, ban đêm đi như người vô hồn về phía cách đồng xã Lương Phi.

...Năm 1977, Ba Chúc chỉ có 16 ngàn dân mà chỉ trong 11 ngày 3.157 người vô tội bị giặc sát hại, phần lớn trong số họ là người già, phụ nữ và trẻ em. Trên 100 hộ bị giết sạch không còn ai sống sót, giữa lòng Ba Chúc hôm nay vẫn còn đó những nền nhà cũ bám rêu. Trên mảnh đất nhỏ bé này đến hôm nay vẫn như còn nhuốm máu. Những người dân Ba Chúc hình như không đủ niềm vui để nở một nụ cười. Ai đã giết 3157 người dân vô tội làng Ba Chúc???





PHẦN I

THÁNG 4 NĂM 2009. Kỷ niệm đúng 31 năm, ngày dân làng BA CHÚC, tỉnh An Giang bị thảm sát vào tháng 4 năm 1978. Hơn 3.157 đồng bào ruột thịt bị tàn sát dã man đã chìm vào trong quên lãng. Tôi xin mở lại hồ sơ tố cáo tội ác bọn CSVN đã nhúng tay trong biến cố ghê tởm nầy, để đồng bào trong và ngoài nước nhận định. Xin đa tạ quý vị!

Vào cuối tháng 5 năm 1999. Tôi có nhận được lá thư đề ngày 21 tháng 5 năm 1999 của ông TRẦN H. (xin dấu tên) - cựu sĩ quan QĐVNCH - sinh quán tại xã BA CHÚC, tố cáo tội ác bọn CSVN giết người tập thể tại làng BA CHÚC, tỉnh AN GIANG. Từ đó, tôi phối kiểm các tài liệu trong và ngoài nước, tình hình biên giới phía Tây Nam 1978 - 1979 và các dữ kiện do những nhân chứng còn sống tại Hoa Kỳ cung cấp. Và tôi xin mở lại hồ sơ vụ án, đưa “sự cố” nầy ra trước ánh sáng để CĐVNHN và đồng bào trong nước biết thêm về tội ác tày trời, giết người tập thể còn dã man, tàn bạo và khủng khiếp hơn cả TẾT MẬU THÂN 1968. Nạn nhân gồm cả đàn bà, trẻ con Việt Nam lẫn Cam Bốt bị thảm sát tại các CHÙA, TRƯỜNG HỌC tại làng Ba Chúc cách biên giới VIỆT - MIÊN khoảng 7 cây số và chỉ trong vòng một đêm 18 tháng 4 năm 1978. Cái dã man và vô nhân đạo của bọn Lãnh đạo Đảng CSVN đã đem những bộ hài cốt của những nạn nhân do chúng thảm sát, đem trưng bày trong các hộp kính để gây ảo giác căm thù giữa hai dân tộc VIỆT NAM – KAMPUCHEA.

VỊ TRÍ NHÀ MỒ BA CHÚC
Căn cứ vào hình ảnh và sự mô tả trên mạng saigonnet ngày 4/ 21 /2004: Nhà mồ Ba Chúc, Chùa Phi Lai và Chùa Tam Bửu là những di tích được nhà nước công nhận là di tích vào năm 1980 là một địa điểm ghi dấu tội ác man rợ của bọn diệt chủng Pôn - Pốt qua 11 ngày (từ 18/ 4/ 1978 đến ngày 29/ 4/ 1978) đã xâm lược và sát hại hàng ngàn người dân xã Ba Chúc. Nhà mồ Ba Chúc có hình lục giác, mỗi trụ cột đỡ mái nhà được kiến trúc hình tượng như bàn tay đẫm máu, đang vươn thẳng lên. Bên trong nhà mồ là một khung hộp bằng kính tám cạnh, chứa đựng 1.159 bộ hài cốt được phân thành nhiều loại khác nhau như: độ tuổi, giới tính... Nhà mồ được xây dựng giữa hai ngôi chùa Phi Lai và Tam Bửu, đây là hai ngôi chùa do các tín đồ của đạo Hiếu Nghĩa dựng lên và cũng chính nơi đây đã trở thành nơi chứng kiến những tội ác của chúng và những chứng tích đó vẫn còn in dấu cho đến ngày nay.

