Ho Chi Minh

quoc te cong san Ho Chi Minh

Luận Tội Hồ Chí Minh

 

 Tai Sao Dam Vinh Hung bi Chong Doi

 80 Năm C�n Ngủ Chưa Tỉnh Thức

 Tại Sao Có Ngày Sinh Nhật HCM 19/5/1946 tại Hà Nội?

 TưởngNiệm ThuyềnNhân 35năm:                                       

http://www.youtube.com/watch?v=OzhzglMjD7M

Tuyên Truyền Tẩy Não Kỳ Dị

 Tai Sao Co Chien Tranh Viet Nam? 

 Hội Nghị Fontainebleau 

 Nguyen Ai Quoc chong Phap tai Phap. Phap nao?

Tội Bán Nước của HCM

Cuộc Chiến Tranh Ý Thức Hệ: 1946-1954

NMTriết và Những Trích Dẫn của TT Hoa Kỳ  

Nguyễn Minh Triết Trước Những Mũi Nhọn

Màu Sắc Chính Trị Trong Phim Mê Thảo

Hồn Dân Tộc của Hồ Chí Minh?

Thông Tin Gian Xảo về Meet Vietnam

Gặp Gỡ Việt Nam đối diện Sự Thật

Thang 8 Thu Tinh

Phim Vietnam Vietnam

Nguyễn Minh Triết: Tái Xác Nhận Vai Trò QTCS

Cũ Rich Đầy Mau Thuẫn

Một Chuỗi Dai Lam Tay Sai kể từ 19.8.1945

Bien Co Tam Toa va Hanh Dong Nem Da Giau Tay

Xảo Thuật về Hinh Ảnh HCM ngay 2/9/1945

Diễn Biến Trước va Sau 19/8/1945

Hồn Dan Tộc của Hồ Chi Minh?

Ngục Trung Nhật Ky khong phải của HCM

Nhung Nguoi Dan Ba cua HCM va Me cua Nong Duc Manh la ai?

Hồ Chí Minh và Đảng bán nước mấy lần?

Ai La Mẹ của Nong Đức Mạnh?

Hồ Chí Minh Có Chống Pháp Không?

Hồ Chí Minh và Đảng bán nước mấy lần?

HCM Co Bao Nhieu Ten Gọi, But Danh, Bi Danh?

OSS và HCM

Con Co Do Sao Vang thi khong bao gio co Doc Lap Tu Do Hanh Phuc

 Tội nói láo

Tại Sao HCM dùng Tuyên Ngôn Độc Lập của HK trong ngày 2/9/45?

Hồ Chí Minh chạy về tổ quốc Liên Sô

Khong Nen Để Cai Xac Kho Giữa Ha Nội

Ảnh Hưởng của Lenin trong HCM

UNESCO và vụ vinh danh HCM

 Đ�m của Con Rồng (Night of the Dragon, 1966)

 

(Bàn Tay Máu của Hồ Chí Minh) 

The Blood Red Hands of Ho Chi Minh

Ho Chi Minh and the OSS

 


 

Tại Sao Có Ngày Sinh Nhật HCM 19/5/1946 tại Hà Nội?

 Nói về ngày 19/5 khi đề cập tới Hồ Chí Minh th́ phải nói tơi hai hiện tượng đặc biệt liên quan tới ngày này. Trước hết, 19/5/1941 là ngày Nguyễn Ái Quốc, tức Hồ Chí Minh sau này, thành lập Mặt Trận Việt Minh tại Cao Bằng. Hiện tượng đáng kể nữa là 19/5/1946 là ngày Hồ Chí Minh đón tiếp đô đốc Georges Thierry d’ Argenlieu ra Hà Nội. Dù sao, những nhận xét ghị lại của một số học giả và nhân chứng cho rằng Hồ Chí Minh đă chọn ngày 19/5 làm ngày sinh nhật ngay sau khi gặp d’ Argenlieu.  Nhân chứng sống nói về ngày này là ông Vũ Thư Hiên. Ông Hiên trong video “Sự Thật về Hồ Chí Minh” nói rằng cha ông là Vũ Đ́nh Hùynh đă được lệnh từ Hồ Chí Minh tổ chức ngày sinh nhật 19/5/1946 cho ông ta.


Bài viết này xin dựa vào tài liệu trong “Britain in Vietnam, Prelude to Disaster, 1945-1946” tác giả Peter Neville. Về sự việc này, ông Neville có ghi, (page 146):
On 18 May, d’Argenlieu made a visit to Hanoi to talk about the forthcoming peace talks. He was greated at the airport by Valluy, the Chinese General Lu Han, Giap…. D’Argenlieu noticed how the local colons were ‘smiling and applauding’ on his route into Hanoi. He met Ho Chi Minh the next day…Vào ngày 18/5, d’Argenlieu đến viếng Hà Nội để nói về cuộc nói chuyện về ḥa b́nh sắp diễn ra. Ông đă được tiếp đón tử tế tại phi trường bởi ông Valluy, Lữ Hán, Giáp….D’Argenlieu để ư thấy những người dân trong vùng ‘mỉm cười vỗ tay’ trên đường ông tới Hà Nội. Ông đă gặp Hồ Chí Minh ngày hôm sau.
Tại sao Hồ Chí Minh phải chuẩn bị tiếp đón đô đốc d’ Argenlieu long trọng vậy? Những người dân bị triệu tập ra đường đón chào ‘cười vỗ tay’ mà tác giả để trong dấu ngoặc (theo hồi kư của d’Argenlieu). Và ngày hôm sau 19/5/46 th́ dân chúng tưng bừng hơn với hoa giăng đầy đường khi d’Argenlieu đến gặp ông Hồ, rồi từ đó đến nay ngày ấy được đánh dấu ngày mừng sinh nhật của Hồ Chí Minh.

Trả lời tại sao có hiện tượng này th́ có thể tŕnh bày từng mốc điểm mà khởi mốc quan trọng là ngày 6/3/1946 khi Sainteny dại diện nước Pháp kư với Hồ Chí Minh Hiệp Ước Sơ Bộ.


Hồ Chí Minh được thế giới biết là một người giỏi về mẹo vặt, ông ta có thể uyển chuyển xoay trở t́nh thế bằng lối t́nh cảm để mua chuộc đối phương, làm mê hoặc người khác (charm), màu mè để che giấu những điều không tốt bên trong. Trong ḥan cảnh khi gặp đô đốc d’Argenlieu, Hồ Chí Minh đang trong thế rất bi đát, bởi v́ trước đó đă có những chỉ dấu bất lợi cho Hồ trong tương lai rất gần.


Khi d’Argenlieu khám phá ra đă có Hiệp Ước Sơ Bộ và trong đó có một điều khỏan vô cùng quan trọng mà ông quyết tâm chống đối tới cùng. Đó là việc “
thống nhất 3 Kỳ", tức là Bắc Trung Nam thành một. Đây là một âm mưu của Hồ Chí Minh và phe cánh đang nắm quyền quốc hội bên Pháp thuộc Đảng Cộng Sản Pháp, Đảng Xă Hội, mà đại diện là Maurice Thorez, Marius Moutet, Jean Sainteny, Felix Gouin làm ra. Họ bằng ḷng nhau Hiệp Ước Sơ Bộ và ngay ngày hôm sau, 7/3/1946, một buổi lễ Pháp công nhận nước “Việt Nam Dân Chủ Cộng Ḥa” diễn ra tại Hà Nội , một thứ công nhận mà Hồ Chí Minh luôn mong đợi, dù trước đó, trước ngày 2/9/1945, phe Việt Minh đă tốn công sức rất nhiều muốn Hoa Kỳ công nhận, nhưng Hoa Kỳ làm ngơ v́ biết Hồ chính là quốc tế cộng sản Nguyễn Ái Quốc.

Đô đốc d’Argenlieu cho rằng đây là một hiệp ước cẩu thả, có tính độc tài, không quan tâm tới các nước khác như Miên và Lào v́ họ cũng thuộc Đông Dương trong quyền hạn mà d’Argenlieu trách nhiệm. Nếu Hiệp Ước Sơ Bộ chỉ nói riêng cho “
Việt Nam độc lập” trong Liên Hiệp Pháp th́ 2 nước kia tính sao? D’Argenlieu rất bất măn trong t́nh huống này, dù biết âm mưu của phe cánh cộng sản 2 bên. Liền sau vụ 6/3, ông than với tướng Valluy, thay thế Leclerc, (page 145):
I am amazed General, that it is the only word I can use, amazed that France’s leaders prefer negotiations to action when we have such a magnificent expeditionary force in Indochina– Tôi kinh ngạc, đó là từ mà tôi chỉ có thể dùng, kinh ngạc rằng những nhà lănh đạo nước Pháp chọn sự điều đ́nh để hành động trong khi chúng ta đang có một lực lượng quân đội viễn chinh rất hùng mạnh.
Lực lượng c̣n hùng mạnh mặc dù ngay lúc đó quân Anh đă rút ( General Douglas Gracey đă rời Saigon ngày 28/1/1946). Người Anh và Pháp đến Nam Việt Nam ngay sau lúc thế chiến thứ 2 kết thúc để làm phận sự dẹp tàn quân Nhật, giúp dân Pháp di tản khỏi Việt Nam, giải tỏa những người c̣n bị tù…Bên cạnh đó vai tṛ của Pháp khi theo chân Anh về Việt Nam là để đương đầu với làn sóng đỏ cộng sản mà hiện tượng 2/9/1945 tại miền Bắc kéo theo 23/9/1945 tại miền Nam là trận đánh nhau giữa Việt Cộng và Pháp. Ngay lúc này Hoa Kỳ đă lo sợ sự lan rộng của Liên Sô. Hồ Chí Minh chưa được Liên Sô viện trợ v́ Stalin đang bận rộn bành trướng ở Âu Chậu. Người dân Saigon đă thấy ồn ào đ̣an xe phô trương của Mỹ như jeeps, xe tải, và ngay cả thiết giáp…Chiến tranh lạnh đă đến, chứ không đợi khi quân đội Hoa Kỳ thực sự đóng quân tại miền Nam vào 1965, theo ông Neville.
(page 122): Moscow was much more interested in the situation in metropolitan France where the French Communist Party under Maurice Thorez was close to coming to power– Moscow đang chú ư nhiều hơn về t́nh trạng tại nước Pháp văn minh nơi Đảng Cộng Sản Pháp dưới sự lănh đạo của Maurice Thorez đă sắp nắm quyền.

Tướng Pháp Leclerc, Hồ Chí Minh, đại sứ Pháp Sainteny chúc mừng nhau sau khi kư Hiệp Ước Sơ Bộ

Đó là tại sao dẫn đến việc kư Hiệp Ước Sơ Bộ một cách nhanh chóng. Phe cộng sản Pháp lợi dụng vai tṛ
“thực dân” của Pháp để hỗ trợ tiếp ứng cùng Việt Minh làm cho phe d’Argenlieu bị mang tiếng, ngay cả công dân Hoa Kỳ cũng c̣n nghi ngờ Pháp đang muốn trở lại để thực dân. Pháp thực dân đă rời khỏi Việt Nam sau khi Nhật đảo chánh vào 3/1945. Vua Bảo Đại tuyên bố Việt Nam độc lập bên cạnh sự tiếp ứng của Nhật, nhưng sau vụ 2 trái bom nguyên tử tại Hiroshima và Nagasaki vào 6 và 9/8/1945 mà Nhật phải đầu hàng đồng minh. Khỏang trống chính trị tại Việt Nam trong ṿng 9 ngày tạo cơ hội cho Việt Minh cướp chính quyền ngày 19/8/1945.
(page 108):…d’Argenlieu arrived in Saigon, he was ‘contemplating the vision of independence but he eventually set his face against negotiations with the Viet Minh’…he was prepared to consider the possibility of some sort of independence on arrival in Vietnam, according to his defenders – D’Argenlieu đến Saigon, ông ta luôn nghĩ tới một Việt Nam độc lập, nhưng cuối cùng th́ phải đụng độ chống lại những cuộc điều đ́nh với Vịêt Minh…
Khi d’Argenlieu đến Đông Dương với vai tṛ đô đốc vào 10/1945 th́ de Gaulle một mặt chuẩn bị sắp xếp cho miền Nam Việt Nam có bộ mặt chính trị mới. De Gaulle và ḥang tử Vĩnh San đă gặp nhau ngày 14/12/1945 và Vĩnh San bằng ḷng trở về Việt Nam với điều kiện lá cờ quốc gia Việt Nam và Pháp được treo song song tại Hà Nội, Huế, Saigon trong giai đọan tạm thời độc lập trong Liên Hiệp Pháp. Nhưng rồi ḥang tử Vĩnh San đă tử nạn máy bay ngày 24/12/1945 trên đường từ Fort Lamy đến Bangui. Chương tŕnh của de Gaulle của một Việt Nam độc lập cũng tan biến luôn sau khi ông từ chức ngày 20/1/1946.

Cái chết của ḥang tử Vĩnh San là một nghi vấn về chính trị. Đến 1987 xác của Vĩnh San được mang về Việt Nam trong nghi thức tuyên dương long trọng bởi thủ tướng cộng sản Phạm Văn Đồng. Có dư luận bên Âu Châu cho rằng sau 4 tháng ở Pháp vận động để được Pháp công nhận nhưng thất bại, ông Hồ về bằng đường tàu biển trên chiếc Dumont d’ Urville, ông từ chối đi máy bay v́ sợ bị như trong trường hợp ḥang tử Vĩnh San (bị phe đối phương thủ tiêu).


V́ thấy ra âm mưu nhuộm đỏ luôn miền Trung và Nam trong Hiệp Ước Sơ Bộ nên d’Argenlieu triệu tập ngay buổi họp mặt với Hồ Chí Minh trên tàu Emile Berlin ngay vùng Vịnh Hạ Long ngày 24/3/1946. Trong hồi kư, d’Argenlieu đă ghi lại về Hồ khi nh́n ông ta:

(page 143): “ A Moscow trained and chief of the Indochinese Communist Party - một người được huấn luyện tại Moscow, một thủ lănh của Đảng Cộng Sản Đông Dương.”
Khi đối thọai, Hồ Chí Minh chỉ nhắc tới càng sớm càng tốt chuyện thực hiện Hiệp Ước Sơ Bộ 6/3/1946 và việc này sẽ xảy ra tại Fontainebleau bên Pháp bắt đầu vào 6/ 7/1946 . D’Argenlieu nói với Hồ là khi bàn về hiệp ước đó th́ phải qua ư kiến của 3 Kỳ:
(page 143): France would address the issue of the Three Ky (reunification) by accepting the decision of the people of Tonkin, Annam, and Cochin China in referendums – Nước Pháp muốn nói tới vấn đề Ba Kỳ (thống nhất) bằng cách chấp thuận quyết định của nhân dân tại miền Bắc, miền Trung, và miến Nam trong một cuộc trưng cầu dân ư.

Hồ Chí Minh, Sainteny, Leclerc trên tàu Pháp tại Vịnh Hạ Long

Lúc này Hồ đă đóan biết ư định của d’Argenlieu là chống lại ḥan ṭan việc thống nhất 3 Kỳ v́ như vậy là coi như dâng luôn 2 miền Trung và Nam cho cộng sản Hồ Chí Minh, một tay sai của đệ tam quốc tế. Ộng nói việc này phải qua một cuộc trưng cầu dân ư để lấy quyết định chung. D’Argenlieu ghi nhận thêm là ngày họp mặt tại Vịnh Hạ Long hôm đó có mặt của Sainteny và Leclerc, hai nhân vật thiên tả đă giúp Hồ kư hiệp ước.


Mục tiêu trước hết của hiệp ước là ông Hồ được Pháp (cộng sản) công nhận chính phủ do ông thành lập là
“Việt Nam Dân Chủ Cộng Ḥa”. Thứ đến, Hồ Chí Minh chấp nhận cho 15 ngàn quân Pháp đóng ở miền Bắc mà không ǵ hơn là dùng bàn tay Pháp để triệt tiêu các đảng phái quốc gia, và việc này lịch sử đă ghi rơ. Khi bị lên án “Hồ Chí Minh bán nước” th́ ông lại viện cớ là mang Pháp về để thay thế quân Tưởng Giới Thạch, trong khi Pháp và phe Tưởng đă kư với nhau một thỏa thuận ngày 28/2/1946, trong đó quân Tưởng cam kết rút khỏi miền Bắc (khi làm tṛn phận sự giải giới tàn quân Nhật mà thế giới đă giao cho sau đệ II thế chiến) chậm lắm là ngày 15/3/1946.

Trong phim tuyên truyền
“Hồ Chí Minh, Chân Dung Một Con Người”, 1990, khi đến giai đọan nói về Hiệp Ước Sơ Bộ th́ giọng nữ trong phim diễn giải rằng “Trước mặt là quân Pháp, sau lưng là quân Tưởng Giới Thạch, Hiệp Ước Trung-Pháp đă kư, Hồ Chủ Tịch đă gạc mũi dao sau lưng kư với đại diện Pháp Hiệp Định Sơ Bộ khiến cho 18 vạn quân Tàu Tưởng phải rút về nước….” Gạc mũi dao sau lưng nghĩa là ǵ? Thay v́ chống Pháp như ông hô hào trước đây, ngay cả sau khi cướp chính quyền 19/8/1945, ông đă “ngọai giao” và tâng bốc phái đ̣an OSS của Mỹ bằng buổi xuống đường chống Pháp ngày 30/8/1945, th́ khỏang 6 tháng sau ông lại mang Pháp về một cách trịnh trọng. Người dân đâu hiểu Pháp có 2 phe. Phe ông mang về để hợp tác chia chát quyền lợi trên đất nước Việt Nam là phe Đảng Cộng Sản Pháp và Xă Hội. Hành động mang Pháp cộng sản về để được công nhận, thực hiện giấc mộng cùng cộng sản Pháp, công sản Liên Sô nhuôm đỏ thế giới . Nhưng dù Pháp nào, ông Hồ cũng bị dân Hà Nội dán nhăn hiệu “Hồ Chí Minh bán nước!”
Hồ Chí Minh và d'Argenlieu trong chiến hạm Pháp tại Vịnh Hạ Long

Phim đến đọan nói về buổi họp tại Vịnh Hạ Long, người diễn đọc tiếp :
” Hăy nh́n đôi mắt bác Hồ trước ư định dọa nạt đó!” Không thể che đậy sự thất bại phô ra trên gương mặt, người làm phim lại cố ư cho người xem Hồ như là một nạn nhân. Đôi mắt Hồ Chí Minh quặm trợn tṛng trắng nổi lên đầy nét hung tợn. Nói “dọa nạt” th́ chưa có tài liệu nào chứng minh ông d’Argenlieu tỏ thái độ này.

Biết rơ âm mưu của Hồ Chí Minh, những b́nh luận gia thế giới so sánh Hiệp Ước Sơ Bộ này cũng mang tính chất của Brest Litovsk xảy ra vào 3/1918 khi phe Lenin kư với Đức.


Tại Pháp th́ chính phủ thiên cộng Gouin không quan tâm tới những ǵ đô đốc d’Argenlieu đang đối đầu với Hồ Chí Minh. C̣n ông Marius Moutet, Bộ Trưởng Hải Ngọai, là người bạn lâu năm của Hồ thuộc phe thân cộng, sau lúc hiệp ước này Moutet tỏ ra không ngạc nhiên về phản ứng của d’Argenlieu. Moutet cũng đang mất thế đứng tại chính trường.


4/1946 một cuộc họp nữa xảy ra tại Đà Lạt theo yêu cầu của d’Argenlieu để bàn tiếp. Phe cộng sản có Vơ Nguyên Giáp. Trong cơn tức giận, Giáp gọi d’Argenlieu là “
ông thầy tu hiểm độc, người đă phản bội lời nguyền” ( d’Argenlieu đă từng là linh mục vào thập niên 20), trong khi dân Pháp gọi ông là “the snow-covered volcano -núi lửa bao bọc bởi tuyết băng”. Sau buổi họp mặt, ông Giáp tỏ ra thất vọng v́ biết chiến tranh không tránh khỏi. Nguyễn Tường Tam, phe quốc gia, cùng tháp tùng với Giáp. Ông Tam được chọn đi với phái đ̣an Phạm Văn Đồng sang Fontainebleau, nhưng sau đó ông Tam mất dạng. Vũ Hồng Khanh đă bị lừa kư vào Hiệp Ước Sơ Bộ, và đến 7/1946, cũng giống như ông Tam, khi biết ra sự thật 2 người đă trốn thóat sang Tàu.