Sau khi phối kiểm và phân tách “Câu chuyện làng BA CHÚC ở biên giới MIÊN - VIỆT” của ông HOÀNG QUÝ (mạng lenduong. net ngày 5/02/2004), chi tiết về cụm nhà mồ BA CHÚC kể trên và thơ tố cáo của ông TRẦN H. Một điểm trùng hợp rất quan trọng là ông TRẦN H, và ông HOÀNG QUÝ đều xác nhận là tất cả nạn nhân đều bị thảm sát tại CHÙA VÀ TRƯỜNG HỌC .

Ông TRẦN H. viết: “... CSVN đưa sư đoàn 30 CSBV án ngữ dầy đặc dọc biên giới Miên Việt tỉnh Châu Đốc cũ. Chiều đến thì bọn cán bộ và bộ đội Cộng sản bắt dân vào CHÙA VÀ TRƯỜNG HỌC ngủ để chúng bảo vệ. Nửa đêm, dân ngủ mê, chúng giả bộ đội Miên tấn công vào chùa và trường học bằng lựu đạn, cổng ngoài khóa chặt. Sau đó, chúng nổi lửa đốt sạch làm hằng ngàn dân vô tội phải chết oan uổng dưới bàn tay vô thần của CSVN. Nhứt là tại làng Ba Chúc thuộc huyện Tri Tôn, tỉnh An Giang, có trên 3.000 người bị chúng giết tập thể. Nay chúng cho xây một ngôi nhà kiếng để chứa đống xương vô định chất cao bằng đầu...(ngưng trích)

Ông HOÀNG QUÝ viết: “...Thời cuộc đã biến chuyển khôn lường, sau đó chính 2 lực lượng anh em nầy quay mũi súng vào nhau, lực lượng vũ trang của Khờ me đỏ đã tấn công vào làng Ba Chúc, cách biên giới khoảng 4 dậm, vào ngày 18 / 4/ 1978... Tổng cộng có 3.157cả người Việt Nam lẫn Cam bốt bị thảm sát tại các CHÙA VÀ TRƯỜNG HỌC tại Việt Nam. Những cuộc tấn công khác tương tự như trường hợp nầy là những lý do mà CSVN nêu lên để xua quân tiến chiếm Cam Bốt vào cuối năm đó... (ngưng trích).

Trong bài viết “WHEN THE KHMER ROUGE CAME IN VIETNAM” của James Pringle đăng trong International Herald Tribune, số ra ngày Jan 7, 2004 có thuật lại lời của chứng nhân, bà Hà Thị Nga nói: “Trong một ngôi chùa, tôi thấy 40 nạn nhân sợ hãi trốn dưới bàn thờ, trước khi bị giết bằng lựu đạn.” (In a temple, I saw where 40 terrified victims hid under the alter before being killed by grenades). Bà Hà Thị Nga có phải là một người được chánh quyền dàn dựng đưa ra trả lời phóng viên James Pringgle? Tại sao bà biết con số chính xác là 40 người trốn dưới bàn thờ? Trừ phi họ đứng xếp hàng cho bà điểm danh trước khi chun dưới bàn thờ. Tôi là người sống ở miền Tây, thăm viếng nhiều chừa chiền, không một ngôi chùa nào có một cái bàn thờ khổng lồ có sức chứa 40 người trốn dưới đó. Tập trung trốn dưới bàn thờ, chẳng khác nào cho bọn Khmer Đỏ biết: “Lạy ông con trốn ở bụi nầy!”