Trước khi Hồ Chí Minh sang Pháp th́ d’Argenlieu gặp Hồ một lần nữa. Như kể trên, khi tới Hà Nội ngày 19/5/1946 th́ hiện tượng gọi là “
mừng sinh nhật bác Hồ” xảy ra trên đường phố trước mặt d’Argenlieu. Điều này cho ngừơi ta nhận xét:

Hồ Chí Minh muốn níu kéo một lần cuối mong rằng d’Argenlieu sẽ thay đổi ư định chống đối để Hiệp Ước Sơ Bộ được chính thích hóa. Hơn nữa, quang cảnh người dân trong vùng mừng sinh nhật ông Hồ cũng có thể gieo vào đầu d’Argenlieu về một nhân vật lănh đạo được dân chúng mến chuộng. Ông Vũ Thư Hiên nói là cho ông đô đốc d’Argenlieu “ấm ḷng” là vậy. Rất có thể là h́nh ảnh người dân mừng sinh nhật ông Hồ khi tiếp đón viên chức cao cấp của Pháp cũng làm nhẹ đi sự chống đối lên án c̣n ầm ỉ về “
Hồ Chí Minh bán nước.”

Có thể tóm tắt là qua những lần gặp mặt với d’Argenlieu tại Vịnh Hạ Long và Đà Lạt, phe Hồ Chí Minh đă biết Pháp tuyên chiến, rơ nhất là khi Hồ đang tiếp chuyện với d’Argenlieu th́ nhóm bảo thủ Georges Bidault đang trên đà thắng thế trong quốc hội. Kết quả bầu cử ngày 2/6/1946: Phe Bảo Thủ Bidault 160 ghế, phe Đảng Cộng Sản Pháp Thorez 146 ghế, phe Đảng Xă Hội 115 ghế.


Phái đ̣an Phạm Văn Đồng về trước sau khi bị chính phủ Pháp làm ngơ không quan tâm tới vấn đề Hiệp Ước Sơ Bộ, riêng Hồ Chí Minh ở lại Pháp từ 2/6/1946-18/9/1946. Trước khi về nước, Hồ Chí Minh c̣n gơ cửa nhà ông Moutet lúc 1 giờ sáng để ép người bạn thiên cộng này, khi đang hết thế đứng ng̣ai chính trường, kư “
Modus Vivendi – tạm ước ngày 14/9/1946”. Sách giáo khoa của Đảng gọi đó là “Tạm Ước Fontainebleau 14/9/1946” kư với Moutet là để “câu giờ” t́m phương cứu văn, nhưng thực ra đă hết cách chỉ c̣n chuẩn bị chiến tranh. Từ thái độ van xin không được chấp thuận, Hồ dùng chiêu bài “Pháp trở về xâm lược” để kêu gọi ṭan dân “kháng chiến” trong một đất nước mà Hồ từng tuyên bố vào 1945 là 95% dân chúng mù chữ.

19/5/1946 là lần cuối Hồ gặp d’Argenlieu, trước khi chính phủ Pháp bàn về Hiệp Ước Sơ Bộ tại Fontainebleau. Ngày này đánh dấu thái độ của Hồ Chí Minh o ép muốn đô đốc d’Argenlieu thay đổi ư định chống “
thống nhất 3 Kỳ”, bởi v́ việc này vô cùng quan trọng mà d’Argenlieu đă gợi ư cho Hồ trong 2 lần gặp trước tại Vịnh Hạ Long và Đà Lạt. Thái độ cứng rắn của ông đô đốc Đông Dương cùng những lư luận rất vững và hợp lư, cũng như chính trường tại Pháp đă nghiêng hẳn về phe chống cộng mà Hồ Chí Minh đă phải chấp nhận cuộc chiến tranh ư thức hệ, chính do Hồ là nguồn gốc, bắt đầu từ 12/1946.

Bút Sử

16/5/2010
====================================================

Tuyên Truyền Tẩy Não Kỳ Dị

 
Bản tin từ đài RFA, 26/3/2010, do cô Ỷ Lan thực hiện phỏng vấn ông Thor Halvorssen, chủ tịch Sáng Lập Nhân Quyền (Human Rights Foundation, New York), khi ông viếng Hòa Thượng Thích Quảng Độ tại Saigon, nội dung chứng tỏ thêm về việc vô luật pháp bắt bớ tùy hứng của nhà cầm quyền Cộng Sản Việt Nam.

Quyền được tự do phát biểu, quyền được tôn kính và được chọn tôn giáo cho mình, quyền có thể được tham gia vào chính phủ của quốc gia mà người đó đang cư ngụ, quyền không bị nô lệ và bị hành hạ tra tấn…Trên là vài quyền trong số những quyền mà cơ sở Sáng Lập Nhân Quyền đã đề ra trong chủ trương.

Dù Halvorssen bước vào Việt Nam lần đầu tiên, ông đã nhận ra những dấu hiệu cho thấy những quyền căn bản hàng đầu trên đã hòan tòan không có. Khi đang thu thập kinh nghiệm và nhận ra bản chất chế độ trung thực hơn thì ông Halvorssen đã bị trở thành nạn nhân, một nhân chứng ghi thêm vào lịch sử chà đạp nhân quyền của chế độ Cộng Sản Việt Nam. Lúc bước ra khỏi Thanh Minh Thiền Viện, Halvorssen bị công an không sắc phục bắt và hành hung, bản tin cho biết hình chụp lưng ông bị bầm tím.

Được hỏi về cảm nghĩ của ông về nhà cầm quyền cộng sản, ông nói ngay về “một cuộc tuyên truyền tẩy não kỳ dị. Màu sắc tuyên truyền sâu rộng trang trải khắp nơi. Hồ Chí Minh là Che Guevara của Việt Nam.” Ông Halvorssen đã đi vào điểm chính về sự sống còn của chế độ, và có lẽ sự nhận xét bén nhạy này cũng một phần nhờ vào kinh nghiệm bản thân. Mẹ ông đã bị phe nhà nước Venezuela bắn bị thương trong lần xuống đường, 2004, cùng nhiều người tỏ thái độ ôn hòa ký tên đệ đơn yêu cầu Hugo Chavez xuống chức.

Tại sao Hồ Chí Minh là Che Guevara của Việt Nam?

Một người Argentine đẹp trai tên Che Guevara đã giúp du kích quân của Fidel Castro “giải phóng” Cuba từ nhà nước Batista năm 1959. Đó chỉ là huyền thọai, cũng giống như Đảng Cộng Sản Việt Nam rao giảng Hồ Chí Minh có công “giành độc lập” từ tay “thực dân” Pháp. Nhưng rồi, dù thế nào, Che cũng đã trở thành gọi là một “nhà cách mạng” nổi tiếng thế giới làm nhiều người chấn động đứng lên cùng ông. Sau khi thành công tại Cuba, Guevara nổi dậy lãnh đạo cuộc phiến lọan tại Argentina, Congo, Bolivia, và sau đó bị xử tử vào 1967.

Theo giáo sư Douglas Young, thuộc Khoa Học Chính trị và Lịch Sử, tại đại học Gainesville State College, Che được hàng ngũ cộng sản đề cao như một anh hùng dám dấn thân làm cách mạng để đem “công bằng cho xã hội”. Họ dựng Che như một thánh tử của chủ nghĩa Marxist. Hình ảnh một người thanh niên trẻ tức giận đã lan rộng trong nhiều giới sinh viên của các trường đại học có thể nói trên 40 năm qua.

Trên thực tế thì Che có số điều giống Hồ Chí Minh ở Việt Nam. Che chỉ là con cờ, là phương tiện truyền bá của Stalin, một cộng sản độc tài của Liên Sô đã giết trên 20 triệu dân của ông ta. Là một trong số sĩ quan trọng yếu của Castro, Che đã giúp làm những cuộc nổi dậy. Sau khi lật đổ Batista, Che đã chỉ đạo cuộc tàn sát hàng trăm nhân viên của Batista không cần tòa án. Ngay cả người nào bị nghi ngờ không trung thành với Castro cũng bị giết không cần biện hộ. Đồng chủ trương như Hồ Chí Minh, người cộng sản Che chỉ thấy vấn đề hai mặt trắng và đen. Ai không theo đường lối của Che thì bị thanh tóan ngay. Hồ Chí Minh và Che chống tự do tôn giáo, ngôn luận, hội họp, báo chí, biểu tình… So sánh thì Che không thể qua mặt Hồ Chí Minh về thủ đoạn, và con số giết người của Hồ cao nhiều lần của Che. Che chỉ sống có 39 năm để làm tội ác.

Bây giờ lại có phong trào thanh niên mê nhạc rock mặc áo Che t-shirts, và như vậy có phải thành phần gọi là tự do (liberals) vẫn còn như những thập niên trươc? Câu hỏi là cái tư tưởng tự do không nền tảng đó dần dà có dẫn dắt tới nguy hại cho nền tự do dân chủ đích thực hay không? Dù sao người ta có thể vẫn tin vào kiến thức cao về dân chủ của công dân Hoa Kỳ và hơn bao giờ hết chính Che là người tạo dựng giúp Fidel Castro để Cuba trở thành cộng sản, một đe doạ cho Hoa Kỳ mà nhiều thập niên qua Hoa Kỳ vẫn cứng rắn cấm vận Cuba.

Nói như trên không có nghĩa là ý thức hệ cộng sản không còn là đe dọa cho nền hòa bình thế giới. Tiểu bang California vào 9/2008, thống đốc Arnold Schwarzenegger đã ký phủ quyết dự luật SB 1322, trong thư giải nghĩa rằng dự luật này giống như là một âm mưu lật đổ chính phủ tự do dân chủ Hoa Kỳ khởi đầu ngay tại California, và rất bất công khi người tỵ nạn cộng sản phải một lần nữa là nạn nhân. Dân biểu của tiểu bang California hầu hết là người của Đảng Dân Chủ đã biểu quyết thông qua dự luật. Dự luật làm ra bởi Senator Alan Lowenthal bác bỏ một số điều kiện để trở thành giáo chức có từ thời tổng thống Eisenhower, nghĩa là SB 1322 cho phép đảng viên cộng sản được quyền dạy học trong tòan thể California. Rất may, dân biểu Trần Thái Văn và các dân biểu khác thuộc Đảng Cộng Hòa vận động cùng đồng hương Mỹ gốc Việt lên tiếng chống lại, và cuối cùng dự luật đã thất bại. Tuy nhiên, ông Schwarzenegger không bao lâu sẽ chấm dứt nhiệm kỳ, thống đốc kế tiếp có lập trường như thế nào, và dự luật có thể trở lại hay không?

Gần đây tiến sĩ Roger Canfield cho ra cuốn How the Ameri-Cong Won the Vietnam War Against the Common Enemy America” để nhắc lại cho thế giới thấy rằng cộng sản miền Bắc lãnh đạo bởi Hồ Chí Minh đã liên hệ với quốc tế cộng sản như thế nào, và nhấn mạnh Mỹ Cộng là một thành phần quan trọng trong khối đó. Tại sao hơn 5 thập niên qua không ai đưa ra và trình bày hiểm họa của những người Mỹ mang danh “liberals”, “democrat” hay gì đi nữa và đầu óc họ vẫn là thiên cộng? Ngày đó họ là Black Panthers, học viên của Saul Alinsky, đệ tử của Malcolm X , hàng ngũ của William Ayers, giới báo chí thiên cộng, người hành động (activists) như John Kerry, William Clinton, Hillary Rodham, Jane Fonda, Tom Heyden, Martin Luther King, Daniel Ellsberg, sinh viên đại học,v.v..hay đảng viên chính thức có tổ chức là Communist Party of the United States (CPUSA) để đến nay ông Canfield phải trình bày nhiều trang chính thức gọi họ là Ameri-Cong hay ta dịch ra là Mỹ Cộng?

Thor Halvorssen đã đưa ra nhận xét liên quan tới cái nhìn của thế giới ngày nay về một Việt Nam mà quyền làm người của dân chúng bị tước đọat coi như hòan tòan.Thế giới và cả Hoa Kỳ chẳng có chút quan tâm. Thỉnh thỏang thì một vài dân biểu lên tíếng nhân quyền này nọ rồi cũng như nói cho có lệ. Thành phần Mỹ Cộng mà sau lưng họ là khối quốc tế cộng sản hàng năm chi vào Hoa Kỳ hơn 3 tỷ Mỹ kim để họat động, họ là nguyên nhân chánh để miền Nam bị rơi vào tay cộng sản, họ đã sách động biểu tình chống chiến tranh, đòi tổng thống Johnson và Nixon rút quân. Thống đốc Ronald Reagan đã phải đau lòng tuyên bố: Chấm dứt sự xung đột mâu thuẫn không thể đơn giản chỉ là ra lệnh ngừng chiến, rút quân và trở về nhà, bởi vì cái giá phải trả cho loại hoà bình đó có thể là hằng ngàn năm tăm tối cho những thế hệ chưa sinh ra đời.

Ngày nay khi ông Halvorssen tới Việt Nam, có phải ông chứng nghiệm những người cùng thế hệ của ông (Halvorssen sinh 1976) đã và đang sống trong sự tăm tối. Một xã hội vô luật pháp, bắt và hành hạ người theo lệnh Đảng, ngược đãi người tu hành, cướp bốc nhà đất dân, cấm dân không được truy tìm đọc tài liệu dân chủ nước ngòai, cùng bao nhiêu thứ bất công khác có phải là cái giá phải trả cho thứ “hòa bình” mà Mỹ Cộng từ thập niên 60 đến đầu 70 đã từng cầm khẩu hiệu hô la trên đường phố Washington, New York, Massachusetts, Chicago, Berkeley…?

“Ho, Ho, Ho…Che, Che, Che…” là điệp ngữ trong một bài ca mà Mỹ Cộng đã vang dội ngòai đường phố khi giăng hình Che, hình Hồ, cờ đỏ xanh ngôi sao vàng đòi hỏi chính phủ rút quân. Vài năm gần đây Che lại được nhắc nhở trở lại, học sinh tại Việt Nam có những buổi học tập, cấm trại, với nghệ thuật chủ đề là Che Guevara; ngay cả một diễn đàn thơ văn trong Yahoo Groups lại ca ngợi thơ của Che vô tình không biết Che là tên cộng sản khát máu vùng Nam Mỹ vào thập niên 60, hay là chủ ý thêu dệt “thần tượng” cộng sản? Dù thế nào thì thế giới người Việt tỵ nạn cộng sản cũng không mấy chú ý về tên cộng sản sừng sỏ này, và cho tới nay có một vài nhân vật khi nói tới Che thì nhớ tới Hồ Chí Minh để cho người ta có cơ hội hâm nóng thêm về hai huyền thoại và tội ác của hai tên cộng sản lãnh đạo này.

Halvorssen đi ra từ gia đình là nạn nhân của chế độ thân cộng tại Venezuela nên khi nhìn hình tượng Hồ Chí Minh mọi nơi tại Việt Nam ông ta nghĩ ngay tới Che, bởi vì hình ảnh Che cũng đầy mọi nẻo đường ở Nam Mỹ nơi có hơi hướng cộng sản. Hồ Chí Minh là Che Guevara của Việt Nam. Đúng vậy, cũng giống như nhà báo người Pháp, Oliver Todd, trong bộ phim tài liệu “Sư Thật về Hồ Chí Minh” do Phong Trào Quốc Dân Đòi Trả Tên Saigon thực hiện, ông đã cho rằng trên thế giới ngày nay chỉ còn hai huyền thọai để tuyên truyền, đó là Hồ Chí Minh và Che Guevara.

“Một chính quyền tuyệt đối cộng sản nhưng đồng thời cũng là tư bản, thật là điều quá ư kỳ quặc.” Khi ông Thor Halvorssen cho là tuyệt đối cộng sản có nghĩa là mọi thứ tự do của người dân đều bị tước đọat, điển hình là Hòa Thượng Thích Quảng Độ sau khi ra tù thì bị tù tại gia, bị kiểm sóat, lúc nào cũng có công an canh gác. Vừa cộng sản lại vừa tư bản mới là điều quái dị, trong khi trên lý thuyết thì chủ nghĩa cộng sản cốt lõi là tiêu diệt tư bản. Thế nên từ trên 6 thập niên qua tại miền Bắc, và hơn hết là từ khi có bang giao Việt Mỹ 1995, Việt Nam chưa hề có dấu hiệu cải tiến kinh tế một cách bình thường tự nhiên, mà có tính cách vá víu, phồn vinh giả tạo, không có cơ sở vững vàng từ hạ lên tới thượng tầng. Học sinh, sinh viên bị nhào nắn méo mó, không có căn bản rõ ràng trên ý thức hệ cộng sản và tự do tư bản.

Theo tiến sĩ Douglas Young, cũng y như Hồ Chí Minh, Che là người luôn tự đánh bóng mình (narcissist). Che nói: Tôi không có nhà, không vợ con, không cha mẹ, không anh em. Bạn của tôi là những người nghĩ giống tôi về phương diện chính trị. Cũng không khác Hồ Chí Minh về đường tình ái, Che rời Cuba giữa thập niên 60 trong lúc đang xảy ra tình trạng bừa bãi về gia đình riêng tư của ông ta. Mặc dù lúc nào Che cũng tuyên bố là ông ta trinh trắng chưa bao giờ biết đàn bà, nhưng trên thực tế thì Che là một người đàn ông dâm lọan. Ông ta chơi hoa rồi bẻ cành. Ông đã bỏ bê hai người vợ, và nhiều người con. Vài bà vợ thì chính thức và một số khác thì không.

Không khắc nghiệt như ở Việt Nam, tượng một nửa người của Che được khánh thành tại một khu phố thuộc nước Venezuela vào 7/2006 thì chín ngày sau tượng đã bị dân chúng chặt đầu. Dân Venezuela cho rằng Hugo Chavez là tay sai của độc tài cộng sản Cuba, Fidel Castro, họ rất ghét “thần tượng” Che.

Có một bài viết được phổ biến trên internet cách nay vài tháng tựa là Che Guevara là Hồ Chí Minh của Nam Mỹ tác giả Nguyễn Việt Nữ, và mới đây Thor Halvorssen trả lời với đài RFA “Hồ Chí Minh là Che Guevara của Việt Nam xét ra cũng thật là đồng điệu với Oliver Todd khi cho rằng "ngày nay trên thế giới chỉ còn hai huyền thọai Hồ Chí Minh và Che Guevara để tuyên truyền."

Bút Sử
3/2010


Con Rắn Độc Hồ Chí Minh




















Hội Nghị Fontainebleau

HCM và Sainteny tại phi trường tại Paris, ngồi chờ máy bay. Sainteny có nhiệm vụ hộ tống Hồ từ Biarritz tới Paris để dự hội nghị tại Fontainebleau. HCM tỏ ra rất lo sợ mà Sainteny đã ghi ra trong sách hồi ký của ông ta

 Linh mục thiên cộng Cao Văn Luận đã từng sống bên Pháp vào thập niên 40, 50. Năm 1965, ông có viết cuốn "Bên Giòng Lịch Sử 1940-1965". Nhận thấy ông đã trình bày không trung thực những gì đã xảy ra trong giai đọan Hồ Chí Minh qua Pháp vào 1946, nên bài viết này xin đưa ra những phản biện cùng những minh chứng từ các tài liệu lịch sử về Hồ Chí Minh.

 Ngày Cát-To-Duy-Ê ( 14/ 7) 1946: Cụ Hồ thành Quốc Khách của Pháp.

Khi viết câu này, tác giả ngụ ý cho rằng nước Pháp tiếp đón Hồ Chí Minh trọng thể. Thật ra thì trong tiếng Pháp gọi là "protocole", một nguyên tắc bắt buộc phải có khi tiếp đón bất cứ vị nguyên thủ nào của một nước (lúc này ông Hồ đại diện miền Bắc Việt Nam).

 Hồ Chí Minh có được các lãnh đạo nước Pháp tôn trọng không ? Thái độ của họ đối với Hồ như thế nào? Đó mới là vấn đề quan trọng mà ông Cao Văn Luận cần trình bày với lý lẽ chứ không thể viết suông, hay áp đặt, đổ tội, lên án người khác rồi thôi.

 Nhờ những cuộc vận động khôn khéo, dần dà cụ Hồ trở thành thượng khách của chính phủ Pháp, của nước Pháp.

Ông Hồ vận động gì? Tại sao phải vận động? Đúng ra thì phải giải nghĩa là Hồ Chí Minh bắt đầu qua Pháp từ ngày 31/5/1946. Hồ bắt tay ngay vào việc "vận động" nghĩa là tìm gặp những thành phần thuộc Đảng Xã Hội và Đảng Cộng Sản, những bạn bè ông quen trước đây vào thập niên 20 khi ông gia nhập Đảng Cộng Sản Pháp. Ông muốn họ làm mọi cách để quốc hội và chính phủ Pháp chấp nhận ông, nghĩa là tuyên bố nhìn nhận "Chính Phủ Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa" mà ông đã dựng lên từ 2/9/1945 nhờ công cướp chính quyền do ông lãnh đạo. Việc này nằm trong nội dung của Hiệp Ước Sơ Bộ mà Hồ đã ký với Sainteny vào 6/3/1946.

 Đang ở Pháp vào tháng 6/1946, Hồ biết thành phần quốc hội lúc đó được dân bầu chọn đa phần là phe hữu nên việc chấp nhận Hiệp Ước Sơ Bộ tại Hội Nghị Fontainebleau khó đạt kết quả, mặc dù trong hiệp ước đó mời gọi và cho đặc quyền đặc lợi để Pháp hợp tác cùng Hồ cai trị Việt Nam. Nó thất bại vì thống đốc d'Argenlieu (trách nhiệm cả Đông Dương) thấy ra âm mưu "nhuộm đỏ" của Hồ trong hiệp ước khi có điều khỏan "thống nhất ba kỳ" . Trước khi bay qua Pháp để dự hội nghị Fontainebleau, d'Argenlieu đã có mặt tại Hội Nghị Đà Lạt. Hội Nghị này mục đích ông không chỉ bàn riêng hai nước Bắc Việt và Pháp mà ông quy tụ các nước khác như Miên, Lào, và Nam Việt Nam để họ có ý kiến. Tại Fontainebleau thì Phạm Văn Đồng, đại diện phái đòan, đã không hề đề cập tới hai nước láng giềng khi muốn Pháp trở thành liên hiệp với Việt Nam. Việc thất bại của Hội Nghị Fontainebleau là chuyện không tránh khỏi.

 Quan trọng hơn cả là chính phủ lãnh đạo bởi Georges Bidault vào lúc này đã thẳng thắn chống Hồ Chí Minh vì Hồ là một lãnh đạo thuộc khối đệ tam quốc tế cộng sản.

 ... ông Bidault là một người có tinh thần thực dân và khinh miệt người Việt Nam lộ liễu. Trong việc sắp xếp chỗ ngồi trong ngày quốc khánh Pháp, cụ Hồ đòi ngồi ngang hàng với ông Bidault, nhưng ông Bidault nhất định không chịu như vậy. Cuối cùng ban nghi lễ phải sắp nhiều khán đài gần nhau, nhưng cái cao cái thấp, hơn kém nhau vài phân. Cụ Hồ được sắp ngồi cũng tạm gọi là ngang hàng với ông Bidault trên khán đài riêng, thấp hơn khán đài ông Bidault vài phân, nhưng ở xa thì thấy ngang nhau.

 Vụ này xảy ra ngay ngày lễ Quốc Khánh của nước Pháp,14/7/1946. Tác giả Cao Văn Luận kể lại không sai. Đó cũng nói lên sự không tôn trọng chút nào của thủ tướng Bidault đối với người cộng sản Hồ Chí Minh - ngồi ngang hàng với một tên cộng sản sừng sỏ có hơn 30 năm họat động với Nga Tàu, một tay sai đắc lực của Nga Tàu, đối với ông như thế là mất danh dự và nhục thể quốc gia ông đang đại diện chăng? Hơn nữa, tại nước Pháp của ông hiện lúc đó Đảng Cộng Sản và Xã Hội, nói chung là phe tả, đang hòanh hành mà ông là đối thủ của họ. Thái độ cứng rắn và khinh thường đối phương của Bidault là dấu hiệu cho ông Hồ biết là công việc của các ông cộng sản Việt Nam đang họp bàn tại Fontainebleau chẳng đi đến đâu mà chỉ có hậu quả tệ hại.

Vì vậy cụ Hồ muốn mang về nước ít ra một thỏa ước nào minh bạch hơn là một bản thông cáo không có giá trị gì hết. Cụ chỉ còn trông cậy vào một con đường: ký với Bộ Pháp Quốc Hải Ngoại, tức là bộ Thuộc Địa Pháp, một thỏa ước kiểu đó. Dĩ nhiên đây là một thiệt thòi nhục nhã cho Chính phủ Việt Minh: quốc trưởng một quốc gia, dù nhỏ bé không thể nào hạ mình ký kết với một bộ trưởng, lại là bộ trưởng bộ Thuộc Địa.
Làm như vậy đương nhiên cụ Hồ nhận chịu cho Việt Nam làm xứ thuộc địa, chấp nhận uy quyền của thực dân Pháp và riêng cụ trở thành bề dưới của Marius Moutet, bộ trưởng bộ Thuộc Địa Pháp.

 Bề nào thì Hồ Chí Minh và tập đòan kể cả linh mục Cao Văn Luận vẫn bị coi là thành phần cõng rắn cắn gà nhà, vì bảo vệ quyền lợi Đảng mà sẵn sàng làm thân nô lệ ngọai bang. Ông Luận lên án Hồ Chí Minh điểm này nhưng tại sao lại bằng lòng cho ông Hồ vận động muốn Pháp chấp nhận Hiệp Ước Sơ Bộ? Hiệp  Ước này nếu thực hiện thì đúng là một hành động phản quốc, bán nước, vì đó không gì hơn là muốn Pháp tiếp tục cai trị bên cạnh chính phủ Việt Minh, cùng nhau chia chát quyền lợi trên dân tộc Việt Nam. Sau vụ ký hiệp ước này, dân chúng gọi ông là "Hồ Chí Minh bán nước" mà chính Hồ cũng nhiều lần tự phân giải trong lý lẽ khó chấp nhận được.

 Ông Bidault và quốc hội trên nguyên tắc quyền hành còn rộng hơn bộ trưởng thuộc địa Moutet, thế mà họ đã tẩy chay phái đoàn PhạmVăn Đồng, nghĩa là yêu sách của phe Hồ Chí Minh muốn Pháp tiếp tục ở Việt Nam cai trị đã không có kết quả gì hết, thì ông Moutet với cái văn bản Modus Vivandi ký với Hồ,  14/9/1946, chỉ là một xảo kế mang về gạt dân trong nước để cầm cự và câu giờ.

 Tác giả đã mâu thuẫn ở nhiều điểm khi lập luận cho rằng Hồ Chí Minh "chấp nhận uy quyền của thực dân Pháp và riêng cụ trở thành bề dưới của Marius Moutet."

Linh mục Luận biết chính phủ Pháp đã không muốn làm theo yêu cầu của Hồ Chí Minh là cùng Pháp hợp tác cai trị Việt Nam thì lấy tư cách gì để Hồ Chí Minh được làm "bề dưới" của Marius Moutet, chỉ là một bộ trưởng? Ông Hồ khi ký Hiệp Ước Sơ Bộ với Sainteny (lúc đó quốc hội do Pháp cộng nắm quyền) là đương nhiên Hồ nhận chịu cho Việt Nam làm xứ thuộc địa rồi; nhưng trên thực tế thì không phải vậy. Nói đúng hơn thì sau thế chiến 2, Pháp đã không còn xem vấn đề thuộc địa là hàng đầu nữa, mà theo chính sách chung của thế giới, và của cố tổng thống Hoa Kỳ Roosevelt, Pháp lúc này hầu như đã trả lại tất cả chủ quyền và độc lập cho các nước bị Pháp thuộc địa trước kia. Nếu chính phủ Pháp cộng còn tồn tại thì dĩ nhiên sẵn sàng chấp nhận nội dung Hiệp Ước Sô Bộ, và tại Fontainebleau chính thức hoá nó để cùng phe Hồ cai trị Việt Nam, không phải thực dân mà công tác mới là nhuộm đỏ Đông Dương.

 Bởi vì lo ngại tình thế đó có thể xảy ra tại Việt Nam nên phe de Gaule, Bidault, d'Argenlieu đã vận động và hành động đúng lúc để phe cánh hữu nắm chính quyền. Nếu tại Việt Nam xảy ra hiện tượng Pháp cộng, Việt cộng hoành hành thì miền Nam không thể tránh khỏi nhuộm đỏ, sau đó lan dần cả Miên, Lào, Thái Lan...Nhưng phe cánh hữu bên Pháp không phải họ chỉ lo Đông Dương bị nhuộm đỏ mà nơi bị nhuộm đỏ trước là ngay tại nước Pháp. Làn sóng đỏ của Stalin tại Âu Châu còn khủng khiếp  nhiều lần hơn của Hồ Chí Minh.

 Cái lo của d' Argenlieu khi đọc xong Hiệp Ước Sơ Bộ ký ngày 6/3/1946 đã làm ông tức tốc có thái độ với phe Hồ. Thống đốc d' Argenlieu đã tỏ ý không chấp nhận hiệp ước đầy âm mưu thâm độc này tại Hà Nội khi gặp Hồ Chí Minh ngày 19/5/1946. Trong hiệp ước ghi  việc "thống nhất ba kỳ" có nghĩa là , theo ông d' Argenlieu, giao trọn miền Trung và Nam cho cộng sản. Vụ Hồ ra lệnh bắt dân treo đèn, hoa giăng đầy đường rồi tuyên bố là dân ủng hộ Hồ Chí Minh đến độ làm lễ sinh nhật trịnh trọng đến thế, cũng có thể là cách Hồ đo lường phản ứng của d' Argenlieu. Cuối cùng thì sự cứng rắn của ông thống đốc trước sau như một.

 Khi chạm trán với Phạm Văn Đồng tại hội nghị Fontainebleau, d' Argenlieu và họ Phạm đã có cuộc công kích sôi nổi mà sách báo viết về lịch sử đã ghi nhận. Phe Hồ còn bị phe thủ tướng mới nhiệm chức Bidault chống đối ra mặt, và hành động này linh mục Luận cho là "khinh miệt người Việt Nam lộ liễu.", mà ông không dám viết là  khinh miệt ông Hồ lộ liễu.

 Có phải hành động đúng mức và kip thời của d' Argenlieu tại Việt Nam đã đánh động và ảnh hưởng luôn tới sự chọn lựa những đại biểu quốc hội vào  6/1946? Nhiều sách sử ghi lại nội dung cuộc họp tại Fontainebleau bàn về nội bộ nước Pháp và một số vấn đề khác, cố tình bỏ qua chuyện Hiệp Ước Sơ Bộ của phe Hồ là hợp lý. Phe cánh hữu đã thành công đạp đổ phe tả thì  không ai muốn mất thời giờ bàn về những chương trình của phe tả.Việc chính trường Pháp có khủng hỏang trong giai đọan tháng 6 này xảy ra khi các khối Đảng Xã Hội, Đảng Cộng Sản, và Mặt Trận Bình Dân (Bidault) đang tranh giành đã làm Hồ Chí Minh khi qua Pháp phải chờ đợi, và Sainteny được lệnh làm hộ tống viên cho Hồ. Ngày 2/6/1946, Đảng phái phe tả đã không nắm đa số ghế trong quốc hội.

Sự thành công của phe hữu, tức Bidault, đã làm Hồ Chí Minh mất ăn mất ngủ, lộ hẳn nét âu lo mà tác giả linh mục Cao Văn Luận cũng đã diễn tả trong sách. Ông Luận rất hối tiếc là mục đích Hồ ở lại 4 tháng bên Pháp để vận động cố gắng lôi kéo chính phủ Pháp về phe tả để cùng Hồ nằm trong "liên hiệp Pháp" cai trị Việt Nam đã hoàn toàn thất bại; nhưng tác giả nhấn mạnh ở điểm ông cho rằng Hồ Chí Minh không cần Pháp công nhận (recognize) mà cái quan trọng nhất là Pháp giúp ông để "thống nhất ba kỳ" mà trong hiệp ước đã đề ra. Đây nói ra ý đồ bất chánh là muốn biến cả nước Việt Nam thành chư hầu quốc tế cộng sản càng sớm càng tốt mà d' Argenlieu đã tiên đoán.

 Trở lại vụ quá khuya Hồ Chí Minh tới nhà bộ trưởng Marius Moutet, trước khi trở về Việt Nam,  ký ngay trên đầu giường bản văn mà một số sách báo Đảng gọi là "tạm ước 14 tháng 9, 1946". Đây chỉ là cái cớ mà chính Hồ cũng xác nhận là "tạm ước còn hơn là không có điều ước gì cả" khi bị báo chí quốc tế phỏng vấn. Thật ra thì đó là cách để câu giờ rồi dùng nó như sự xoa diụ những làn sóng phẩn nộ trong dân chúng bắt đầu từ ngày Hồ ký hiệp ước với Sainteny mà ông ta bị cái nhãn hiệu là "Hồ Chí Minh bán nước". Mặt khác, phe cánh Hồ tương kế tựu kế để đối phó với chính phủ Pháp.Trong vài ngày cuối tại Pháp, những nhân vật lãnh đạo như tướng Salan, đại sứ Sainteny, bộ trưởng Moutet đã nói thẳng cho Hồ biết là nước Pháp không tha cho Hồ và chiến tranh sẽ xảy ra một ngày không xa.

 Sau vụ thất bại, phe Hồ đã ra một thông báo. Các khối chính đảng trong nước đã nắm tình hình tại hội nghị Fontainebleau nên Hồ rất lo sợ sự chống đối. Việc này làm Hồ và tập đòan lo ngại, mà ông Luận cho là "các phần tử quá khích rục rịch nổi lên chống lại Việt Minh khi hay tin hội nghị Fontainebleau thất bại..."   Sau vụ ký Hiệp Ước Sơ Bộ, phe quốc gia có ông Vũ Hồng Khanh cũng tìm cách rời bỏ "chính phủ liên hiệp" vì thấy ra âm mưu của Hồ; hơn nữa, có tài liệu cho thấy Vũ Hồng Khanh bị lợi dụng, trong thế  bị ép buộc ký chung với Hồ Chí Minh (phe Việt Minh bỏ phiếu chọn Vũ Hồng Khanh, sách Con Rồng Việt Nam của cựu quốc trưởng Bảo Đại). Nguyễn Tường Tam cũng được Hồ chọn đi theo phái đoàn Phạm Văn Đồng qua Pháp dự hội nghị Fontainebleau, nhưng ông Tam đã nhận ra con người thật của Hồ nên tẩu thoát qua Tàu.

 Chiến tranh xảy ra. Kẻ bị tấn công là lãnh tụ quốc tế cộng sản Hồ Chí Minh và tập đoàn cộng sản, không phải dân chúng Việt Nam. Lời kêu gọi "toàn quốc kháng chiến chống Pháp xâm lược" của Hồ Chí Minh, rất tiếc có hiệu quả khi toàn dân lúc đó, nói theo ông Hồ Chí Minh, là 95% mù chữ. Mù chữ Việt Nam thì làm sao biết được những gì xảy ra trên thế giới, làm sao hiểu ra bản chất của chủ nghĩa và con người cộng sản, và hơn hết là Hồ Chi Minh mờ mờ ảo ào, ẩn hiện trong lớp áo "yêu nước" một "cộng sản quốc gia" đã làm rất nhiều người bị lầm lẫn, bị lôi cuốn vào quỹ đạo độc hại không lối thoát.

Bút Sử



  

NMTriết và Những Trích Dẫn của TT Hoa Kỳ

Ngay lúc bài viết này sắp lên mạng internet thì ông Chủ Tịch Nước Cộng Hoà Xã Hội Chủ Nghĩa Viêt Nam, Nguyễn Minh Triết,cũng đang trên đường qua Âu Châu.Trong chuyến công du này ông Triết sẽ gặp Đức Giáo Hoàng Benedict tại Vatican. Ông Triết được người nước ngoài biết vì ông ta xuất ngoại nhiều so với những lãnh đạo khác, nhưng người Việt Nam trong và ngoài nước nhắc đến ông không ít bởi những lời phát biểu của ông.

Hơn 200 năm về trước, tổng thống đầu tiên của Hoa Kỳ là George Washington. Người dân Mỹ ghi công ông không chỉ đơn giản ông là vị tổng thống thứ nhất làm nền tảng xây dựng đất nước, nhưng lòng ái quốc và khả năng lãnh đạo của ông. Tại sao thế giới vẫn luôn đề cao Hoa Kỳ là quốc gia thật sự đại diện cho nền tự do dân chủ ? Được như vậy bởi vì tại đất nước này từ ngày lập quốc đã có những con người có nhận thức cao về tự do dân chủ.
If the freedom of speech is taken away then dumb and silent we may be led, like sheep to the slaughter. George Washington – Nếu tự do ngôn luận bị tước đoạt thì sau đó chúng ta sẽ có thể bị dẫn dắt bởi ngu dốt và câm lặng, giống như con cừu trước kẻ giết thú vật.
Hơn 170 năm sau, 1945, kể từ ngày Washington phát biểu thì người dân Việt Nam tại miền Bắc là bằng chứng cho câu nói như chân lý trên, và đã hơn 34 năm qua toàn dân chứng nghiệm thêm về thân phận làm người như những con thú trước những bàn tay giết thú một cách tàn bạo. Người lãnh tụ chủ trương tước đoạt quyền tự do ngôn luận, tự do phát biểu, làm thay đổi hoàn cảnh đất nước và sự sống của dân tộc Việt Nam chính là Hồ Chí Minh.

Nhận thức sâu sắc về nhân bản, một phát biểu để đời khác của tổng thống:

To err is natural; to rectify error is glory. Washington- Làm điều sai là tự nhiên; phục thiện hay sửa chữa sai lầm là niềm tự hào.
George Washington là một lãnh đạo, một chính trị gia, không phải nhà đạo đức hay xã hội chuyên môn. Ông đề cao tính chân thật trong một con người có tinh thần tiến bộ, dù làm tổng thống hay làm bất cứ nghề gì trong xã hội, đã là con người thì không tránh khỏi có những lúc sai lầm.

Khi Hồ Chí Minh và tập đoàn cầm quyền đất nước Việt Nam thì quyền hạn tự nhiên trở nên những thứ quyền cứng ngắt, đầy tính bạo lực, gán ghép. Tuyên bố để đời của Hồ Chí Minh -Đảng ta là đảng cầm quyền, và ý nghĩa câu này được áp dụng trong điều 4 Hiến Pháp của Đảng Cộng Sản. Đảng áp đặt toàn dân phải tin Đảng và lúc nào Đảng cũng đúng. Đảng toàn quyền thống trị trên mọi mặt trong đời sống con người và xã hội.

Idealism without realism is impotent. Realism without idealism is immoral. Richard Nixon - Lý tưởng/ duy tâm mà không hiện thực thì không hiệu lực. Hiện thực/duy thực mà không duy tâm thì vô đạo đức, trái luân lý.

Giai đoạn ông Nixon làm chính trị là lúc phong trào cộng sản đang hoành hành.Tuyên bố trên của tổng thống Nixon đơn giản nêu lên bản chất của những người cộng sản chủ trương vô thần, bài bác tôn giáo. Họ là những kẻ không có tính thiện. Sau hơn 60 năm bị cai trị bởi chế độ cộng sản, chúng ta chứng nghiệm vô số những con người không có tính thiện này. Nhiều lắm nhưng dễ nhận ra nhất là các nhân vật lãnh đạo, thí dụ ông Chủ Tịch Nước Nguyễn Minh Triết chẳng hạn.

Cách nay không lâu, 22/11/2009, tại một đại hội ở Hà Nội quy tụ gần 1000 người gồm “Việt kiều” và cán bộ, đảng viên, thương gia trong nước, khi trình bày quốc nạn tham nhũng, ông Nguyễn Minh Triết tuyên bố:
Ở nước người ta đó thì muốn tham những cũng khó vì hệ thống luật pháp nó chặt chẽ. Còn ở VN của mình á thì có khi không muốn tham cũng động lòng tham. Cái người thủ quỹ cứ giữ tiền khư khư, ở quỹ lúc nào cũng có số dư, cho nên lúc bí quá thì để mượn một chút (vỗ tay), mượn không thấy ai đòi hết thì anh mượn thêm, chứ không phải người Việt Nam tham nhũng nhất thế giới đâu. Người Việt Nam tham nhũng nhất thế giới , không phải vậy. Cho nên tôi đề nghị với quý vị ở nước ngoài á, khi nghe những thông tin này, đừng nên khi về Việt Nam á...cũng đừng có...có hốt hoảng. Sao nước mình tiêu cực quá. Ngày xưa oánh giặc sao giỏi thế mà bây giờ tiêu cực thế (vỗ tay). Đây là quy luật muôn đời. (vỗ tay to hơn)
Đấy. Lời tuyên bố đầy tính duy vật trên của lãnh đạo Triết cũng là một nguyên do làm ông thêm “nổi tiếng”. Chỉ có cấp đảng viên có chức vị mới có quyền thấy cái "quỹ" ấy, và các ông bà cứ lấy mãi vì "mượn mà không thấy ai đòi hết" và cứ thế mà làm . Rồi ông chủ tịch kết luận hành động tồi bại đó là quy luật ngàn đời . Thế mà cũng có những nhà chuyên môn nước ngoài về Việt Nam làm thiện nguyện huấn luyện cán bộ cộng sản làm thế nào để giải quyết nạn tham nhũng. Ông Triết tiếp tục mạnh miệng hơn khi “ác tâm” được phơi bày để chứng minh một con người thật là cộng sản. Với nét tự mãn, ông Triết tuyên bố:
...Ổng tuyên bố là ổng sẽ đóng cửa nhà tù Guantanamo mà! Nhưng mà tôi nói rằng, ông Obama ơi, vấn đề này làm khó lắm đó. Tôi chúc ông phải nỗ lực để thực hiện cho bằng được cái này. Tôi nói mà tôi nhìn Obama, tôi thấy ổng... ổng chăm chú lắm á, cũng lắng nghe. Như thế là mình vừa động viên ông Obama, nhưng mà mình vừa phân hoá cái cái nội bộ của ổng.
Nguyễn Minh Triết, hay nói chung, tổng thống Obama và phe cánh chủ trương mềm mỏng muốn thả các tên khủng bố ra khỏi nhà tù Guantanamo. Việc này được bàn cãi nhiều tháng nay, phe Đảng Cộng Hoà trong Quốc Hội, đa phần không tán đồng và cho rằng thả khủng bố ra sẽ bất lợi vì những lý do nào đó. Có lẽ ông Triết nghĩ rằng hà hơi cho Obama tức là làm cho phe Đảng Cộng Hoà yếu thêm, hai bên bàn cãi mãi, và lời nói ngoài miệng của ông đã “phân hoá” nội bộ của chính phủ Obama.