Một điểm trùng hợp rất quan trọng là cả hai ông Trần H. và Hoàng Quý và chứng nhân đều xác nhận là tất cả các nạn nhân đều bị thảm sát tại CHÙA & TRƯỜNG HỌC. Và thời gian xảy ra vào ngày 18/ 4/ 1978 và không thấy ông Hoàng Quý nói cuộc thảm sát kéo dài đến ngày nào, giống như chi tiết về cụm nhà mồ Ba Chúc kéo dài đến 11 ngày từ 18/ 4/ 1978 đến ngày 29/ 4/ 1978. Tìm hiểu những nguyên chính đưa đến việc bọn CSVN đã tắm máu dân làng Ba Chúc như sau:

TÌNH HÌNH NỘI BỘ VIỆT NAM – KAMPUCHEA SAU 1975

Theo sự tiết lộ của Hoàng Tùng - Tổng biên tập báo Nhân Dân - và là Ủy viên BCT/TƯ Đảng CSVN: Bắc Bộ Phủ đã có ý đồ chiếm đóng Cam Bốt từ năm 1970 - 1972. Cuối năm 1976, Đại Hội IV Đảng Lao Động đổi thành Đảng CSVN dưới sự giám sát của lý thuyết gia MIKHAI A. SUSLOV - Trưởng phái đoàn Sô Viết - thì hầu hết các Ủy viên Bộ Chính Trị đã nối đuôi Lê Duẩn thần phục Mạc Tư Khoa. Đại hội IV của Đảng CSVN chấp nhận đề án của Lê Duẩn xúc tiến việc thành lập LIÊN BANG ĐÔNG DƯƠNG bằng cách thuyết phục và nếu cần dùng áp lực quân sự để buộc Cam Bốt và Lào gia nhập. Sau Đại Hội IV, Lê Duẩn và BCT/TƯ/Đảng CSVN nhận định rằng: Việt Nam nằm trong quỹ đạo của Liên Sô là đối lập với Trung Quốc và sự liên kết giữa Trung Quốc và Cam Bốt sẽ áp lực quân sự nặng nề tại vùng biên giới phía Tây Nam.

CUỘC XUNG ĐỘT VŨ TRANG VÙNG BIÊN GIỚI PHÍA TÂY NAM

KAMPUCHEA TẤN CÔNG VIỆT NAM LẦN THỨ NHẤT NĂM 1977
Tháng 3 năm 1977: Ieng Sary - Ngoại trưởng Khmer Đỏ - sang Bắc Kinh nối lại quan hệ thân thiết cũ. Trong buổi tiếp tân có Lý Tiên Niệm - Phó Thủ Tướng - và Tướng Vương Thăng Long - Tổng Tham mưu phó QĐNDTQ - khoản đãi phái đoàn Kampuchea cho thấy sự hợp gắn bó giữa hai nước.

Tháng 4 năm 1977: Trong buổi tiếp tân tại Tòa Đại Sứ Kampuchea, Ngoại trưởng Hoàng Hoa công khai tuyên bố: “Nước Kampuchea đang bị kẻ thù phá hoại và Trung Quốc sẽ sát cánh với những dân tộc nhỏ yếu chống lại những hành động can thiệp và gây hấn của các lân bang”. Nhận được sự hậu thuẫn của Trung Quốc. Hai tuần sau, đúng vào ngày Việt Nam tưng bừng kỷ niệm năm thứ hai “Mùa Xuân Đại Thắng 1975”. Quân đội Kampuchea bất thần mở cuộc tấn công qui mô vào những làng xã và những thị trấn dọc biên giới tỉnh An Giang, và sau đó rút về bên kia bên giới.

KAMPUCHEA TẤN CÔNG LẦN THỨ HAI VÀO TÂY NINH
Ngày 27 tháng 9 năm 1977: Tên đồ tể Pôn - Pốt lên đài phát thanh đọc diễn văn dài 5 tiếng đồng hồ, chính thức xác nhận vai trò lãnh đạo của mình và tổ chức ANGKA là Đảng Cộng Sản Kampuchea. Một ngày sau khi ra mắt. Pôn - Pốt lên đường đi Bắc Kinh và Bình Nhưỡng. Lần đầu tiên đi công du với tư cách là Chủ tịch Đảng và Thủ Tướng. Pôn - Pốt được đón tiếp trọng thể. Cờ và biểu ngữ giăng đầy Thiên An Môn.