Chủ trương thù hận nằm trong cốt lõi của chủ nghĩa cộng sản. Người ta không ngạc nhiên khi bản chất của ông Triết lộ ra. Sống trong mâu thuẫn cũng là chuyện tự nhiên của người cộng sản, cho nên ông Triết khi ra khỏi khung rào sắt nhiều năm chứa đầy gian dối để đến một thế giới có tình người, có luật pháp công bằng, có văn minh vật chất, có học vấn và kiến thức cao, ông nổi bậc là một người vô sản, thứ tài sản thuộc tinh thần, trí tuệ.


Hoa Kỳ có tiếng một quốc gia văn minh, vật chất tràn đầy, nhưng có ai nhận ra rằng người Mỹ rất có lòng nhân đạo. Nói như vậy không có nghĩa là vì tiền đóng thuế của dân Mỹ đã vào rất nhiều công quỹ giúp các quốc gia nghèo thuộc thế giới thứ ba, trong đó có Việt Nam. Thế giới tự do đã giúp Việt Nam trong nhiều năm qua về mặt phát triển kinh tế và nhân đạo, nhưng Việt Nam vẫn còn tồi tệ. Đó cũng là lý do tại sao lãnh đạo như ông Triết và nhiều phái đoàn vẫn tiêp tục sang Mỹ và các quốc gia tiến bộ khác cầu khẩn hợp tác kinh tế và xin viện trợ, đồng thời các ông luôn áp dụng "lấy công quỹ làm của riêng là quy luật ngàn đời" do các ông tự đề ra.


Dù được giúp đỡ, nhưng Mỹ vẫn là kẻ thù, bởi vì Đảng phải luôn giữ thái độ thù hằn này để che lấp tội lỗi theo lệnh quốc tế cộng sản làm ra cuộc chiến tranh xâm lăng miền Nam, nhưng phải tuyên truyền là vào Nam để “chống Mỹ cứu nước”. Đảng rất sợ bộ mặt thật bị lòi ra, nên cái thứ “chính nghĩa” ngụy tạo ấy bằng mọi giá phải được tô điểm. Thật ra thì ý đồ “chơi” Mỹ kiểu ngoài miệng này của ông Triết chỉ có thể xảy ra tại Việt Nam mà thôi, nó “hợp lý” với một thành phần người dân trong nước và gần 1000 cử toạ phải làm nhiệm vụ “nhất trí” với tiếng vỗ tay.


Có người thắc mắc tại sao Đảng vẫn mãi luận điệu thù hằn Mỹ mà người Mỹ cứ vươn cánh tay ra cứu giúp? Dù với mục đích chính trị cao siêu nào đó, nhưng trên thực tế không thể phủ nhận rằng trên căn bản Mỹ không có ý đồ xấu. Ý thức này được thể hiện qua rất nhiều nhà lãnh đạo. Tổng thống Richard Nixon đương quyền trong lúc chiến tranh Việt Nam cao điểm, thế giới nhìn ông như một “diều hâu”. Trong tinh thần “
To be prepared for war is one of the most effectual means of preserving the peace. George Washington - Chuẩn bị cho chiến tranh là một trong những biện pháp hữu hiệu cho việc giữ gìn hoà bình”, nhưng ông Nixon đã để lại lịch sử qua câu:

Always remember others may hate you but those who hate you don't win unless you hate them. And then you destroy yourself. Richard Nixon – Nên luôn nhớ rằng những người đó có thể đang ghét bạn, nhưng những ai đang ghét bạn không thắng, ngoại trừ bạn ghét lại họ. Và sau đó bạn tự hủy diệt luôn.

Có phải tổng thống Nixon vô cùng thâm hậu? Thế giới cộng sản, với chủ trương hận thù, đấu tranh giai cấp, đã hy sinh trên 100 triệu con người để thắng một số trận chiến, nhưng trên đường dài có phải họ đã và đang thua, vì kẻ thù của cộng sản không chủ trương thù hận để phát triển đất nước.

Vì thấy trước tai hoạ và đe doạ cho nền hoà bình và an ninh của các quốc gia tự do trên thế giới mà Hoa Kỳ phải trở thành đồng minh hỗ trợ quân lực miền Nam đẩy lùi làn sóng xâm lăng ra Bắc. Hiểu được bản chất của chủ nghĩa và con người cộng sản, tổng thống John F. Kennedy đã phải thốt lên:

The world is very different now. For man holds in his mortal hands the power to abolish all forms of human proverty, and all forms of human life. John F Kennedy- Thế giới ngày nay rất là khác thường. Bởi vì người ta đang nắm quyền lực trong bàn tay ghê gớm để tiêu hủy tất cả những dạng thuộc quyền sở hữu của con người, và tất cả dạng thức thuộc về đời sống con người.

Tổng thống Kennedy đã ý thức về tai hoạ mà con người phải đương đầu khi phải bị những bàn tay ghê gớm thọc vào từng nơi, từng nhà, từng cá nhân, từng tổ chức, từng nhà thờ, từng chùa chiền... mà 46 năm về trước ông đã quyết định phải ra tay diệt trừ kẻ ác để bảo vệ hoà bình. Ngày nay vẫn còn, khi thủ lãnh tối cao của nhà nước cộng sản Việt Nam đang gặp Đức Giáo Hoàng tại Vatican thì hiện trạng nhà nước cướp tài sản đất đai của nhà thờ, của dân chúng vẫn còn ầm ĩ.

Khi bị phóng viên đài truyền hình CNN chất vấn về Đảng và Nhà Nước tước đoạt quyền làm người của toàn dân Việt Nam, 2007, Nguyễn Minh Triết trả lời rằng nhân quyền của người Việt không giống nhân quyền của người Mỹ. Đây cũng là lý lẽ được áp dụng tại Việt Nam, và ngay cả trong các hệ thống giáo dục và trường học. Những thứ quyền căn bản của con người mà cá nhân nào cũng cảm nhận được, quyền ấy không phải được ban cho, mà là thứ quyền thiêng liêng, đã là con người thì ai cũng có. Tự do ngôn luận bị cấm tại Việt Nam.

The liberty of the individual is no gift of civilization. It was greatest before there was any civilization. Sigmund Freud - Tự do của mỗi cá nhân không phải là sự ban cho của nền văn minh nhân loại. Đó là cái gì cao quý nhất trước khi có sự khai hoá.

Văn minh nhân loại vào thời của triết gia Freud ở cuối thế kỷ 19 đã là như vậy, nay vào thế kỷ 21, lối nói của ông Triết (cũng như tất cả lãnh đạo cộng sản) đồng nghĩa rằng Đảng và Nhà Nước có quyền định nghĩa quyền và ban quyền cho người dân bị trị. Các danh từ "tự do- dân chủ- nhân quyền" có thể sẽ được ông Triết thốt ra nhiều hơn khi gặp Đức Giáo Hoàng . Nhưng rồi nhiều năm với lối suy nghĩ sơ cứng và ngôn ngữ đầy tính giáo điều, rất khó cho người ta tin ông nói thật, cộng thêm trong quá khứ ông đã từng được coi như là một tên hề diễn trò chính trị.

Muốn tiến bộ thì không ngừng học hỏi, nhưng cái học ở Việt Nam thì sao?
Liberty without learning is always in peril; learning without liberty is always in vain. John F Kennedy - Tự do mà không có sự học hỏi thì luôn trong trạng thái hiểm hoạ; học hỏi mà không có tự do thì luôn ở trạng thái vô hiệu quả.
Thật vậy, thứ tự do ở Việt Nam ngày nay mà giới trẻ đang tận hưởng là tự do tình dục, tự do mua bán gái, tặng gái làm quà sinh nhật, tự do nhậu nhẹt, tự do đánh bài bạc trên đường phố, tự do trái luật (có bảo hiểm là hối lộ) v.v..Có thể nói hàng triệu thanh niên đang thất nghiệp tại Việt Nam, có khi mang bằng cấp kỷ sư, kế toán mà phải làm nghề lặt vặt trong các hotel. Đó là kết quả của một hệ thống giáo dục không có nền móng căn bản của tự do.

Tóm lại, chúng ta đã lướt qua một số câu nói để đời có giá trị của các cố tổng thống Hoa Kỳ kể từ thời lập quốc mà đa số chúng ta có thể không nhớ. Nhưng rồi dù muốn dù không những lời phát biểu ngây ngô của Chủ Tịch Nước Nguyễn Minh Triết chúng ta chắc cũng sẽ không quên. Có thể cho rằng ông Triết không thể nói gì khá hơn những gì ông đã nói trong quá khứ, nhưng vấn đề là người ta muốn xem cách hành xử ngoại giao và ứng đáp của ông giống như chờ xem thêm một trò hề dở ẹt. Và một lần nữa nhiều người sẽ cảm nhận một nỗi nhục chưa thể xoá tan trong một thời gian dài.

Cũng nên quên ông Triết đi mà tưởng đến một lãnh đạo nào đó trong tương lai. I do not think much of a man who is not wiser today than he was yesterday. Abraham Lincoln – Tôi không nghĩ nhiều về một người, người này không khôn hơn hôm nay so với ngày hôm qua.

Bút Sử

10/12/2009



Cuộc Chiến Tranh Ý Thức Hệ: 1946-1954

 Sự thật về Hồ Chí Minh đã được phơi bày càng ngày càng nhiều qua những hệ thống thông tin rộng rãi. Người ta đã biết ông Hồ có nhiều vợ, ít nhất 2 người con. Chính ông và Đảng dựng Hồ thành một người làm thơ có tầm vóc, tạo ra ấn tượng "nhà văn hóa lớn", nắn nót Hồ thành một người có hoài bảo, một thanh niên tuổi còn rất trẻ đã biết lên chiếc tàu Pháp ra đi "tìm đường cứu nước", v..v. Tuy nhiên, có một số sự kiện lịch sử mà Đảng dựa vào nhiều nhất để tiếp tục tuyên truyền. Bài viết này khai thác thêm những sử kiện tạo nên cuộc Chiến Tranh Đông Dương đầu tiên và ý nghĩa của nó để mong soi sáng thêm dòng lịch sử cận đại .


Sau khi Phong Trào Quốc Dân Đòi Trả Tên Saigon phổ biến DVD "Sự Thật về Hồ Chí Minh" thì tại Việt Nam các báo Đảng phản ứng bằng những bài viết bôi lọ và xuyên tạc, cũng như các cán bộ nằm vùng tại hải ngoại tung bài trên mạng internet để chỉ trích. Đồng ý rằng không một bộ phim nào có thể đưa lên tất cả mọi mặt trên một vấn đề, kể cả các phim ngoại quốc, nhưng nhóm thực hiện phim đã được sự hưởng ứng cao độ từ các thành phần trong nhiều cộng đồng trên thế giới. Nhiều lần linh mục Nguyễn Hữu Lễ, đại diện cho Phong Trào, đã gợi ý rằng phim mục đích chánh dành cho người Việt trong nước và giới trẻ sinh sau đẻ muộn chưa biết gì về ông Hồ, hoặc có biết thì chỉ là tuyên truyền một chiều từ Đảng và Nhà Nước Cộng Sản Việt Nam.

Khi lướt qua một số ý kiến, có thể là của giới trẻ trong nước về phim, người ta nhận thấy là thành phần chống lại phim nêu ra một vài luận điệu:

-Chấp nhận những gì phim trình bày là sự thật.
- Hồ Chí Minh phải theo cộng sản để được quốc tế cộng sản hỗ trợ sau khi cướp chính quyền, bởi vì chính phủ Mỹ đã không giúp Hồ Chí Minh.
-Dù sao thì Hồ Chí Minh cũng có công trong cuộc "kháng chiến giành độc lập."

TẠI SAO HOA KỲ KHÔNG CHẤP NHẬN HỒ CHÍ MINH?

Sau khi Việt Minh cướp chính quyền Trần Trọng Kim 19/8/1945, Hồ Chí Minh ra công vận động ráo riết để mong Hoa Kỳ công nhận "chính phủ" ông sắp ra mắt trước công chúng. Việt Minh đã tổ chức những buổi xuống đường "hoan hô phái bộ đồng minh OSS" (Office of Strategic Services - Cơ Quan Tình Báo Hoa Kỳ) nhưng hoàn toàn thất bại. Rõ ràng nhất ngay ngày 2/9/1945, Mỹ đã không hiện diện tại Ba Đình, ngoại trừ 4 nhân viên của OSS đứng trong đám đông, nơi diễn ra đại lễ gọi là Hồ Chí Minh đọc "Tuyên Ngôn Độc Lập."
On 23 September 1945, with the knowledge of the British Commander in Saigon, French forces overthrew the local DRV government, and declared French authority restored in Cochinchina (The Pentagon Papers, Gravel Edition, Bacground to the Crisis 1940-50, Boston: Beacon Press, 1971). - Vào ngày 23/9/1945, với hiểu biết sâu rộng của chỉ huy trưởng lực lượng quân đội Anh tại Saigon, quân Pháp đã đánh bại thành phần cộng sản tại địa phương (thuộc Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam - con đẻ của cộng sản miền Bắc), và Pháp tuyên bố tái lập quyền lực tại Đông Dương.
Sự kiện trên cho chúng ta thấy rằng, Pháp trong thế phải trở lại Đông Dương (theo chân Anh sau Thế Chiến Thứ 2 với nhiệm vụ giải giới tàn quân Nhật ở miền Nam chiếu theo hội nghị Potsdam) để đương đầu với làn sóng cộng sản, mà ngay lúc này Hồ Chí Minh đang nắm quyền lãnh đạo tại miền Bắc.

Vào 10/1945, Hoa Kỳ đề ra trong văn kiện về chính sách trước hiện trạng tại Việt Nam:
US has no thought of opposing the reestablishment of French control in Indochina and no official statement bv US GOVT has questioned even by implication French sovereignty over Indochina. However, it is not the policy of this GOVT to assist the French to reestablish their control over Indochina by force and the willingness of the US to see French control reestablished assumes that French claim to have the support of the population of Indochina is borne out by future events.(The Pentagon Papers) - Hoa Kỳ không có ý chống lại sự tái lập lực lượng của Pháp tại Đông Dương và không có một văn kiện chính thức nào từ chính phủ Hoa Kỳ đặt nghi vấn ngay cả không có ngầm ý gì về chủ quyền của Pháp tại Đông Dương. Tuy nhiên, đó không phải là chủ trương của chính phủ để hỗ trợ Pháp tái lập quyền hạn trên Đông Dương bằng vũ lực, và Hoa Kỳ muốn thấy Pháp đưa ra yêu sách là có sự ủng hộ của dân chúng vùng Đông Dương bằng những sự kiện sẽ xảy ra trong tương lai.
Thái độ của Hoa Kỳ lúc này không chính thức 100% ủng hộ Pháp trở lại đương đầu với công sản, nhưng mặt khác thì đã mặc nhiên thoả thuận. Vấn đề phức tạp trong giai đoạn này là những năm từ 1941 đến 4/1945, Hoa Kỳ, Anh, và Pháp đã liên tiếp họp bàn về vấn đề trao trả độc lập cho các quốc gia bị thuộc địa, nhưng trước vấn đề Thế Chiến Thứ 2 và sự bành trướng của làn sóng đỏ mà đến đầu năm 1945 các thoả thuận cũng chưa kết thúc, mặc dù Anh-Pháp trong tinh thần đã bằng lòng trên cách giải quyết đó. Sau khi tổng thống F.D. Roosevelt qua đời vào 12/4/1945, trong hoàn cảnh bắt buộc mà tổng thống kế nhiệm, Truman, đã không tiếp tục "chính sách ép buộc các quốc gia có thuộc địa trao trả độc lập cho dân bản xứ" của cố tổng thống Roosevelt.

Một hội nghị tại San Francisco 25/4/1945 - 26/6/1945, quy tụ 50 quốc gia, bàn về nhiều vấn đề liên quan tới Thế Chiến Thứ 2 và giới hạn của 5 quyền lực trên thế giới, bàn về thực dân trao trả độc lập cho dân bản xứ, trong đó có đặt vấn đề phức tạp xảy ra tại Việt Nam. Tường trình của Bộ Trưởng Ngoại Giao Hoa Kỳ, ông Stettinius: Bidault cảm thấy nhẹ nhõm khi được Hoa Kỳ xác nhận quyền tái lập lực lượng tại Đông Dương. Georges Bidault là Bộ Trưởng Ngoại Giao Pháp được thủ tướng Charles de Gaulle chỉ định vào 25/8/1944 trong chính phủ lâm thời, sau khi nước Pháp được giải toả (Chính phủ Bidault, 6/1946, là cái gai của Hồ Chí Minh cũng là nguyên nhân cuộc chiến 1946-1954, sẽ chi tiết thêm ở phần sau).Từ các sử kiện trên cho thấy độ mềm dẽo và cứng rắn của Hoa Kỳ như thế nào đối với Anh-Pháp và với Hồ Chí Minh. Sự đoán trước và ngăn ngừa của phe Anh-Pháp-Hoa Kỳ đã xảy ra trong thực tế - thế lực đỏ của Staline ở Âu Châu và Hồ Chí Minh (với hỗ trợ của Mao) ở Đông Dương.
Although American OSS representatives were present in both Hanoi and Saigon and ostensibly supported the Viet Minh, the United States took no official position regarding either the DRV, or the French and British actions in South Vietnam. (The Pentagon Papers) - Mặc dù những đại diện của tình báo Hoa Kỳ OSS đã hiện diện tại Hà Nội và Saigon và bề ngoài có vẻ ủng hộ Việt Minh, Hoa Kỳ không có một vai trò gì đối với phe Hồ Chí Minh, hay những hoạt động của cánh Pháp-Anh.
Hoa Kỳ ra vẻ ủng hộ Việt Minh vì Hồ Chí Minh bắt đầu 4/1945 là nhân viên của OSS, làm công tác qua lại giữa ranh giới Trung Việt. Hoa Kỳ đã biết Hồ Chí Minh chính là Nguyễn Ái Quốc, một quốc tế cộng sản đang hoạt động tại Đông Dương, nhưng vẫn xử dụng ông Hồ trong lúc chiến tranh với Nhật. Vào 3/1945, Charles Fenn, thuộc OSS, đã gặp Hồ tại Côn Minh cũng đã có những trao đổi trên vấn đề Hồ là một người cộng sản.

Sau khi tuyên bố "độc lập" và không được quốc gia nào công nhận, Hồ Chí Minh liên kết ngay với phe Pháp cộng, ký với đại diện Pháp Jean Sainteny Hiệp Ước Sơ Bộ ngày 6/3/1946, mang Pháp về với mục đích để Pháp công nhận, thứ đến Pháp chính thức cai trị Việt Nam bên cạnh chính phủ cộng sản của Hồ Chí Minh, và dùng bàn tay Pháp để tiêu diệt các đảng phái quốc gia chống cộng sản. Lập luận cho rằng Pháp về lúc này để thay thế quân Tưởng là không đúng trên nguyên tắc vì D'argenlieux và phe Tưởng, vào 2/1946, đã ký thoả thuận về ngày quân Tưởng rút khỏi miền Bắc. Cần lưu ý là Quốc Hội của nước Pháp ngay trong giai đoạn ngắn ngủi này do thành phần đảng Xã Hội và Cộng Sản nắm quyền, lãnh đạo của chính phủ lâm thời là Felix Gouin (26//1/1946- 24/6/1946) sau Charles de Gaulle.
From the autumn of 1945 through the autumn of 1946, the United States received a series of communications from Ho Chi Minh ...pleading for U.S. recognition of the independence of the DRV.... But while the U.S. took no action on Ho's requests, it was also unwilling to aid the French (The Pentagon Papers). Từ mùa thu 1945 tới mùa thu 1946, Hoa Kỳ nhận liên tiếp nhiều thông tin từ Hồ Chí Minh cầu xin Hoa Kỳ công nhận sự độc lập của Chính Phủ Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa...Nhưng trong khi Hoa Kỳ không trả lời về những đòi hỏi của Hồ, đồng thời chính phủ cũng không có ý trợ giúp Pháp.
Mùa thu 1946 là giai đoạn Hồ Chí Minh gặp nhiều khó khăn về phương diện ngoại giao: đang bị Hoa Kỳ tiếp tục làm ngơ, còn chính phủ lâm thời Pháp thì đang ở giai đoạn bầu cử và phe cứng rắn chống cộng đã nắm quyền quốc hội.