Ba ngày trước đó, để chứng tỏ quyết tâm chống Việt Nam của mình đối với Trung Quốc. Pôn - Pốt ra lệnh cho Quân Khu Đông tấn công vào lãnh thổ Việt Nam thuộc tỉnh Tây Ninh. Việt Nam tự hạn chế, không cho quân đội vượt biên phản công, đồng thời cách chức Tướng Tư lệnh quá khích TRẦN VĂN TRÀ và Tướng LÊ ĐỨC ANH thay thế. Trong bài viết The continuing conflict in Southeast Asia của David Miller đăng trong cuốn THE VIETNAM WAR ghi nhận: “Nhiều đồng bào địa phương đã chạy thoát, nhưng Hà Nội quả quyết người Kampuchea thảm sát 2.000 thường dân” (Many local residents fled, but an official Hanoi communique alleged that kampucheans had massacred some 2,000 civilians).

Sau đó, một mặt Đảng CSVN gởi điện văn chúc mừng lễ ra mắt Đảng CS Kampuchea, một mặt bí mật gởi Phan Hiền sang Bắc Kinh nhờ Trung Quốc dàn xếp cho gặp phái đoàn Kampuchea. Cuộc tiếp xúc không đi đến đâu. BCT/ ĐẢNG CS Trung Quốc đều nhất trí ủng hộ Khmer Đỏ. Trung Quốc bắt đầu chở vũ khí và chiến cụ ồ ạt tới cảng Komphong Som để trang bị tận răng cho quân đội kampuchea. CSVN buộc phải đứng hẳn về phía Liên Sô tìm cách phản công chống lại Khmer Đỏ quyết liệt hơn. Tập đoàn Lãnh đạo CSVN đã sai lầm một chiến lược quan trọng: “Nước xa không cứu được lửa gần”.

QUÂN ĐỘI VNCS PHẢN CÔNG KAMPUCHEA CUỐI NĂM 1977
Vào những ngày cuối năm 1977. Lực lượng vũ trang QĐND/VNCS mở những trận tấn công thăm dò vào sâu trong lãnh thổ Kampuchea. Quan hệ ngoại giao giữa hai nước bị cắt đứt và công khai hóa tranh chấp lãnh thổ và hai bên điều động thêm lực lượng vũ trang tăng cường hệ thống phòng thủ dọc biên giới. Nhưng, phía Việt Nam bị Quốc tế tố cáo và lên án xâm lăng Kampuchea, quân đội viễn chinh VNCS buộc phải rút về nước vào ngày 6 tháng 1 năm 1978.

KAMPUCHEA TẤN CÔNG LẦN THỨ 3 VÀO ĐẦU NĂM 1978
Đầu tháng giêng 1978: Tại vùng biên giới cực Nam. Các đơn vị thuộc Sư Đoàn 2 và 210 của Quân Khu Tây Kampuchea đã tấn công và chiếm đóng các xã Phú Cường, Khánh An, Khánh Bình và các huyện Hồng Ngự và Hà Tiên thuộc lãnh thổ Quân Khu IX Việt Nam. Và đây là cuộc tấn công vào lãnh thổ Việt Nam lần cuối cùng, vì họ sẽ chẳng còn cơ hội nào vượt biên tấn công vào Việt Nam nữa. Tướng TRẦN NGHIÊM nguyên là Tư Lệnh Phó của LÊ ĐỨC ANH. Sau khi Lê Đức Anh thay Trần văn Trà. Tướng Trần Nghiêm được đề bạt lên làm Tư lệnh Quân Khu IX, chịu trách nhiệm điều động 3 sư đoàn chính quy cơ hữu, gồm các Sư đoàn 4, 8 và 330 cùng với 2 trung đoàn chủ lực cơ động tỉnh Hậu Giang và Đồng Tháp. Sư đoàn 341 do tướng Vũ Cao làm Tư Lệnh được điều từ Quân Khu VII đến tăng phái cho Quân Khu IX cùng với sự yểm trợ của không quân, pháo binh, thiết giáp... với lực lượng áp đảo và hùng hậu như vậy, mà phải mất 2 tháng phản công mới đánh bật sư đoàn 2 và 210 của Kampuchea ra khỏi biên giới và tái chiếm lại lãnh thổ đã mất.

Đầu tháng 3 năm 1978: Tình hình biên giới phía Tây Nam hoàn toàn yên tĩnh. Sư đoàn 341 được trả về Quân khu VII sau khi hoàn thành nhiệm vụ. Tướng Trần Nghiêm tái phối trí 3 sư đoàn 4, 8 và 330 cùng hai trung đoàn cơ động tỉnh Hậu Giang và Đồng Tháp vào nhiệm vụ phòng thủ diện địa. Riêng sư đoàn 330 được chỉ định thành lập tuyến phòng thủ an ninh lãnh thổ huyện TRI TÔN.

KAMPUCHEA KHI SƯ ĐOÀN 2 VÀ 210 RÚT VỀ BÊN BIÊN GIỚI
Bắt đầu từ tháng năm 1978 và những tháng sau đó. Cuộc thanh trừng nội bộ ở Quân Khu Đông càng ngày càng trở nên gay gắt và lên đến cao điểm vào ngày 24 tháng 5 năm 1978, lực lượng của KE PAULK - Bí thư Khu ủy Trung tâm của Khmer Đỏ - thuộc Quân khu Trung Ương kéo đến SOUNG, bao vây tổng hành dinh của Quân khu Đông, bắt giam tất cả sĩ quan chỉ huy và nhiều cuộc chạm súng đã xảy ra giữa đôi bên. Sau cuộc thanh trừng, sư đoàn 4 coi như bị xóa sổ, các sư đoàn 3, 5, 280 còn lại bị suy yếu hẳn.

BCT/TƯ Đảng CSVN không bỏ lở cơ hội ngàn vàng, triệt để khai thác nhược điểm của địch là sự xâu xé nội bộ và mâu thuẫn hàng ngũ của Khmer Đỏ theo đúng sách lược của Lenine: “Phải chộp ngay cơ hội chia rẽ của địch”, bằng cách ráo riết chuẩn bị chuẩn bị “tâm lý quần chúng” và “dư luận Quốc tế” . Rõ ràng, bọn Đảng CSVN đã đạo diễn tấn thảm kịch cực kỳ dã man, tàn bạo và ghê tởm: tắm máu 3.157 đồng bào vô tội, đa số tín đồ Phật Giáo Hòa Hảo trong đêm 18 /4/ 1978 rồi đổ tội cho bọn đồ tể Khmer Đỏ gây ra. Độc chiêu “ném đá dấu tay”, rồi dở trò “mèo khóc chuột” của bọn CSVN đã thành công trong âm mưu tạo ra kẻ thù Khmer Đỏ bằng xương bằng thịt để kích động lòng căm thù chủng tộc Việt Nam - Kampuchea, rồi triệt để khai thác sức mạnh của lòng căm thù của quần chúng vào mục tiêu chánh trị và quân sự để chuẩn bị xâm lăng Kampuchea.

Tất cả bộ máy chiến tranh tâm lý của bọn CSVN được động viên vào việc tuyên truyền rầm rộ. Những cuộc biểu tình, hội thảo diễn ra khắp nơi, các đài phát thanh, phát hình trong nước mở tối đa công xuất lên án bọn diệt chủng Pôn Pốt đã xâm lược và sát hại hàng ngàn người dân xã Ba Chúc để tranh thủ dư luận Quốc tế, có chứng cớ hẳn hòi, chớ không phải tố cáo vu vơ như lần quân Khmer Đỏ tấn công vào lãnh thổ tỉnh Tây Ninh thảm sát 2.000 thường dân. Quân đội CSVN xua quân tấn công Kampuchea chỉ vì lý do tự vệ chánh đáng, chớ không phải xâm lăng Kampuchea như đã từng bị lên án trước đó.

NGÀY 15/ 6/ 1978, chiến dịch tấn công Kampuchea mở màn. Các sư đoàn chính quy 7, 9 và 341 cùng với các đơn vị yểm trợ hùng hậu tràn qua biên giới Việt - Miên, chiếm đóng một phần lãnh thổ sâu trong nội địa Kampuchea từ 10 đến 40 km, trong đó có quận Prasaut. Lúc đó nhằm mùa mưa. Kampuchea tăng cường thêm nhiều sư đoàn từ trong nội địa ra biên giới để phản công. Từ Prasaut, quân xâm lược CSVN phải lùi về Chipru...