Đến đây cũng đủ để chứng minh rằng ngay từ ngày quốc tế cộng sản Hồ Chí Minh trở về Vìệt Nam (1941) sau hơn 30 năm ở nước ngoài và một quãng dài ít nhất 25 năm hoạt động trọn thời gian cho quốc tế cộng sản, thế giới đã biết ý đồ của ông khi quay đầu trở lại Việt Nam. Lý luận cho rằng vì Hoa Kỳ không công nhận chính phủ của Hồ Chí Minh nên đường cùng ông phải theo cộng sản là một lập luận rất khập khểnh, không dựa vào những sự kiện xảy ra trong quá khứ. Hơn nữa, rất nhiều sách báo Đảng ca ngợi vai trò quốc tế cộng sản của ông Hồ.

CUỘC CHIẾN TRANH Ý THỨC HỆ

Hiệp Ước Sơ Bộ 6/3/1946, ký giữa 2 phe Pháp ( chính phủ Gouin thân cộng) và Hồ Chí Minh kéo dài đến tháng 5/1946 vẫn chưa đi đến kết quả cụ thể, vì chính phủ Pháp đang thay đổi thành phần lãnh đạo. Ngày 28/5/1946, Phạm Văn Đồng được lệnh hướng dẫn phái đoàn qua Pháp dự hội nghị Fontainebleau để mong chính thức hoá Hiệp Ước Sơ Bộ, nhưng thất bại hoàn toàn vì lập trường chống cộng của chính phủ vừa đắc cử do Georges Bidault lãnh đạo.

Ngay trước khi sang Pháp, 31/5/1946, Hồ Chí Minh viết một lá thư gởi dân miền Nam, trong đó có câu "Tôi xin hứa với đồng bào rằng HỒ CHÍ MINH không phải là người bán nước." Tại sao ông Hồ phải nhắc tới 2 chữ "bán nước"? Thực ra thì Hồ đã bị dân miền Bắc gọi là "Hồ Chí Minh bán nước" sau vụ ký Hiệp Ước Sơ Bộ, nên có thể ông vẫn còn mang mặc cảm về hành động phản quốc này.

Hồ Chí Minh đến Pháp lúc này, nhưng đi riêng. Phái đoàn Phạm Văn Đồng trở về Việt Nam, và ông Hồ đã ở lại Pháp 4 tháng ra công vận động các bạn bè cũ thuộc cánh cộng sản và xã hội.
The night before Ho was to return to Vietnam, Salan said to him - and Ho must have known it was true - "We are going to fight each other, and it will be very difficult." Indeed, Ho had told Sainteny and Marius Moutet, "If we have to fight, we will fight...You will kill ten of us and we will kill one of you, but you will be the ones who grow tired." (Ho Chi Minh, by Pierre Brocheux, page 120) - Đêm trước khi Hồ trở về Việt Nam, Salan nói với ông ta - và Hồ đã biết đó là sự thật - "Chúng ta sẽ đánh nhau, và nó sẽ rất là khó khăn." Thực vậy, Hồ đã nói với Sainteny và Marius Moutet, "Nếu chúng ta phải đánh nhau, chúng ta sẽ đánh....Các ông sẽ giết 10 người của chúng tôi và chúng tôi sẽ giết 1 người của các ông, nhưng các ông sẽ là những người trở nên mệt mỏi."
Mẩu đối thoại này đã đi vào lịch sử để chứng minh thái độ của chính phủ Pháp (Georges Bidault lãnh đạo) đối với cộng sản. Tướng Salan đã thẳng thắn tuyên bố chiến tranh với phe Hồ Chí Minh qua một lý do đơn giản: Hồ Chí Minh là một quốc tế cộng sản, một đe doạ cho nền hoà bình và an ninh của thế giới tự do.

Biết mình bị tấn công, nhưng ông Hồ vẫn còn trong tâm trạng nương níu hy vọng vào một cái gì đó dù rất là mơ hồ. Giờ phút cuối cùng trong 4 tháng vận động, Hồ đã đến nhà ông Moutet vào quá khuya ngày 14/9/1946 để 2 bên ký một tạm ước modus vivendi, nội dung tương tự Hiệp Ước Sơ Bộ gồm 11 điều khoản chia chát quyền lợi hai bên. Moutet một đảng viên Đảng Xã Hội, thân cộng, là Bộ Trưởng Bộ Thuộc Điạ, ông ngượng ép ký văn bản này dù biết không giá trị. Đúng vậy, ngày 22/9/1946 Hồ tiếp tục công tác vận động bằng cách viết một lá thư cho một dân biểu quốc hội Pháp, thân cộng, là bà Sô Dít (cách viết của ông Hồ) yêu cầu bà giúp ông làm thế nào để chính phủ Pháp công nhận "độc lập" của "Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa".

Trong tâm trạng chuẩn bị cuộc chiến tranh khó tránh khỏi giữa Pháp và Việt Minh hay đúng hơn là cộng sản, không phải giữa Pháp và toàn dân Việt Nam, Hồ Chí Minh dùng thủ đoạn tuyên truyền, mục đích gây sục sôi lòng thù hận trong dân chúng để đứng lên chống Pháp. "Lời Kêu Gọi Toàn Quốc Kháng Chiến" của Hồ được tung ra ngay sau khi tuyên chiến xảy ra giữa Pháp và Việt Minh ngày 19/12/1946. Đáng ghi nhận ở đây là một số không ít Việt Minh khi gia nhập vào hàng ngũ chống Pháp vì lòng yêu nước chứ không phải vì cộng sản.

Lời trong thư gửi cho bà Sô Dít đầy tính van xin: Chỉ cần nước Pháp công nhận nền độc lập của chúng tôi thì tức khắc nước Pháp sẽ tranh thủ được trái tim và tình cảm của tất cả người Việt Nam. Và chúng ta sẽ cùng nhau xây dựng khối liên hiệp Pháp, một khối liên hiệp tự do, vững chắc và anh em. Gần 3 tháng sau, khi không được làm bạn với Pháp thì Pháp trở thành kẻ thù, văn phong của ông Hồ trở nên nặng nề, miệt thị: ... có súng thì dùng súng, ai có gươm dùng gươm, không có gươm thì dùng cuốc, thuổng, gậy gộc, ai cũng phải ra sức chống thực dân cưú nước...Ta phải hy sinh đến giọt máu cuối cùng để giữ gìn đất nước.

Lúc còn ở Pháp vào 13/9/1946, tướng Salan tuyên bố Pháp sẽ đánh Việt Minh, ông Hồ không gì hơn là chấp nhận, nhưng trong tư thế của một lãnh đạo cộng sản được huấn luyện thuần thành, mất hết tính quốc gia dân tộc, không còn nhân bản, dùng cứu cánh để biện minh cho phương tiện. Phương tiện đó là áp dụng chiến thuật "biển người' để đạt mục đích là chiến thắng, vũ khí là mạng người dù phải hy sinh hằng triệu. Ông đã nói ra phương cách này trước mặt 2 viên chức cao cấp của Pháp, Sainteny và Moutet- 10 người Việt Nam đổi 1 mạng người Pháp Hồ vẫn quyết tâm chiến đấu tới cùng!

Trong "Why Vietnam" (page 4), tác giả Archimedes Patti, nguyên là trưởng cơ quan OSS, cũng đã ghi nhận tính vô nhân này của ông Hồ:

...that his government's policy would be one of "scorched earth to the end."..that Vietnam from north to south would be reduced to ashes, even if it meant the life of every man, woman, and child...rằng chính sách của ông ta (Hồ) là một loại "tiêu thổ kháng chiến tới cùng."...rằng Việt Nam từ bắc tới nam sẽ bị thiêu tan thành tro bụi, ngay cả kể luôn sự sống của mỗi người đàn ông, đàn bà, trẻ con, v.v..

Thật vậy, có thể nói trong cuộc chiến tranh phân chia lằn ranh quốc cộng từ 1946 -1975, những tang thương, chết chóc, điêu tàn đã chứng minh rõ mồn một về chủ trương của người cộng sản Hồ Chí Minh. Hiện tượng "Mỹ Lai" cũng là kết quả của chính sách "tiêu thổ kháng chiến" của Hồ mà Patti đề cập trên. Cộng sản chọn lựa những nơi như trường học, nhà thờ, nơi làng mạc quy tụ dân cư để đặt căn cứ lôi cuốn đối phương vào chiến trận, mục đích làm chết dân lành vô tội và dùng đó như cái cớ hay vũ khí tuyên truyền.

Ngày đó, người người từ Nam chí Bắc nghe theo ông Hồ vì lòng yêu nước, vì cứ tưởng Pháp trở lại thực dân và xâm lược. Họ đâu biết rằng khi ông Hồ nói "hy sinh đến giọt máu cuối cùng để giữ gìn đất nước" là ý ông muốn nói "đất nước của quốc tế cộng sản do đàn anh lãnh đạo." Để rồi 40 năm sau ngày ông Hồ chết, đàn em vẫn trung thành thi hành theo chủ trương của lãnh tụ. Đàn anh Liên Sô không còn nữa thì còn đàn anh Trung Cộng.

Trong vài năm gần đây, vô số những hiện tượng và sự kiện xảy ra cho thấy Trung Cộng đã cầm quyền kiểm soát Việt Nam: Trung Cộng đã chiếm Hoàng Sa, Trường Sa, đặt cơ sở và dân sự khai thác Bauxit vùng cao nguyên Trung phần, hàng hoá Trung Cộng tràn ngập thị trường Việt Nam, bàn tay Trung Cộng nằm trong các cơ quan truyền thông, báo chí,v.v..Và dĩ nhiên, thỉnh thoảng tổng bí thư Nông Đức Mạnh vẫn phải lên miền Bắc để được tuân thủ lệnh Bắc triều.

Ông Hồ luôn tạo ra hình ảnh Pháp thực dân và xâm lược bằng những bài viết bịa đặt tuyên truyền. Trên báo "Cứu Quốc" và sau này là "Nhân Dân", ngay cả có bài viết của Hồ với những dòng "Đề nghị:-Mỗi ngày nên đăng một cái “bảng vàng,” kể một việc oanh liệt trong cuộc kháng chiến. Mục đích cốt để nâng cao chí kháng chiến của dân, tuy dùng cách 'sùng bái anh hùng.' Chớ nói tếu quá." Vô số những câu chuyện "anh hùng" thêu dệt từ trí tưởng tượng của Hồ Chí Minh và các văn công khác như Trần Huy Liệu, Tố Hữu, Chế Lan Viên... Sau này người ta mới biết Lê Văn Tám, Võ Thị Sáu, Tạ Thị Kiều...là những nhân vật "anh hùng" do các cán bộ văn hóa "sáng tạo".

Khi hô hào toàn dân chống Pháp, và dưới sự cai trị độc tài bưng bít thông tin, những gì xảy ra trên thế giới đều bị che giấu. Hồ Chí Minh đã viết khá chi tiết về năm 1946 cùng những hiện tượng xảy ra trong năm đó, về 4 tháng ở bên Pháp làm gì và gặp gỡ ai, nhưng ông Hồ đã cố tình không nhắc đến vụ Pháp trả độc lập cho Syria và Lebanon 1946, trong khi đó ông lại nhớ ghi ngày Philippines được trả độc lập vào 4/7/1946 và vụ Hoa Kỳ thử bom nguyên tử tại Bikini Atoll vào mùa hè 1946.

Tác giả Brocheux khi ghi nhận "dụng ý" của ông Hồ để người đọc đưa ra những nhận xét chi tiết hơn. Ngay lúc Việt Minh có chiến tranh với Pháp thì trên thế giới lần lượt các nước được thực dân trả lại độc lập. Thế nên nếu Hồ loan tin Pháp đã trả độc lập cho Syria và Lebanon thì dĩ nhiên người ta phải nghĩ Pháp cũng phải trả độc lập cho Việt Nam, đâu cần có cuộc chiến tranh chống Pháp. Hồ Chí Minh ghi ra vụ thử nguyên tử để làm đề tài tuyên truyền Hoa Kỳ chế vũ khí giết người và tạo ra chiến tranh; ngụy tạo hơn nữa, Hồ còn rêu rao là nhờ phong trào chống Pháp giành độc lập của Việt Minh mà Hoa Kỳ đã trao độc lập cho Philippines.

Ý thức của dân chúng, nói chung, về cộng sản độc tài và tự do dân chủ thì non kém, trình độ dân trí còn thấp nên những mê hoặc mà ông Hồ và tập đoàn tạo ra dần dà ăn sâu vào não trạng người dân, nên hầu hết mới không thấy rằng Pháp tiếp tục ở lại tái chiếm Việt Nam để đương đầu với làn sóng cộng sản lan tràn, vì Hồ Chí Minh là một lãnh tụ thuộc khối quốc tế cộng sản, mối đe dọa cho toàn vùng Đông Dương và ngay cả nước Pháp lúc đó. Tài liêu cho thấy Charles de Gaulle nhiều lần "đe dọa" (black mail) Hoa Kỳ hãy nên hỗ trợ mạnh mẽ hơn về việc Pháp tái chiếm Đông Dương, nếu không thì ngay tại nước Pháp sẽ có tai hoạ cộng sản.

Tổng thống Richard Nixon, tác giả No More Vietnams, 1985 (trang 31):
An obsessive fear of associating with European colonial powers blinded successive American administrations to a very simple fact: Communism, not colonialism, was the principal cause of the war in Indochina - Một nỗi lo ám ảnh khi liên kết với quyền lực của thực dân Âu Châu đã làm đui mù chính phủ Mỹ một cách liên tiếp về một sự việc rất là đơn giản: Chủ Nghĩa Cộng Sản, không phải Chủ Nghĩa Thực Dân, là nguyên nhân chính của cuộc chiến tranh tại Đông Dương.
Thật vậy, chính trị gia Nixon hiểu sâu sắc về bản chất cộng sản, những bước đi qua của ông là bài học đáng gía cho tổng thống Reagan những năm sau này. Ông Nixon đã nhìn thấy một Hồ Chí Minh thật, một Hồ với nhiều màu sắc, nhiều bộ mặt, một người cộng sản xem nặng việc phục vụ quyền lợi quốc tế nhiều hơn là quốc gia. Ông đã nhận ra rằng nhiều người còn nhìn Pháp khi đánh nhau với phe cộng sản Hồ Chí Minh là hành động "thực dân". Một sai lầm to lớn mà Nixon nhấn mạnh cần làm sáng tỏ, và nguyên do là những tuyên truyền từ phe cộng đỏ. Cũng vì lý do này đã làm phức tạp thêm sự tiến hành trong cuộc chiến, bởi vì nó đã cho phép những những người cộng sản làm mờ đi vấn đề đang đương đầu.

Nixon nhận xét rằng cuộc chiến tự nó đã khơi nguồn từ trong ước muốn thúc đẩy của Hồ Chí Minh. Đó là ông Hồ muốn có toàn quyền lực độc tài trên đất nước Việt Nam, và chiến tranh kéo dài làm hao tổn vật lực cùng nhân lực. Xảy ra như vậy cũng do Trung Cộng hỗ trợ hùng hậu cho Viêt Minh, đồng thời phe Hồ và Võ Nguyên Giáp dốc toàn lực trong cuộc chiến thiêu thân.
No More Vietnams (trang 32): There is almost nothing in Ho' s biography to indicate that he placed nationalism above communism. -Trong tiểu sử của Hồ hầu như không có gì để cho thấy rằng ông ta đặt chủ nghĩa dân tộc lên trên chủ nghĩa cộng sản.
Cả đời Hồ Chí Minh, tất cả ý chí, nghị lực, việc làm đều nhằm mục đích phụng sự cho quốc tế cộng sản. Ông xem nhẹ dân tộc, nặng tình với chủ nghĩa cộng sản đúng như tổng thống Nixon đã nhận xét trên.


Hình trên (VN Magazine,8,2006): Hồ (center) and General Vo Nguyen Giap (right) receive advice from Communist China during the French - Indochina War (1949-54). On the wall are portraits of Mao Tse tung and Ho. - Hồ (giữa) và Tướng Võ Nguyên Giáp (mặt) nhận chỉ đạo từ Trung Cộng trong cuộc chiến Đông Dương với Pháp (1949-1954). Trên tường là hình của Mao Trạch Đông và Hồ.
Hồ Chí Minh chỉ được Pháp công nhận trong giai đoạn Hiệp Ước Sơ Bộ ký 6/3/1946, nhưng rồi từ 9/1946 trở về sau "chinh phủ" của ông Hồ coi như bị "thả lỏng." Mao Trạch Đông nắm quyền Trung quốc vào cuối 1949, liền sau đó, 1/1950, Mao tuyên bố công nhận "Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa" của Hồ. Ngoài quân sự, Hồ Chí Minh và Võ Nguyên Giáp còn nhận chỉ thị từ cố vấn Trung Cộng như tài liệu ghi trên. Thành phần hy sinh trong chủ trương "biển người" của ông Hồ: (T. Lomperis, From People's War to People's Rule (1996): French dead: 92,707, Viet Minh: 500,000, Civilians: 250,000). Tóm lại, cuộc chiến 1946-1954 bắt nguồn từ tham vọng bành trướng chủ nghĩa cộng sản của Hồ Chí Minh, hay nói cách khác, đó là cuộc chiến tranh ý thức hệ giữa cộng sản độc tài và đa nguyên dân chủ.

Bút Sử
14/12/2009

 -------------------------------------------------------------------------


Nguyễn Minh Triết: Tái Xác Nhận Vai Trò QTCS

 

Trong 3 ngày thăm viếng tại Cuba, 26-28/ 9/2009, ông Nguyễn Minh Triết, Chủ Tịch Nhà Nước Cộng Sản Việt Nam, đã tuyên bố một số lời trong một buổi họp mặt là đề tài cho nhiều người nhận xét – Có người ví von Việt Nam Cuba như Trời Đất sinh ra, một anh ở phía Đông, một anh ở phía Tây. Chúng ta thay nhau canh giữ hoà bình cho thế giới. Cuba thức thì Việt Nam ngủ. Việt Nam gác thì Cuba nghỉ.

 

    Getty Image. Nguyen Minh Triet and President Cuba Raul Castro

 

 Có nhận xét cho là một ông Triết với tư tưởng trống trơn, chỉ còn trong đầu vài ba câu tuyên bố có chút “cường điệu” giữa hai nước cộng sản yếu ớt đang nắm tay nhau. Ông không phải một tên hề, nhưng thật sự đang làm trò cười cho thiên hạ -đang nghèo đói phải đi xin viện trợ cả thế giới mà vỗ ngực tự xưng mình có nhiệm vụ "canh giữ hoà bình thế giới.” Những người khác thì cho rằng chẳng cần nghe ông Triết nói gì, chỉ nhìn vào phong cách hai tay “chém gió” và gương mặt “nhà quê” của ông cũng đủ là đề tài cho thiên hạ chế giễu. Ở đây, chúng ta hãy thử phân tách xung quanh ý nghĩa của những lời nói này với cái nhìn có tính lịch sử.

 

Vào những năm sau thế chiến thứ hai, 1945-1950, mặc dù Hoa Kỳ ngấm ngầm ủng hộ Pháp theo chân Anh trở lại Đông Dương để ngăn làn sóng đỏ cộng sản do Hồ Chí Minh lãnh đạo, nhưng Hoa Kỳ vẫn không tin mấy vào thiện chí của Pháp khi Pháp chưa hoàn toàn trao trả độc lập cho Việt Nam dưới sự lãnh đạo của quốc trưởng Bào Đại. Pháp viện lý do: không thể một ngày một bữa mà giao trọn quyền cho phe cánh quốc gia trong khi phải đương đầu với phe cộng sản càng lúc càng tinh vi thâm độc.

 

Tướng Pháp, Jean de Lattre tuyên bố, Why Vietnam by Archimedes Patti, (trang401):

 

We have no more interest here...We have abandoned all our colonial positions completely. There is little rubber or coal or rice we can any longer obtain. And what does it amount to campare to the blood of our sons we are losing and the three hundred and fifty million francs we spend a day in Indochina? The work we are doing is for the salvation of the Vietnamese people. And the propaganda you Americans make that we are still colonialists is doing us tremendous harm, all of us – the Vietnamese, yourself, and us.

Chúng tôi không còn quyền lợi gì ở đây...Chúng tôi đã hủy bò hoàn toàn những vị trí thực dân. Không còn chút nào cao su, than đá, hay lúa gạo mà chúng tôi có thể nắm giữ. Và cái mức độ nào để so sánh với máu đổ và mất mát của những người con của chúng tôi, và 350 triệu francs chúng tôi tiêu dùng mỗi ngày tại Đông Dương? Những việc chúng tôi đang làm là cho sự cứu vớt dân tộc Việt Nam. Và sự tuyên truyền những người Mỹ làm ra rằng chúng tôi vẫn còn là thực dân đang làm thiệt hại rất lớn cho chúng tôi, tất cả chúng ta – dân Việt Nam, các ông (người Mỹ) và chúng tôi.