DẤU ĐẦU LÒI ĐUÔI

6 ĐIỂM CHỨNG MINH TỘI ÁC CỦA CSVN TRƯỚC DƯ LUẬN QUỐC TẾ VÀ ĐỒNG BÀO TRONG & NGOÀI NƯỚC

• ĐIỂM MỘT: Không thấy chánh quyền địa phương đề cập đến con số thiệt hại về nhân mạng cũng như tài sản của nhân dân sau 3 lần lực lượng Khmer Đỏ tấn công vào lãnh thổ Việt Nam, đặc biệt là 2 tháng đầu năm 1978 là thời gian quần thảo dữ dội giữa 4 sư đoàn + 2 trung đoàn cơ động CSVN để đánh bật sư đoàn 2 và 210 của Kampuchea ra hỏi biên giới. Điều đó đã chứng minh rằng: Đồng bào MNVN đã tích lũy quá nhiều kinh nghiệm “chạy giặc”. Giặc Tây đi bố, giặc Việt Minh CS giết người đoạt của, giặc Miên nổi dậy “cáp duồn”... nên phản ứng của họ vô cùng bén nhạy. Mỗi khi có biến động là nhà nhà báo động bằng đủ mọi phương tiện như gõ mõ, thùng thiếc, gióng trống, khua chiên, nồi niêu, xoong chảo... để kịp thời bồng bế con cái chạy giặc. Họ không bao giờ chịu nằm yên trong nhà, ngoan ngoãn chờ bọn Khmer Đỏ đến lùa họ đi. Và một điều chắc chắn là khi họ nhận diện binh lính của Khmer Đỏ, họ sẽ chạy bung ra, chạy bán sống bán chết giống như hồi Tết MẬU THÂN 1968, dân MNVN chạy giặc Việt Cộng, dễ dầu gì bọn Khmer Đỏ có đủ lực lượng tập trung dân làng Ba Chúc vào các CHÙA & TRƯỜNG HỌC một cách dễ dàng để tàn sát tập thể. Hơn nữa, địa thế làng Ba Chúc dưới chân núi TƯỢNG và bên kia là núi DÀI, một địa thế lý tưởng cho đồng bào lẫn trốn dễ dàng.

• ĐIỂM HAI: Những vị cao niên nào sống ở Miền Tây Nam Bộ thuộc các tỉnh Châu Đốc, Vĩnh Long, Trà vinh, Sóc Trăng chắc chưa quên những cuộc nổi dậy bất thần đầy chết chóc của những đồng bào Việt gốc Miên sống trong các sóc vùng sâu. Và danh từ “Miên dậy” là tiếng báo động khẩn cấp đồng bào Việt gọi nhau chạy lánh nạn. Những người Miên từ trong các sóc đồng loạt ùa ra, tay cầm phảng, cuốc xẻng, rựa... tay kia cầm chai rượu “phất xạ” (uống rượu), họ ào ạt xông vào các xóm làng của đồng bào ta như cơn gió lốc, rượt đuổi dân làng chạy tán loạn. Họ vừa chạy vừa thét : “Dơ! Cáp duồn! Bòn ơi!...” (Nào! Giết tụi Việt! Bây ơi!...” Trong cơn say rượu, say máu, họ gặp đàn bà chém theo đàn bà, trẻ con đâm theo trẻ con... gặp đâu giết đó. Bọn diệt chủng Khmer Đỏ cũng thế! Một khi tràn qua biên giới Việt Nam, họ đâu có lòng nhân đạo đến độ phải tập trung đồng bào ta vào các chùa chiền để đọc kinh cầu nguyện trước khi hành quyết, hoặc dồn trẻ con vào các trường học vì sợ trẻ chết xuống âm phủ thành những con ma mù chữ?

• ĐIỂM BA: Nếu như muốn cưỡng bách trên 3, 4 ngàn người sống rải rác trong làng Ba Chúc với một địa thế hiểm trở như thế, cách biên giới Việt - Miên khoảng 7 km và cách con kinh Vĩnh Tế khoảng 5 km. Chúng tôi nghĩ, bọn diệt chủng Pôn Pốt phải huy động bao nhiêu sư đoàn Khmer Đỏ mới làm nổi việc đó? Và làm thế nào những sư đoàn nầy lọt qua tuyến phòng thủ biên giới Tây Nam dầy đặc của 3 sư đoàn chính quy 4, 8 và 330 của QĐND và 2 trung đoàn cơ động tỉnh với lực lượng yểm trợ hùng hậu gồm: thiết giáp, pháo binh và không quân đóng tại căn cứ Trà Nóc? Và hơn thế nữa, bọn Khmer Đỏ làm thế nào kéo dài cuộc thảm sát dân làng Ba Chúc trong suốt 11 ngày đêm mà không có cuộc chạm súng nào với các đơn vị chủ lực CSVN phòng thủ biên giới kể trên, trừ phi các đơn vị nầy nhận được lệnh của BCT/TƯ/ Đảng “án binh bất động”, để mặc cho bọn Khmer Đỏ mặc sức giết đồng bào ta? Không có tổn thất về nhân mạng được ghi nhận cho cả hai phía Khmer Đỏ và bộ đội biên phòng CS (có đánh đấm gì đâu mà có tổn thất chứ!), chỉ có trên 3.000 đồng bào bị thảm sát mà thôi. Tưởng cũng xin nhắc lại: Trước 30/4/1975, Quân Đoàn IV và Quân khu 4 chỉ có 3 sư đoàn chủ lực 7, 9 và 21 / BB và nếu như 3 sư đoàn nầy được phối trí, tập trung vào nhiệm vụ phòng thủ biên giới phía Tây Nam thì chưa chắc một con chuột chui qua lọt, đừng nói chi một đơn vị nhỏ của quân xâm lược CSBV.

• ĐIỂM BỐN: Thời điểm bọn Khmer Đỏ thảm sát dân làng Ba Chúc từ 18 /4 /1978 đến 29 /4 /1978 lại càng không hợp lý. Vì trong thời gian đó, ở bên kia biên giới, cuộc thanh trừng nội bộ đang xảy ra gay gắt và quyết liệt ở Quân Khu Đông sắp lên đến cao điểm. Làm sao Pôn Pốt có thể điều động lực lượng Khmer Đỏ vượt biên tấn công Việt Nam?

• ĐIỂM NĂM: Người nông dân Việt Nam nói chung và miền Tây Nam Bộ nói riêng, họ chỉ di dân vào các điểm tập trung dưới sự bảo vệ an ninh của quân đội VNCH. Hệ thống “Ấp chiến lược” được thiết lập trong thời chiến tranh là một thí dụ cụ thể. Điều nầy phải là cán bộ địa phương và bộ đội CSVN mới có thể tập trung dân làng Ba Chúc vào các CHÙA & TRƯỜNG HỌC đã chỉ định sẵn theo kế hoạch để ra tay tàn sát đồng loạt. Và sư đoàn 30 (tên gọi tắt của đồng bào địa phương) chính là sư đoàn 330 chỉ định cuộc giết người tập thể nầy vào đêm 18 /4 /1978. Vì SĐ 330 được thành lập tại MNVN trước khi tập kết ra Bắc do Tướng Đồng văn Cống làm Tư lệnh thì dân làng Ba Chúc mới có lòng tin đi theo chúng vào các chùa và trường học để được chúng bảo vệ an ninh. Sau đó, chúng khóa chặt cửa lại. Chờ khi đêm đến, bộ đội CSVN đội lốt quân Khmer Đỏ kéo đến giết sạch, đốt sạch đúng như lời tố cáo của ông Trần H. và đó sự thật không thể chối cãi. Hiện nay, một vài nhân chứng còn sống sót như bà Trần thị C, ông Nguyễn văn Ch...và một nhân chứng quan trọng là một thầy giáo cấp 2 ở kinh Vĩnh Tế họ Trần (xin dấu tên) đã dám nói lên sự thật với đồng bào nên bị sa thải khỏi nhiệm sở và bị tên Giám Đốc Công An tỉnh An Giang - bí danh Sáu Nhỏ - bắt giam 2 năm để cảnh cáo.