 

Ngay khi có lời tuyên bố này của tướng de Lattre vào 12/1950 thì thế giới cũng đang chứng kiến ào ạt làn sóng đỏ lan tràn nhiều nơi, ngay cả tại Hoa Kỳ, khối cộng sản Stalin, Nam Mỹ, và Mao-Hồ Chí Minh ở Á Châu. Lời của tướng de Lattre trên cũng đồng nghĩa với những gì mà tướng de Gaulle nói với lãnh đạo Mỹ trước đó mấy năm khi tổng thống Truman còn do dự không biết có nên ủng hộ việc Pháp trở lại Đông Dương. Cuối cùng thì Hoa Kỳ với giải pháp chấp nhận cho Pháp trở về đương đầu với cộng sản và điều này lịch sử đã cho thấy rõ như vậy.

 

Ngay thời tổng thống Truman, ông đã có “Truman Doctrine.” Why Vietnam, (trang 383):

 

 ...that it must be the policy of the United States to support free people against direct and indirect communist aggression - Thuyết Truman – Đó phải là chính sách của Hoa Kỳ để ủng hộ những người tự do chống lại cộng sản xâm lăng một cách trực tiếp hay gián tiếp.

 

Sau Truman, tổng thống John Kennedy cũng rất cứng rắn qua chính sách đối đầu với cộng sản. Như vậy đủ rõ chính phủ Hoa Kỳ khá nghiêm túc trong việc thấy trước tai hoạ cho nền an ninh và hoà bình thế giới nếu để cộng sản hoành hành. Sau này chúng ta còn biết các tổng thống tài giỏi nữa, nói riêng về phương diện đối ngoại, như Richard Nixon và Ronald Reagan.

 

Ngay sau lúc Hồ Chí Minh thành lập chính phủ lâm thời tại miền Bắc vào 1/1946, sĩ quan tình báo Patti đã được lệnh cung cấp chi tiết về Hồ Chí Minh cho Abbot Low Moffat, trưởng cơ quan “Southeast Asian Affairs.”  Patti viết, (trang 381):

 

It was extensive, particularly his career in the Comintern and his association with the Chinese Communist Party - Rất là sâu rộng, đặc biệt là cái nghề của ông ta trong Đệ Tam Quốc Tế Cộng Sản và sự liên hệ với Đảng Cộng Sản Trung Hoa.

 

Archimedes Patti là trưởng cơ quan tình báo Hoa Kỳ tại Đông Dương đã cung cấp tài liệu về Hồ Chí Minh như thế đã chứng tỏ Hồ Chí Minh không gì hơn là một bộ phận của quốc tế cộng sản, làm việc toàn thời gian cho quốc tế cộng sản (career - nghề toàn thời gian). Tuy nhiên, vấn đề ở đây là Patti lại nhấn mạnh vai trò quốc gia của Hồ Chí Minh là trước và người cộng sản Hồ Chí Minh là thứ hai.

 

Đã có nhận xét cho rằng khi Hồ Chí Minh “thân thiện” với Patti, ông ta còn quá trẻ nên đã bị lôi cuốn bởi cung cách của ông Hồ (sắp sửa thành cha già) mà sau này biết ra Hồ có trên 174 tên họ, bí danh và bút danh để qua mắt thiên hạ. Patti không đưa ra luận cứ khi nhận xét như trên. Có thể nhà tình báo này chưa thông hiểu tường tận về đường lối hoạt động của các lãnh đạo cộng sản?

 

Hồ Chí Minh tại Trung Quốc, nguyên tác Hoa ngữ, tác giả Tưởng Vĩnh Kính đã trình bày về Hồ Chí Minh, (trang 96):

 

Hồ Chí Minh đã rập khuôn theo các giáo điều của Cộng Sản Quốc Tế, đem cuộc vận động cách mạng Việt Nam chia làm hai giai đoạn: giai đoạn một, dùng chủ nghĩa dân tộc làm chiếc áo che ngoài và thiết lập chính quyền dân chủ của giai cấp tư sản; giai đoạn hai, thực sự đi vào cách mạng xã hội chủ nghĩa

 

Đường Kách Mệnh của Hồ Chí Minh ra đời 1927, lúc này ông Patti chỉ khoảng tuổi 14, trong đó Hồ Chí Minh đã ghi rõ “Cuộc vận động cách mạng ở trong mỗi quốc gia phải được kết hợp chặt chẽ với giai cấp vô sản quốc tế, công nhân và quần chúng nông dân phải phân biệt rõ giữa Đệ Tam và Đệ Tứ Quốc Tế.” Điều này chứng tỏ Hồ Chí Minh muốn mọi người dân phải theo Đệ Tam Quốc Tế như ông, nghĩa là liên kết với các quốc gia cộng sản khác trên thế giới, không phục vụ cho quyền lợi của quốc gia mình. Patti đồng thời nhấn mạnh Hoa Kỳ vẫn coi Hồ Chí Minh bành trướng làn sóng đỏ (red tide) không quan tâm Hồ có phải là người quốc gia hay không. Trung tá tình báo Archimedes Patti đã qua đời 4/1998, đã để lại một cuốn sách có giá trị lịch sử, trong đó trình bày nhiều dữ kiện, hiện tượng xảy ra, và ông là một nhân chứng quan trọng.

 

Vấn đề đáng trình bày và đặc biệt hơn Patti, đó là người đã từng nắm chức Bộ Trưởng Bộ Quốc Phòng Hoa Kỳ, 1961-1968, ông Robert McNamara, một nhân vật đi ngược lại đường lối của chính phủ ông sau khi ra khỏi chức vụ và ở tuổi về già. Năm 1995, McNamara cho ra cuốn In Retrospect The Tragedy and Lessons of Vietnam.

 

Kinh nghiệm của McNamara đến sau Patti về Hồ Chí Minh. McNamara cũng cho rằng Hồ là người cộng sản quốc gia, nhưng có luận cứ, không như ông Patti. In Retrospect (trang 33):

 

Why did we fail to consider China and Vietnam in the same light as we did Yugoslavia – a Communist nation independent of Moscow? For several reasons, I believe Tito seemed unique; he and Stalin had openly fallen out. China’s and North Vietnam’s heated rhetoric made us think they sought regional hegemony. And Cuba’s recent tilt toward the Soviet Union seemed illustrative of how ostensibly independent Third World movements quickly placed themseves within the Communist orbit. Thus, we equated Ho Chi Minh not with Marshal Tito but with Fidel Castro.

Tại sao chúng ta đã không xem Trung Cộng và Việt Nam giống như nước Nam Tư - một quốc gia cộng sản độc lập không lệ thuộc Moscow? Bởi nhiều lý do, tôi tin Tito coi như đặc biệt; ông ta và Stalin đã đổ vỡ một cách công khai. Lời huyênh hoang sôi nổi của Trung Cộng và Bắc Việt Nam làm chúng ta nghĩ họ mưu cầu quyền hành bá chủ một vùng. Và Cuba vừa nghiêng hẳn về Liên Sô đã cho thấy bề ngoài là phong trào của khối Thế Giới 3 đã nhanh nhẹn đặt mình vào quỹ đạo cộng sản. Như vậy, chúng ta đã đặt ngang hàng Hồ Chí Minh với Fidel Castro, không phải với Tito.

 

Tựu chung, McNamara tin rằng chính vì Hoa Kỳ nhìn Hồ Chí Minh sai lầm như vậy nên đã dẫn tới sự thất bại trong cuộc chiến. Dù sao đây chỉ là nhận xét cá nhân của McNamara, nhưng đáng ghi nhận ở chỗ ông đã từng nắm chức vụ quan trọng trong nguồn máy chỉnh phủ Hoa Kỳ. Ông còn đổ lỗi cho chính phủ Kennedy và hai Đảng Cộng Hoà và Dân Chủ đã không thấy ra điều đó.

 

Tại sao McNamara lại có lối suy luận lạ đời như thế? Ai cũng biết Tito đã tách rời khối cộng sản quốc tế và ông chỉ biết lo cho riêng quốc gia mình. Năm 1948, Tito đã chấm dứt liên hệ với Liên Sô, không còn tiếp tay với du kích quân cộng sản Hy Lạp, còn Hồ Chí Minh năm 1948 bị Pháp đánh bạt vào rừng và chờ phe đỏ tiếp tay, 2 năm sau khi Hồ qua Pháp ở lại 4 tháng cầu cạnh Pháp về Việt Nam cùng phe Hồ cai trị, nhưng đã bị “phe hữu” trong chính phủ Pháp cứng rắn trừng trị. Năm 1948, Hồ Chí Minh lấy bút danh Trần Dân Tiên để ca ngợi người cộng sản quốc tế với chức danh Hồ Chủ Tịch. Trong lúc này Pháp đang yêu cầu vua Bảo Đại từ Hong Kong trở về chấp chính và thành lập quân chủ lập hiến, cũng là nguyện vọng của người dân miền Nam. Hơn nữa “Giải Pháp Bảo Đại” được Hoa Kỳ hỗ trợ. Hiệp Định Elysée được ký sau đó vào 3/1949 giữa Auriol và Bảo Đại tuyên bố Việt Nam độc lập, hy vọng từ điểm này là cái thế cùng sự ủng hộ của toàn dân sẽ đẩy lùi phe cộng sản Hồ vào bóng tối. Nhưng rồi cuối 1949 Mao nắm quyền, và tiếp theo Mao-Stalin (Sino-Soviet) đã hà hơi tiếp sức cho Hồ Chí Minh để thắng trận Điện Biên Phủ và cuộc chiến ý thức hệ này kéo dài tới 30/4/1975.

 

Lập luận của ông McNamara cho rằng Hồ Chí Minh là người cộng sản quốc gia không thể chấp nhận được. Ông chỉ nhìn vào hiện tượng Tito và giai đoạn Hồ Chí Minh gián đoạn với quốc tế cộng sản, chưa được Stalin công nhận, mà quên đi rằng Hồ Chí Minh đã từng được quốc tế cộng sản huấn luyện phương cách làm thế nào để cướp chính quyền và đi đến đại đồng thế giới như Tưởng Vĩnh Kính đã trình bày. McNamara cũng đã không thấy ra lời tuyên bố của ông Hồ trong Đường Kách Mệnh là người dân phải biết phân biệt  Đệ Tam Quốc Tế (Stalin) và Đệ Tứ, và năm 1927 này ông là thành viên của Đệ Tam được 4 năm. Chính Hồ Chí Minh nhìn nhận ông thuộc khối Đệ Tam và thẳng thắn chống Đệ Tứ Quốc Tế (Trotsky) thì tại sao ông McNamara lại gán cho ông Hồ là giống Tito, một cộng sản quốc gia? Hiển nhiên nhất là nhiều sách báo của Đảng luôn ca ngợi ông Hồ là một quốc tế cộng sản gương mẫu và luôn hô hào toàn dân phải có “nghĩa vụ quốc tế.”

 

Còn Fidel Castro? Đã có nhận định cho rằng sở dĩ Hoa Kỳ mạnh mẽ với Cuba vì đã có hiện tượng năm 1962 Liên Sô đặt vũ khí nguyên tử tại Cuba. Sau đó vũ khí được gỡ đi qua những cuộc thương lượng giữa Hoa Kỳ, Cuba, Liên Hiệp Quốc, nhưng “chiến tranh lạnh” lúc nào cũng như sắp sửa hừng hực kết thúc để thành “nóng” khi Castro và Liên Sô mỗi lúc chặt chẽ thêm, mà cái ngòi tại Cuba chỉ cách biên giới Hoa kỳ 90 miles đường chim bay. Cho đến nay, Hoa Kỳ đối với Cuba vẫn cứng rắn như xưa - cấm vận về kinh tế.

 

Chính vì chính phủ đo lường được đe doạ và hiểm hoạ từ Cuba nên dân Mỹ hiểu ngay không thể “làm bạn” với Castro, còn Hồ Chí Minh thì xa quá nên có thể xem nhẹ ông ta chăng? Hơn nữa, khi còn chiến tranh với Nhật, Hồ đã mang bộ áo quốc gia làm nhân viên liên lạc cho cơ quan tình báo Hoa Kỳ OSS. Sau khi cướp chính quyền, Hồ lại cố công yêu cầu Hoa Kỳ công nhận “chính phủ” vì lúc này Mao chưa nắm quyền, còn Stalin thì bận rộn xâm lấn Âu Châu. Hồ Chí Minh đã viết ít nhất 8 lá thư cho tổng thống Truman để yêu cầu giúp đỡ, nhưng không được trả lời. Hoa Kỳ đã thừa biết Hồ Chí Minh chỉ xanh vỏ đỏ lòng mà chính trưởng tình báo Patti cũng đã công nhận. Dù vậy, một số sách báo ở Hoa Kỳ, nhất là thành phần phản chiến luôn bảo vệ Hồ, cường độ cao thấp khác nhau, bên cạnh những tài liệu sử gia đã ghi ra trong giai đoạn chiến tranh lạnh quốc tế cộng sản đã chi ra 3 tỷ dollars mỗi năm cho công tác tuyên truyền tại Hoa Kỳ

 

McNamara trách rằng Hoa Kỳ đã xem Hồ Chí Minh giống như Fidel Castro, nhưng thật ra lịch sử cho thấy Hồ còn nguy hiểm hơn Castro nhiều. Hồ chẳng những làm tay sai cho Nga mà còn ngoan ngoãn nô lệ Trung Cộng, một nước càng lúc càng lộ ra mối đe doạ cho khối tự do.

 

Cộng sản có truyền thống đi hai hàng để tồn tại. Trong thế thừa thắng xông lên không ngớt ngợi ca đàn anh “Liên Sô vĩ đại,” rồi có lúc thân Tàu hơn thì tỏ tình “hữu nghị đời đời, môi hở răng lạnh”...Sau ngày thành trì Liên Sô sụp đổ thì nảy ra luận điệu cho rằng Hồ Chí Minh phải ngã theo cộng sản vì Hoa Kỳ bỏ rơi không công nhận. Sau lời của McNamara trong sách thì Đảng như lửa được thêm dầu, bất chấp mâu thuẫn. Có thể nói hàng ngàn sách báo viết về cuộc đời làm người cộng sản của Hồ từ khi gia nhập Đảng Cộng Sản Pháp vào 1920, trờ thành quốc tế cộng sản 1924, lãnh lương từ Đảng quốc tế làm công tác do Nga Tàu giao phó.

 

Với vai trò quốc tế cộng sản của Hồ Chí Minh, Đảng hãnh diện đưa ra nhiều tên họ đảng viên quốc tế, báo chí các nước cộng sản có liên hệ mật thiết với Hồ. Trong Một Giờ với Đồng Chí Hồ Chí Minh do nhà xuất bản Thanh Niên, 1975, sách trình bày thư của những “đồng chí”: X. A-Gien-Đê (Chi lê), Báo An-Nát (An-giê-ri), Báo Ánh Điện (Ấn Độ), Bla-Ga Đi-Mi-Trô-Va (Bun-ga-ri), Báo Gơ-Ran-Ma (Cu-ba), Mác-Ta Rô-Giát (Cu-ba), Lép-Sen-Cô (Liên Xô), Báo Lơ-Phi-Ga-Rô (Pháp), v.v..

 

Nếu theo diễn giải của chủ tịch nước cộng sản Nguyễn Minh Triết vừa tuyên bố tại Cuba thì năm 1975 Lê Duẩn hay Tôn Đức Thắng cũng phải hô la là: Trời Đất sinh ra chúng ta, cả khối cộng sản gồm Liên Sô, Hungary, Ba Lan, Đông Đức, Trung Cộng, Bắc Hàn...Chúng ta thay nhau canh giữ hoà bình thế giới. Các nước kia thức thì Việt Nam ngủ. Việt Nam gác thì các nước kia nghỉ! Xét ra cũng có lý. Thời đó hay bây giờ Việt Nam “gác” cũng có nghĩa là làm công cho người khác, thừa lệnh đàn anh cầm súng răn đe, hăm doạ, hay ngay cả tàn sát nếu có “thế lực thù địch” đe dọa. Nhưng mà đàn áp hay tàn sát ai? Không ai hơn là đồng bào ruột thịt của mình, Đảng bắt dân câm miệng, chỉ biết tuân theo Đảng để có “hoà bình thế giới.” Vai trò “gác” của cộng sản Việt Nam được thể hiện qua lời của Đặng Tiểu Bình nói với các nhà báo ở Bắc Kinh: Chúng tôi có thể dung thứ việc Liên Sô có ở Việt Nam 70% ảnh hưởng, miễn là 30% còn lại dành cho Trung Quốc. Cuối cùng thì khi Nguyễn Minh Triết có mặt tại nước anh em Cuba vào cuối tháng 9, 2009, Trung Cộng không còn là 30% ảnh hưởng mà là 100%. Đàn anh Liên Sô đã tan rã, “thế giới” của cộng sản Việt Nam bị thu hẹp, mà theo Triết thì chỉ còn có Cuba và Việt Nam (đàn anh Trung Cộng giao việc) làm chuyện canh gác đối đầu “thế lực thù địch.”

 

Tóm lại, lời tuyên bố của Chủ Tịch Nhà Nước Cộng Sản Việt Nam Nguyễn Minh Triết đã đương nhiên tái xác định vai trò quốc tế của Đảng Cộng Sản Việt Nam, lãnh đạo bởi Hồ Chí Minh. Tuyên bố này phần nào cũng đã vô hiệu hoá thêm nhận định của McNamara khi cho rằng Hồ Chí Minh là người cộng sản quốc gia.

 

Bút Sử

10/2009


 

 

 

 

Xảo Thuật về H́nh Ảnh HCM ngày 2/9/1945

Nói về tài trí trá th́ không ai hơn những người công sản Việt Nam mà dẫn đầu là Hồ Chí Minh. Trước ngày lên khán đài đọc diễn văn, 2/9/1945, Hồ điều khiển đàn em làm những màn xuống đường “hoan hô phái bộ đồng minh OSS”, nịnh hót Mỹ rất ngoạn mục, nhưng rồi cũng thất bại. C̣n trong tâm trạng thấp thỏm lo sợ Mỹ không ra mặt công nhận “chính phủ” vừa ăn cướp và tập đoàn vẫn cố đấm ăn xôi. Tâm trạng thể hiện qua h́nh thức. Chúng ta hăy thử nhận xét một vài hành động của Hồ trước ngày xuất hiện tại Ba Đ́nh và h́nh ảnh trên phim được cộng sản quay trong ngày này.

Cái dỏm đáng kể là Hồ Chí Minh đă dùng những câu trong "Tuyên Ngôn Độc Lập" của Hoa Kỳ, 1776, và "Tuyên Ngôn về Nhân Quyền và Dân Quyền" của Pháp, 1791. Có người nhận xét rằng Hồ Chí Minh đă không đủ khả năng viết riêng cho ḿnh một bài diễn văn được gọi là "tuyên ngôn độc lập" đọc trước đám đông, nhất là ngày ông tuyên bố khai mở một giai đoạn mới cho dân tộc Việt Nam. Ngày  29/8/1945, Hồ Chí Minh mời Archimedes Patti, đại diện cơ quan t́nh báo Hoa Kỳ OSS, đến văn pḥng để nhờ xem lại bản văn ông sắp đọc tại quăng trường Ba Đ́nh. Patti viết trong "Why Vietnam" (trang 223): 

I stopped him and turned to Ho in amazement and asked if he really intended to use it in his declaration. I don't know why it nettled me - perhaps a feeling of proprietary right, or something equally inane. Nonetheless, I asked. Ho sat back in his chair, his palms together with fingertips touching his lips ever so lightly, as though meditating. Then with a gentle smile he asked softly, "Should I not use it?" I felt sheepish and embarrassed. Of course, I answered, why should he not? - Tôi ngưng ông kia và quay sang Hồ trong sự kinh ngạc và hỏi nếu ông ta cố ư dùng nó (Tuyên Ngôn Hoa Kỳ) trong tuyên ngôn của ông. Tôi không hiểu tại sao chuyện này kích thích tôi - có thể là một cảm giác về quyền sở hữu, hoặc một cái ǵ đó đồng nghĩa với sự ngu dốt. Tuy vậy, tôi đă hỏi rồi. Hồ ngồi ngửa ra trên ghế, hai ḷng bàn tay bám vào nhau với những ngón tay sờ nhẹ qua lại trên môi, như là đang thiền. Tiếp theo, với nụ cười nhẹ ông  hỏi, "Có thể tôi không nên dùng nó?" Tôi cảm thấy hơi khó chịu và xấu hổ. Dĩ nhiên, tôi trả lời, sao ông ta không dùng được?

Những lời của ông Patti ghi trên, có lẽ người đọc cảm nhận tác giả nghĩ ǵ về Hồ Chí Minh. Có phải Hồ là một lănh tụ ngu dốt, và Patti đă phải cảm thấy xấu hổ cho ông Hồ. Theo luật pháp th́ ông Hồ không có tội ǵ cả khi cắp văn của người khác, nhưng ông là một lănh tụ nên sự nhục nhă càng ở mức độ cao hơn. Ông Charles Fenn, sĩ quan t́nh báo OSS, cũng đă cho rằng không công bằng, vô lư (unjustified) khi ông Hồ lấy nguyên văn của Tuyên Ngôn Độc Lập của Hoa Kỳ.