• ĐIỂM SÁU: Tại sao bọn CSVN mở cuộc thảm sát tập thể dân làng Ba Chúc, cách biên giới đến 7 km? Trước năm 1975, có ai đặt chân lần đầu đến Ba Chúc dưới chân làng Ba Chúc dưới chân núi Tượng và bên kia núi Dài, đều ngạc nhiên trước hết là nhìn đâu đâu cũng thấy chùa và đa số chùa nào cũng giữ theo truyền thống là tường xây bằng gạch nhưng mái lợp lá. Riêng tại làng Ba Chúc có khoảng 15.000 tín đồ Bửu Sơn kỳ Hương thờ vị Giáo Tổ Đức Phật Thầy Tây An, lấy giáo lý PGHH do Đức Huỳnh Giáo Chủ đề xướng: Tứ Ân, Bát Nhẫn và tám Điều Răn của Đức Thầy để tu thân. Điều nầy chúng minh dã tâm của bọn CSVN vừa tiêu diệt tín đồ PGHH, vừa đốt luôn các chùa chiền, nơi tín đồ PGHH thờ phượng đấng thiêng liêng, rồi đổ tội diệt chủng cho bọn Khmer Đỏ đã biến mất về phía bên kia biên giới, thế là xong! Những việc giết người tập thể là sách lược của bọn CSVN, có tính toán tinh vi và được thực hiện từng bước theo kế hoạch được dàn dựng hẳn hoi. Đây là độc chiêu “nhất tiển hạ song điêu” của bọn CSVN.

PHẦN IINội dung và chi tiết PHẦN I kể trên, tôi đã đúc kết lại thành một bài viết với chủ đề: “Mở lại hồ sơ CSVN thảm sát 3,157 đồng bào làng Ba Chúc, tỉnh An Giang đêm 18/ 4/ 1978” đã được đưa lên mạng Người Việt Online ngày 3 tháng 5 năm 2004 lúc 2:59 PM.

Sau khi bài viết nầy đã được đưa lên mạng thì đúng 7 ngày sau, ông LỤC TÙNG từ trong nước, viết một phóng sự - ghi chép với tựa đề “BA CHÚC NGÀY 16 THÁNG 3...” đưa lên báo Lao Động số 131, ngày 10 tháng 5 năm 2004. Xin tóm lược vài điểm chính của bài báo nầy:

• Nơi đây, đúng 3 năm sau ngày thống nhất đất nước, bè lũ diệt chủng Pôn - Pốt đã xua quân vượt biên giết 3.574 thường dân bằng những hình thức dã man, như: Người lớn, chúng dùng búa đập đầu, dao cắt cổ trẻ em thì nắm hai chân xé ra, hoặc đập đầu vào gốc cây, nếu chưa chết thì quăng lên cao, sau đó vươn lưỡi lê lên hứng. Riêng với phụ nữ, trước khi dùng lưỡi lê xẻo vú, hay thọc cây tầm vông, cọc trâm bầu vào cửa mình cho chết, chúng lột quần áo ra rồi thay nhau hãm hiếp tập thể”. Để tưởng nhớ những người dân vô tội, hằng năm vào ngày 16 tháng 3 A.L, chính quyền và nhân dân nơi đây tổ chức ngày giỗ hội. Giỗ hội lần thứ 26 năm nay nhằm ngày 4. 5. Tôi (Lục Tùng) lật sổ tay, đoạn ghi lại số liệu của ỦY BAN TRUNG ƯƠNG ĐIỀU TRA TỘI ÁC CHIẾN TRANH XÂM LƯỢC trong 11 ngày đêm từ 14 đến 25/ 4 /1978. bè lũ Pôn - Pốt đã sát hại tổng cộng 3.574 thường dân.

• Trên đường dẫn chúng tôi (Lục Tùng) đến nhà bà Hà thị Nga, một trong số 3 người sống sót trong tầm diệt chủng, ông Trần Văn Nhi - nguyên Phó Chủ Tịch thị trấn Ba Chúc - không nén được xúc động nói: “Tôi đã đi qua hai cuộc chiến tranh, đánh Pháp, đuổi Mỹ, nhưng chưa bao giờ thấy cảnh ngư̖