Đó là nhận xét về h́nh thức; tuy nhiên, khi xét về mặt chính trị th́ sao? Hồ Chí Minh đă dọn đường để mong Hoa Kỳ công nhận sau khi cướp chính quyền. Việc làm này xảy ra từ 3/1945 khi Hồ gặp Charles Fenn tại Côn Minh. Hồ Chí Minh đă đoán được t́nh h́nh thế giới, biết đồng minh sẽ thắng trận, biết chỉ c̣n Hoa Kỳ là một quốc gia sáng giá, giàu mạnh, không c̣n ai ngoài Hoa Kỳ là nước duy nhất Hồ dựa vào lợi dụng để thực hiện mục đích nhuộm đỏ Việt Nam. Hồ Chí Minh chỉ cần chính phủ Mỹ ủng hộ mà thôi, nghĩa là đứng ra công nhận khi ông ra mắt trước dân chúng. Ngay lúc này Hồ Chí Minh đă từ chối không nhận ḿnh là cộng sản trước mặt ông Fenn, mặc dù Fenn đă biết Hồ là ai.

Khi hỏi cần ǵ th́ Hồ Chí Minh trả lời trước nhất là cần gặp tướng Claire Chennault của Mỹ, tư lệnh Đông Dương. Fenn đă tạo cơ hội cho Hồ gặp Chennault. Buổi gặp này không ǵ hơn là Hồ xin Chennault một tấm h́nh và yêu cầu ông tướng kư tên trên đó. Hồ chạy bộ từ Côn Minh về rừng Pac Bo và treo ngay tấm h́nh trên thân cây kế bên lá cờ đỏ sao vàng. Hồ được Mỹ mướn làm t́nh báo lặt vặt chạy qua lại giữa ranh giới Tàu Việt. Nhóm Việt Minh mỗi sáng phải chào cờ và "quốc tế ca" trong khung cảnh hai ư thức, cộng sản và tự do, lộn xộn này. Hồ làm cho mọi người nghĩ Mỹ là "bạn" của Việt Minh. Lúc này Việt Minh là những thanh niên được thu nhận, đa phần ít học, làm sao biết ư thức hệ cộng sản là ǵ. Họ được OSS huấn luyện cách thảy lựu đạn, cách vật bắt. Một ít súng colt 45 Hồ Chí Minh xin Mỹ chỉ phát cho những nhân vật quan trọng mà thôi.

Không khó hiểu khi dân chúng Hà Nội quư mến người Mỹ trong lúc này. Họ đến Việt Nam sau khi thắng thế chiến. Việt Nam lại trong giai đoạn chết đói trầm trọng. Hồ Chí Minh xuất hiện như một kẻ xa lạ đối với dân chúng, ngay cả những người Pháp chưa ra khỏi Việt Nam phải nh́n qua ống ḍm để "điều tra" thêm, c̣n chính phủ của các nước như Hoa Kỳ, Anh, Pháp th́ họ đă biết Hồ Chí Minh rất rơ ràng.

Trong đám đông ngày 2/9/1945, chỉ có một nhóm nhỏ người Mỹ thuộc OSS được coi như có bộ mặt đại diện cho chính phủ Hoa Kỳ, nhưng họ được lệnh đến dự với tư cách quan sát mà thôi.  Ông Grelecki, sĩ quan OSS, kể lại trong một đoạn phim tài liệu: máy quay phim cứ chăm chú vào bốn  người Mỹ, trong đó có ông. Có những biểu ngữ nửa tiếng Anh, nửa tiếng Việt không dấu, nổi bật nhất là "The Doc Lap" thay v́ "Ngày Độc Lập." Kế bên biểu ngữ có một cán bộ cầm cờ sao khá to, và ống kính cứ quay đi quay lại h́nh ảnh này. Vậy trên khán đài ngay chỗ Hồ Chí Minh đọc có treo cờ đỏ hay không mà không thấy người quay phim chú ư?

Trong toàn bộ phim tài liệu người xem chỉ thấy một ngôi sao thật to làm bằng vải dán ngay phần dưới khán đài. Vấn đề hư hư thật thật ở đây làm nhiều người hoang mang, thắc mắc, và nó chỉ có thể được giải nghĩa rơ ràng khi có nhân chứng sống kể lại, phải là người đă chứng kiến và theo dơi từng chi tiết trong ngày này. Phần sau đây xin phân tách vài h́nh ảnh và so sánh những thay đổi sau đó, cũng như nhận định tại sao tập đoàn Hồ Chí Minh phải làm như vậy.

V́ có những xảo thuật trong h́nh nên người xem có thể nghi ngờ những ǵ đă xảy ra tại hiện trường ngày 2/9/1945. Những kỹ thuật sửa đổi này tinh vi đến độ nào tuỳ người nhận xét, nhưng những h́nh ảnh này đă được sử dụng, ngay cả các nhân vật làm phim người Mỹ thuộc loại "History Channel" - "Ho Chi Minh's Biography" do Don Cambou và Gary Tarpinian thực hiện.

Video có đưa ra h́nh ảnh tổng quát trên khán đài khi Hồ Chí Minh đứng trước micro. Phía sau có một cái trụ, có lẽ là trụ cờ. Nếu có treo cờ, tại sao người quay phim lại bỏ qua? Giây phút được xem như quan trọng hùng hồn, người lănh tụ đọc "tuyên ngôn độc lập" với lá cờ đại diện cho quốc gia ḿnh bay phất phới th́ c̣n ǵ bằng? Nhưng không, người ta chỉ thấy người quay phim chú ư lá cờ sao ở dưới đám đông kế bên biểu ngữ "The Doc Lap" được chiếu nhiều lần.

Phải ghi nhận rằng, vào ngày 26 và 30/8/1945 có hai buổi xuống đường tại Hà Nội, một hoan hô tâng bốc nhân viên t́nh báo Mỹ để hy vọng ông Archimedes Patti, đaị diện OSS, vận động cho Hoa Kỳ công nhận, và buổi xuống đường lên án Pháp. Thử hỏi: Nếu Hồ Chí Minh muốn Mỹ công nhận th́ có dám treo cờ đỏ sao vàng phất phới trên khán đài một cách chính thức? Và nếu Mỹ công nhận th́ họ phải đứng cùng với Hồ Chí Minh và tập đoàn, mà ngay lúc này thế giới tự do đang đương đầu với làn sóng đỏ của Stalin ở Âu Châu và có thể Mao Trạch Đông và Hồ Chí Minh tại Á Châu? Hơn nữa, vào 17/3/1945, Charles Fenn gặp Hồ tại Côn Minh đă hỏi ông ta có phải là cộng sản không th́ ông Hồ đă chối quanh và trả lời rằng ai chống Pháp cũng đều bị Pháp chụp mũ là cộng sản. Nếu Hồ cho rằng t́nh báo Mỹ không biết Hồ Chí Minh là quốc tế cộng sản Nguyễn Ái Quốc, thuộc nhóm quốc tế cộng sản (comintern) mặc dù bị giải tán 1943, th́ ông ta đă quá khinh thường đối thủ. Một hoạt đầu chính trị như Hồ Chí Minh rất bén nhạy trong phương cách "cắc kè" để đạt mục đích, ông không bỏ qua bất cứ một cơ hội nào, cho dù xem ra tồi bại hay nhỏ nhặt như tṛ con nít. 

H́nh 1, kế bên, được xem trong các phim tài liệu tŕnh chiếu công khai trước nay. V́ kỹ thuật phim ảnh thời đó c̣n kém nên đường nét không rơ, nhưng vẫn là trung thực.

Cũng cùng vị trí, cùng khung cảnh, nhưng trong h́nh 2 lại có thêm lá cờ sao bay phất phới. Cảnh mây bay bị tan biến, micro lại bám sát vào miệng Hồ và trông rất không tự nhiên. Trong video "Ho Chi Minh's Biography" dùng hai h́nh ảnh mâu thuẫn này, và có lẽ họ cũng không biết họ là nạn nhân của một tập đoàn gian xảo, mà ngay cả người Việt Nam chúng ta c̣n chưa nhận ra hết.

Chưa hết, cộng sản c̣n tạo ra thêm một h́nh ảnh ông Hồ với nét có vẽ "lănh tụ" hơn trước. Trong chế độ kiềm kẹp độc tài, ai có quyền làm những chuyện này, nếu không do lệnh từ các ban tuyên truyền của Đảng. Chỉ có bộ quần áo mặc trong người của Hồ Chí Minh là giống nhau trong 3 h́nh. Cái micro màu bạc trên h́nh thứ 3 lại tṛn, không vuông và đen như hai h́nh trước. Dưới bục lại có thêm lá cờ ngôi sao. Cờ không có nền đỏ sao vàng để cho người ta có cảm tưởng đó là h́nh ảnh của năm 1945 khi chưa có phim màu. H́nh 3 này được tŕnh bày nhiều trang trên Google Images, dưới ghi Hồ Chí Minh tại Ba Đ́nh ngày 2/9/1945, và chắc chắn được phổ biến trên nhiều phương tiện khác.  

Một số người khi đă trở thành đảng viên ly khai hay về hưu th́ mới can đảm nói và viết ra sự thật. Có quá nhiều điều gian dối đang phủ lên mái nhà Việt Nam, nơi tuổi trẻ bị in vào đầu óc những lịch sử xuyên tạc, ngụy tạo. Ngày đó 19/8/1495, nhạc sĩ Tô Hải vừa cầm cờ vàng ba sọc đỏ (Quẻ Ly) rồi chuyển sang cầm cờ đỏ sao vàng, và ông cũng không cảm thấy có ǵ khác lạ. Với không khí náo nức, Việt Minh hô la "ủng hộ Việt Minh", tuổi 20 của ông chưa ư thức được đúng sai nên ùa theo làn sóng, và đă không ít người như thế.

Nay ở vào đầu thế kỷ 21, với ư thức tự do dân chủ cao hơn, với khoa học thông tin rộng răi, giới trẻ sử dụng internet có thể t́m hiểu lịch sử trung thực qua nhiều h́nh thức - bài viết trên các diễn đàn, radio, sách, báo, audio, tiếng nói bày tỏ quan điểm, v.v..Thế hệ thanh niên có kiến thức là động lực đầu tiên có thể phá tan bức màn đỏ che kín những thông tin mà toàn dân cần biết, nhất là cần phân biệt sự thật và những điều ngụy tạo, và có nên tiếp tục chịu sự cai trị của Đảng và Nhà Nước với chủ trương lừa dối?

Bút Sử

8/2009

 


                                                                                                                                                                                                           

 

Diễn Biến Trước và Sau 19/8/1945

 

Trong khi đồng minh đang trên đà thắng thế  chiến thứ hai, khi thế giới tự do đang bàn về việc ngăn chặn làn sóng đỏ bành trướng tại Âu Châu, họ không thể bỏ qua việc cộng sản cũng đang gây rối tại Đông Dương mà lănh đạo là Hồ Chí Minh (HCM). Những tŕnh bày sau đây đưa ra những tài liệu lịch sử bởi các nhà nghiên cứu và sử gia có công thu thập.

 

British in Vietnam: prelude to disaster, 1945-6” là tên cuốn sách của tác giả người Anh, ông Peter Neville, xuất bản 8/2008. Một số diễn biến đáng ghi nhận mà tác giả tŕnh bày trong giai đoạn Nhật đảo chánh Pháp cho tới ngày Việt Minh cướp chính quyền.

 

 Ngày 9/3/1945, Nhật đảo chánh Pháp. Ông Charles Fenn là đai uư t́nh báo OSS của Hoa Kỳ được gửi về Đông Dương làm việc. Ông Fenn đă có một buổi gặp gỡ thú vị với HCM tại Côn Minh , 17/3/1945. Fenn kể lại (trang 51):

 

It seems he has already met Hall, Blass and de Sibour (all OSS officers in Kunming) but got nowhere with any of them. I asked him what he wanted of them. He said – only recognition of his group (called Viet Minh League). I had vaguely heard of this as being communist and asked him about it. He said the French call all Annamites communists who want independence -  Dường như ông ta (Hồ Chí Minh) đă gặp các ông Hall, Blass và de Sibour (tất cả là sĩ quan t́nh báo OSS tại Côn Minh) nhưng không biết các ông ấy ở đâu. Tôi hỏi ông muốn họ làm ǵ cho ông. Ông ta nói - chỉ cần sự nh́n nhận nhóm của ông ta (tức là Việt Minh). Tôi ngờ ngợ đă nghe về nhóm này, họ là công sản và tôi hỏi ông Hồ về vấn đề đó. Ông ta nói người Pháp gọi tất cả ngựi Việt là cộng sản, những người muốn độc lập.

 

Ngay lúc này mới vào 3/1945, ư đồ bất chánh đă thấy manh nha. HCM chỉ cần Hoa Kỳ nh́n nhận Việt Minh để chuẩn bị cho ngày cướp chính quyền và thành lập "chính phủ." HCM cũng không dám xác nhận ḿnh là cộng sản khi bị ông Fenn hỏi, rồi nhập nhằng đổ thừa Pháp chụp cho cả khối người Việt đấu tranh đ̣i độc lập là cộng sản.

 

Khi Fenn hỏi Hồ về vấn đề người Pháp tại Việt Nam th́ HCM từ chối việc tổ chức của ông ta chống Pháp. Việt Minh coi vấn đề chống Pháp không là nhu cầu cần thiết lúc bấy giờ; hơn nữa Vua Bảo Đại đă tuyên bố Việt Nam độc lập sau khi Nhật đảo chánh Pháp. Ông Neville c̣n nhắc lại, ngay cả Trường Chinh tuyên bố (trang 52):

 

...that the Japanese takeover marked the end of 87 years of French colonialism -Người Nhật lật đổ làm dấu hiệu chấm dứt 87 năm thực dân của Pháp,’ và ông Hồ cũng nói, ‘ The French wolf was finally devoured by the Japanese fascist hyena – Con chó sói Pháp đă bị ăn tươi bởi con chó sói fascist Nhật hung tợn hơn.’

 

(nguồn h́nh "Uncle Ho Uncle Sam")

Một chuyện nhỏ hơi khôi hài mà ông Fenn hay nhắc lại khi nói tới HCM gặp tướng Mỹ Chennault. Hồ yêu cầu ông Chennault cho một tấm h́nh và kư tên sau tấm h́nh. Chennault đă tặng h́nh và kư tên. Sau đó Chennault biết ư đồ của HCM, (trang 52):

 

This tickled Chennault’s vanity, he wasn’t to know that the signed photograph would soon be used to good effect by Ho to persuade skeptical Vietnamese nationalist that he did indeed have American support. Soon was flown to the Chinese border and made his way back to Pac Bo on foot. Chuyện này làm Chennault hơi khó chịu khi xem đó chỉ như là hư danh, ông đă không biết tấm h́nh có chữ kư đă sớm trở thành công cụ tốt và có ảnh hưởng cho ông Hồ. Hồ dùng nó để chiêu dụ những người Việt quốc gia đang c̣n lưỡng lự rằng ông ta đă được người Mỹ ủng hộ. Hồ nhanh chân chạy bộ vượt ranh giới Tàu Việt trở lại Pac Bo.

Phim c̣n cho thấy người Mỹ quay cả h́nh ảnh mỗi buổi sáng HCM tụ họp cán bộ ca "Quốc Tế Ca", tay giơ cao đầy khí thế bên cạnh h́nh tướng Chennault và cờ đỏ sao vàng!

 

Trở lại vấn đề của Anh. Vai tṛ của Anh mà Neville muốn làm sáng tỏ là người Anh không phải cùng Pháp trở lại Việt Nam để thực dân. Nhưng ngay lúc đầy những biến loạn này, chính phủ Mỹ đă có lúc hiểu sai lầm. Người ta cứ nghĩ tổng thống Truman đă không thực hiện đề nghị của cố tổng thống Roosevelt “ép Pháp chấm dứt vai tṛ thực dân tại Đông Dương,” nhưng thực ra đă có những cuộc đối thọai qua lại để làm sáng tỏ ư định của Pháp và Anh. Neville ghi (trang 55):

 

 On 9 June (1945), Dening reported bleakly that he had ‘gained the impression from talks in Washington that Great Britain is hardly considered a factor in Far Eastern affairs.’ Vào ngày 9/6/ 1945, Dening tường tŕnh rơ rệt là ông đă ‘nhận ra thái độ từ Washington rằng Anh không thể bị coi là một phần tử trong vấn đề Đông Á.’

 

Vấn đề là làn sóng cộng sản đang lan tràn nhiều nơi, mà ngay lúc này Pháp đă quan tâm. Tướng de Gaulle của Pháp đă “dọa” (blackmail) Hoa Kỳ (trang 55):

 

The French leader told the Americans ‘if you are against us in Indochina’, this would cause terrific disappointment in France and might drive France into communist hands.’ We do not want to become communist,’ de Gaulle warned,’ but I hope you do not push us into it.’ Lănh đạo Pháp đă nói với người Mỹ ‘nếu người Mỹ chống chúng tôi tại Đông Dương,’ việc này có thể gây sự bất măn trầm trọng tại Pháp và có thể đưa đẩy nước Pháp vào tay những người cộng sản. ‘Chúng tôi không muốn trở thành cộng sản,’ de Gaulle cảnh báo, ‘nhưng tôi hy vọng các ông không đẩy chúng tôi vào chuyện ấy.’

 

 Charles de Gaulle đă quan tâm đúng mức khi lo sợ nước Pháp sẽ lọt vào bàn tay những người cộng sản. Thật vậy, dù chưa bị cộng sản nắm chính quyền hoàn toàn, nước Pháp sau khi bị Đức chiếm đóng, hoàn cảnh xă hội bị thay đổi, chính phủ bị kiệt quệ về nhiều mặt và là cơ hội cho các Đảng Xă Hội và Đảng Cộng Sản hoành hành. Việc này đă xảy ra khi Pháp trở lại Việt Nam tiếp tay với HCM 6/3/1946. Xin tŕnh bày thêm phần sau.

 

Cuối cùng th́ chính sách của Mỹ đă chuyển qua giai đoạn mới từ 4 – 7/1945. Mỹ bằng ḷng cho quân Pháp c̣n vị thế tại Nam Việt.

 

Nhưng rồi 8/1945 là giai đoạn rối loạn nhất về mặt chính trị tại Việt Nam. Khối trục của Nhật đă dần dà thua trận và vụ 2 trái bom nguyên tử Mỹ thả tại Hiroshima và Nagasaki . Chính phủ Trần Trong Kim bắt đầu mất đi thế yểm trợ khi Nhật đầu hàng vào ngày 16/8/1945. Vua Bảo Đại nghi ngờ thiện chí ra đi của Pháp và làm ngơ việc ông đă tuyên bố công khai Việt Nam Độc Lập. Trong lúc vua Bảo Đại đánh điện tín đến tổng thống Truman tại Washington  yêu cầu chính phủ Mỹ công nhận Việt Nam Độc Lập như ông đă tuyên bố vào 11/3/1945, nhưng đă quá trễ v́ ngay lúc đó Viêt Minh đă tràn ngập thành phố Hà Nội làm việc cướp chính quyền. Đó là ngày 19/8/1945.

 

Hơn 100 ngàn dân tại Huế đă xuống đường yêu cầu vua Bảo Đại đứng ngoài chuyện Việt Minh, nhưng cuối cùng th́ Bảo Đại đă phải thoái vị giao quyền lại cho HCM để thành lập “chính phủ liên hiệp” mà sau này nhiều người quốc gia bị lầm kế Hồ khi gia nhập với ḷng nhiệt thành yêu nước.

 

Những diễn biến xảy ra từ tháng 4 – 7/1945 giũa Hoa Kỳ và Anh –Pháp, sau đó là nhiệm vụ của Anh tại miền Nam Việt Nam sau hội nghị Potsdam đă cho thấy có một sự sắp xếp cho việc Anh trở lại giải giới tàn quân Nhật và sự trở lại của Pháp.

 

Lúc này HCM phải làm nhanh vấn đề ra mắt trước nhân dân miền Bắc. Chỉ trong ṿng 2 tuần lễ của tháng 8, Hồ và tập đoàn đă dàn dựng vài hiện tượng ngoạn mục như sau:

 

Trên tờ “Cứu Quốc” ra ngày 29/8/1945 đă đăng tin:

 

 Đêm 25-8-45 máy truyền thanh vang rạy khắp mọi ngả đường, mọi hang cùng ngơ hẻm thúc dục đồng bào đúng 11 giờ ngày 26 đi biểu t́nh nghênh tiếp một số uỷ viên trong chính phủ lâm thời và phái bộ điều tra Mỹ mới về Hà Nội. Sôi nổi và thao thức mong đợi....trong chính phủ lâm thời sẽ có thay đổi và mở rộng phạm vị để đón tiếp các vĩ nhân.

 

 Như đă kể trên, HCM đă từng treo h́nh tướng Mỹ Chennault kế bên cờ đỏ sao vàng trong rừng hang Pac Bo khi Hồ mang tên Lucius làm công tác t́nh báo cho OSS của Mỹ. HCM cần Mỹ công nhận đến mức độ ráo riết tổ chức 2 buổi mít tinh xuống đường “đón tiếp các vĩ nhân” trước ngày 2/9/1945.

 

Dân chúng nghe lời kêu gọi, nhất là đang hâm mộ Mỹ, một cường quốc đang thắng thế chiến thứ 2, họ kéo nhau ra đường ngày 26/8. Có những biểu ngữ ca ngợi “phái bộ đồng minh OSS”... Ông Archimedes Patti đă đánh tiếng lại yêu cầu Việt Minh gỡ những biểu ngữ đó xuống v́ phái đoàn OSS không phải là “đồng minh.”

 

Cuối cùng th́ Patti đă không có mặt tại buổi xuống đường đó. Dân chúng thất vọng. Không ngừng thủ đoạn để đạt mục đích, cả nhóm Việt Minh đại diện gồm các ông Vơ Nguyên Giáp, Nguyễn Hữu Đang, Nguyễn Lương Bằng kéo cờ và kèn trống đến ngay tư gia của thiếu tá t́nh báo Patti.

 

Vừa vào gặp Patti th́ Việt Minh chụp ngay một tấm h́nh khi Patti c̣n mặc đồ thường. Tiếp theo, Việt Minh sửa soạn nghiêm chào cờ Mỹ bắt buộc ông Patti phải mặc lễ phục ra trước nhà chào cờ. 

 

      

(nguồn h́nh "Why Vietnam" by Archimedes Patti, trang 234)

 

Dưới h́nh Patti ghi:

 

Ngày 26/8/1945, tại Hà Nội, HCM gửi một phái đoàn dẫn đầu bởi Vơ Nguyên Giáp để nghênh đón công tác của OSS Mỹ đến Hà Nội. Trong khi giàn nhạc trổ Quốc Ca Mỹ, Giáp và phái đoàn cùng hưởng ứng với tác giả và toán OSS nghiêm chào cờ Mỹ.

 

Lời của ông Patti đă chứng minh Việt Minh có cuộc xuống đường ngày 26/8/1945 như tờ "Cứu Quốc" đă đăng. Chờ măi Patti không tới, cả đám đành phải kéo nhau tới tư thất của Patti và có ư ép Patti ra ngoài chào cờ để chụp h́nh làm bằng chứng Mỹ ủng hộ Việt Minh. Trong nước, 11/2007, cộng sản đem h́nh ảnh này cho vào một cuốn sách "OSS và HCM", nhưng cắt h́nh cờ Mỹ.

 

Thêm một buổi xuống đường ngày 30/ 8/1945 cũng trong tinh thần nịnh Mỹ. Lần này th́ Việt Minh chống Pháp mà trước đó, 3/1945, HCM trả lời với Fenn là tổ chức ông không chống Pháp. Biểu ngữ có họ Hồ, cờ đỏ sao vàng. Có phải lúc này Hồ đă thấy Pháp theo gót chân Anh trở lại dậm chân tại Việt Nam trừ hậu hoạn cộng sản và chính HCM là một quốc tế cộng sản, một tay sai đắc lực của đệ tam quốc tế?

(nguồn "Why Vietnam, trang 234)

 

Ngày quan trọng 2/9/1945 đă đến. Trên sân khấu, phải chăng có lúc HCM đă mất b́nh tỉnh? Chỉ có 4 người Mỹ trong nhóm OSS đứng trong đám đông. Họ đứng để quan sát chứ không phải làm vai tṛ quan khách, nhưng ống kính camera cứ nhắm vào 4 ông Mỹ này, và đoàn duyệt binh cứ qua lại trước mặt họ nhiều lần ( lời kể của đại ư Grelecki trong “Uncle Ho Uncle Sam”).

 

 Đi t́m một thế lực để công nhận rất là quan trọng, nhất là “Chính Phủ Việt Nam Dân Chủ Cộng Hoà” được dựng ra bởi hành động cướp chính quyền, không phải do dân bầu. Mỹ đă không công nhận HCM ngày 2 tháng 9 đó. Ông Hồ  có biết hay không những diễn tiến xảy ra giữa Mỹ và phe Anh-Pháp từ 4 – 7/1945, nhưng việc ông ta làm th́ vẫn cứ làm, tận dụng tất cả mọi cơ hội và hoàn cảnh để đạt mục tiêu.

 

Từ 6/1944 – 1/1946, chính phủ lâm thời của Pháp do Charles de Gaulle lănh đạo. Nhưng đến 1/1946 – 6/1946 th́ do Felix Gouin , một đảng viên Đảng Xă Hội thân cộng.

 

HCM đă kư Hiệp Ước Sơ Bộ ngày 6/3/1946 với đại diện Pháp Sainteny trong giai đoạn này. Mục đích để được Pháp công nhận, thứ đến dùng Pháp để tiêu diệt các đảng phái quốc gia. Khi bị đồng bào và các chính đảng lên án “Hồ Chí Minh bán nước” th́ ông ta lại cho rằng “mang Pháp về để thay thế quân Tưởng Giới Thạch” (dẹp tàn quân Nhật miền Bắc) là một cái cớ để chạy tội. Thật ra, Hiệp Ước Nga Hoa đă được Pháp và phe Tưởng kư ngày 28/2/1946, bao gồm việc rút quân từ 1 - 15/3/1946. Trước đó, đô đốc D’Argenlieu đă sang Trùng Khánh điều đ́nh từ tháng 10/1945.

 

Vũ đài chính trị Pháp ngả vế phái hữu” là câu ghi trong sách “Đồng Chí Hồ Chí Minh,” (trang 323), của tác giả  E-Cô-bê-lép khi tŕnh bày cuộc họp tại Fontainebleau thất bại. Lúc này lănh đạo nước Pháp là thủ tướng George Bidault (6/1946 – 11/1946), nhân vật chống cộng sản cứng rắn.  Điều này nói lên nước Pháp đă ra mặt công khai tuyên chiến với HCM, mặc dù ông Hồ cố t́nh ở lại 4 tháng tại Pháp từ 28/5/1946 - 14/9/1946, để cầu hoà, t́m vận động viên để mong Pháp  trở lại Việt Nam hợp tác với Việt Minh, đúng theo tinh thần của Hiệp Ước Sơ Bộ và hội nghị tại Fontainebleau phe Hồ muốn Pháp chính thức hoá hiệp ước này. Nhân vật chống đối mạnh mẽ nhất phải kể là đô đốc D' Argenlieu và thủ tướng Bidault. Trong Hiệp Ước Sơ Bộ có phần "thống nhất ba kỳ" được hiểu như giao trọn Việt Nam cho phe cộng sản.

 

Khi biết không tránh khỏi chiến tranh, HCM từ thái độ muốn Pháp trở lại “thực dân” quay sang hô la Pháp trở lại Việt Nam “xâm lược” để mong gây trong ḷng dân thêm sự thù hận mà ra tay cùng Việt Minh nạp mạng trong cuộc chiến khó tránh. Cuộc chiến tranh ư thức hệ xảy ra từ 12/1946 –5/1954, mà tuyên truyền của cộng sản cho là cuộc chiến "giành độc lập." 19/8/1945 đánh dấu ngày đầu tiên vấn nạn cộng sản độc tài đè nặng trên đất nước và dân tộc Việt Nam, nó lại được tô lên một lớp sơn đỏ với  hai chữ "cách mạng."

 

 Bút Sử

19/8/2009

  


Ai Là Mẹ của Nông Đức Mạnh?


Khi Nông Đức Mạnh(NĐM) được chọn làm Tổng Bí Thư Ban Chấp hành Trung Ương Đảng CSVN, nhiều lời bàn tán nổi lên nhưng chỉ qui vào thân thế hơn là sự nghiệp của ông ta. Theo đài Á Châu Tự Do (RFA) th́ tại một nước mà tự do báo chí không có để t́m kiếm sự thật th́ những lời x́ xầm đồn đại lan truyền trong dân chúng lâu dần sẽ đương nhiên trở thành được coi như có giá trị. Do đó khi viết về đại hội đại biểu toàn quốc 4/2001 báo chí ngoại quốc đều nhắc đến những lời đồn đăi rằng NĐM là con rơi của Hồ Chí Minh (HCM) cha đẻ của cuộc cách mạng vô sản ở VN. Đại Sứ Australia là bà Sue Boyd - người nổi tiếng là bộc trực- đă hỏi thẳng NĐM có phải là con của Hồ Chí Minh không? NĐM trả lời "Ở Việt Nam ai cũng đều là con của Bác". Câu trả lời vô thưởng vô phạt này có chủ đích lập lờ để không phải xác nhận sự thật mà cũng không bị mang tiếng là chối bỏ một sự thật.

Sau đó cũng gần một năm trên tạp chí Time, ấn bản vùng Á Châu phát hành ngày 23-1-2002 tại Hồng Kông- qua cuộc phỏng vấn của kư giả Kay Johnson- Tổng Bí Thư (TBT) Đảng CSVN lại một lần nữa lên tiếng về thân thế ḿnh, bác bỏ tin đồn trước đây cho rằng ông ta là con rơi của HCM và một phụ nữ sắc tộc là Nông Thị Xuân. Ngày được nâng lên giữ chức TBT, v́ quá bất ngờ với câu hỏi của bà Sue Boyd nên câu trả lời của NDM tuy khôn ngoan nhưng ai cũng hiểu đó là một sự tránh né. Có lẽ nhận thấy im lặng quá lâu là mặc nhiên xác nhận tin đồn không tốt cho sự nghiệp chính trị của ḿnh, là "con Vua th́ được làm Vua", lần này v́ có chuẩn bị trước nên NĐM đă bác bỏ tin đồn một cách mạnh mẽ "Tôi phải lập lại và xác nhận rằng điều đó không đúng sự thật. Tôi có thể nói tên của cha mẹ tôi nhưng họ đă chết" Và NDM cho biết cha ḿnh là Nông Văn Lai và mẹ là Hoàng Thị Nhị. Tổng Bí Thư Dảng CSVN tiếp theo cười cười :
"Nếu có ai nói tôi giống HCM, tôi nghĩ có nhiều người trông giống người "
Người phỏng vấn h́nh như vẫn chưa hài ḷng với câu trả lời nên lại hỏi : "Nên ông không liên hệ ǵ với HCM ?"
NĐM lập lại : "Tất cả mọi người VN là con của Bác Hồ. Tôi nghĩ toàn thể dân Việt xem HCM là cha tinh thần của họ và tôi cũng thế ".
Nghe đến đây phóng viên tờ Time nhấn mạnh một lần nữa : "Nhưng không phải là cha đẻ của ông?."
NĐM quả quyết : "Chắc chắn là không ".

Viết về HCM th́ không thể nào không nhắc đến những huyền thoại không những do đảng CSVN tô son điểm phấn cho ông mà ngay chính bản thân ông cũng tự hào về những dối trá đó. H́nh như những suy tôn mà Đảng CS đă dành cho ông vẫn chưa đủ nên chính ông lại tự ca ngợi ḿnh. Quả thật không ai ca ngợi HCM bằng chính ông ta. Trong các tài liệu về HCM cho biết "Bác" Hồ đă có tất cả vừa tên, vừa bí danh và bút danh từ A đến Z sơ khởi là 54 cái tên (VN Đẹp Nhất Có Tên Bác Hồ- trang 114- 122) nhưng lại bỏ sót mất 2 cái tên là Trần Dân Tiên và T. Lan là tác giả của 2 cuốn sách nâng HCM lên như một ông "Thánh sống" đến độ trơ trẽn v́ từ trước đến nay có lẽ chỉ ḿnh Bác là kẻ duy nhất tự viết sách để ca tụng ḿnh qua vai tṛ Trần Dân Tiên và T.Lan, tự khen ḿnh là khiêm tốn, không bao giờ nghĩ đến ḿnh mà chỉ nghĩ đến nhân dân, phong cho ḿnh là "cha già dân tộc", ngạo mạn với các bậc tiền bối, xưng hô là "Bác" với mọi ngườ́ kể cả các cụ già. Một con người mà có thể hạ bút viết lên những điều như thế th́ tất cả những huyền thoại về HCM đều là do ư muốn của ông ta.


Trong những lần dạy dỗ cán bộ đảng viên, HCM thường nhắc đến hai chữ "hủ hoá", nhưng kỳ thực ông ta lại là người lăng nhăng t́nh cảm với nhiều phụ nữ hơn ai hết. Những tham khảo của các sử gia ngoại quốc cũng như tài liệu từ các quốc gia Pháp Nga cho thấy rơ điều này. Đồng ư, con người sinh ra đều có t́nh cảm: yêu thương, giận hờn, ghen ghét trong đó t́nh yêu vợ chồng là t́nh cảm thiêng liêng không thể thiếu được. Thế nhưng HCM đă dấu hết t́nh cảm đó, cho ḿnh là một "ông Thánh" hy sinh cả cuộc đời , sống cô độc lo cho dân cho nước. Thậm chí ăn ở với người ta có con, rồi ra lệnh giết người mẹ chỉ v́ không muốn nh́n nhận vợ con. Nếu không có lệnh của HCM th́ ai dám nhúng tay vào tội ác?. Thế mà HCM lúc nào cũng hănh diện nhắc nhở cho thanh thiếu niên là "Học ǵ th́ học chứ đừng học tánh hút thuốc và không lấy vợ của Bác nhé!". Do đó nói lên sự thật không có nghĩa là moi móc đời tư mà là đánh đổ huyền thoại của một con người hai mặt nói th́ tốt nhưng hành động th́ xấu xa. Mồm th́ hô hào là "đầy tớ " của nhân dân nhưng lại mơ thấy ḿnh làm vua là "cha" của thiên hạ :

Trong tù khoan khoái giấc ban trưa
Một giấc miên man liền mấy giờ
Mơ thấy cưỡi rồng trên thượng giới

Tỉnh ra trong ngục vẫn nằm trơ

Tiếng Việt của chúng ta thật là phong phú, đa dạng. Khi viết "Mẹ của NĐM là ai?" th́ câu hỏi này không có ǵ đặc biệt - và câu trả lời là mẹ ông ta có thể là bà A, bà B, bà Mít , bà Xoài v. v... Nhưng khi chúng ta đặt chữ Ai ở đầu câu Ai là Mẹ của NĐM ? th́ câu hỏi xem ra có phần mạnh mẽ hơn, hậu ư như là giữa những bà có tên là Marie Biere (Pháp), Tăng Tuyết Minh (Tàu), Vera Vasiliéva (Nga), Nguyễn Thị Minh Khai, Đỗ Thị Lạc, Nông Thị Xuân . . ai trong số đó là Mẹ của NĐM?

Dư luận cho rằng người đó là Nông Thị Xuân có lẽ v́ bà Xuân cùng là họ Nông và lại cũng sinh cho HCM một đứa con trai. Tuy nhiên nếu xét về thời gian th́ giả thuyết này không chấp nhận được. Câu chuyện Nông Thị Xuân đă được ông Nguyễn Minh Cần - đảng viên CS ly khai viết rất rơ ràng. Sau hiệp định Geneve 1954 HCM về Hà Nội làm Chủ Tịch nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà. Năm 1955 Nông Thị Xuân 22 tuổi người Cao Bằng được đưa về Hà Nội để "phục vụ" HCM. Lúc đó "Bác" đă 65 tuổi rồi. Một năm sau, hạ sanh một con trai đặt tên là Nguyễn Tất Trung. Nông Đức Mạnh, theo tài liệu của Đảng, th́ sinh năm 1940, c̣n Nguyễn Tất Trung sinh 1956. Địa thế hang Pắc Bó lại thông ra một con đường kín đáo dẫn sang bên kia biên giới..Cũng tại nơi đây HCM lại có một mối t́nh mà ít ai để ư đến và ngay những tá liệu trước đây cũng không hề nhắc đến. Nhân chuyện CSVN dâng đất nhường biển cho Trung cộng, các anh chị em trong nhóm "Câu Lạc Bộ Sinh Viên Việt Nam" ngày 24-2-2002 đă viết một bài có tựa đề "Cột Mốc 108 và Một Câu Chuyện T́nh" ( Trong Bạch Thư tố cáo Việt cộng hiến đất dâng biển cho Trung Cộng trang 348,349). Mục đích của bài viết muốn nhấn mạnh cột mốc 108 biên giớI Việt Trung để chúng ta có dịp do sánh địa điểm này giữa hai thời điểm 1941 và 1999. Thế nhưng, Cột mốc biên giới đánh số 108 này cũng đă ghi lại dấu vết đầu tiên của HCM khi trở về nước và đă có một cuộc t́nh với cô gái Nùng họ Nông .

"Vào năm 1941 Nông Thị Ngác - c̣n có biệt danh là Nông Thị Trưng (tên do "Bác" Hồ đặt cho) là một cô gái tuổi đôi mươi người Tày rất đẹp có duyên nhưng lại mù chữ. Vốn trực thuộc cơ quan chi bộ phái của Trung Hoa Cộng sản Đảng tuyển chọn và huấn luyện để làm giao liên cho HCM, Nông Thị Trưng liên tục được HCM huấn luyện, bồi dưỡng, xoá dần mù chữ và một chuyện t́nh có thể xảy ra vào những năm tháng này"


Trên tờ Xuân Phụ Nữ năm Đinh Sửu 1997 xuất bản trong nước một bài viết có tựa đề "Cô Học Tṛ Nhỏ Của Bác Hồ" được tác giả Thiên Lư viết theo lời kể của chính đương sự Nông Thị Trưng đă cho thấy có sự gắn bó rất thắm thiết giữa người con gái Nùng tuổi đôi mươi với người đàn ông 51 tuổi trong cái hang Pác Bó gần cột mốc 108 này. Sau đây là nguyên văn bài viết:

"Tháng 7 năm 1941, được tin Châu Hà Quảng đưa lính cơ tới bắt, ngay đêm ấy tôi trốn ra rừng, rồi được Châu Ủy đem qua B́nh Măng (Trung Quốc) lánh nạn tại nhà một đảng viên đảng Cộng sản Trung Quốc. Một hôm đồng chí Lê Quảng Ba và Vũ Anh đến đón tôi từ Trung Quốc về Pắc Bó gặp Bác.. Về Pắc Bó đă nửa đêm, anh Đại Lâm người giữ trạm đầu nguồn đưa ngay chúng tôi đi gặp "ông Ké".


Lội ngược suối càng đi nước càng sâu, khi đến thác thứ ba, anh Đại Lâm thổi sáo, từ trên thác có thang tre thả xuống. Trèo thang lên, thấy một cái lán dựng ngay trên bờ suối. Trong lán có ông cụ ngồi đọc sách. Tôi chắp tay "Cháu chào cụ ạ" ông cụ nh́n lên hai mắt rất sáng, ân cần bảo: "Cháu đến rồi à, cháu ngồi xuống đây nói chuyện.\" Tôi nh́n xuống sàn, thấy toàn cây to bằng bắp chân. Cụ bảo hai lần tôi mới dám ngồi. Cụ tỉ mỉ hỏi gia cảnh, rồi khuyên tôi: "Từ nay cháu đă có một gia đ́nh lớn là gia đ́nh cách mạng, đừng luyến tiếc gia đ́nh nhỏ nữa. Cháu cặm cụi làm ăn cũng không đủ để nộp sưu thuế đâu. Ḿnh lấy lại được nước rồi từng gia đ́nh sẽ được đàng hoàng. Từ nay ai hỏi th́ cháu nói ḿnh là cháu chú Thu, tên Trưng". Bác đặt tên ấy là muốn tôi noi theo gương bà Trưng..

Từ đấy tôi ở lại lán anh Đại Lâm, mỗi ngày vào lán của Bác một giờ để học tập. Bác dạy cho tôi từ chuyện thế giới, chuyện cộng sản chủ nghĩa đến cả những cách ứng xử thường ngày như "Đừng làm một việc ǵ có thể khiến dân mất ḷng tin. Mượn một cái kim, một con dao, một buổi là phải đem trả. Trong ba lô nếu có màn, phải để ở ngoài cửa, hỏi xem chủ nhà có bằng ḷng mới đem vào. Cháu là nữ, trước bàn thờ có cái giường để các cụ ngồi ăn cỗ, cháu không được ngồi". Tám tháng được Bác chỉ dạy tôi học được hơn cả mấy chục năm học lư luận tập trung sau này. Bà Nông Thị Trưng ngừng kể để uống nước. Tôi để ư thấy ngôi nhà yên vắng lạ, không có dấu hiệu một người thứ hai ngoài chủ nhân sống ở đây. Đồ vật trong nhà chỉ có chiếc giường, bộ bàn ghế gỗ thường, chiếc xe đạp nam và cái ti vi đen trắng cũ kỹ.

Nhân đang vui chuyện, tôi hỏi về gia đ́nh bà, chồng bà là một cán bộ Việt Minh cùng hoạt động những năm ba mươi, đă mất năm 1986. Được bốn con trai một gái, nay đều ở riêng. Bà sống đơn chiếc, tự "phục vụ" hoàn toàn . Người phụ nữ giàu nghị lực ấy đă trải qua nhiều thời kỳ gian khổ trong kháng chiến, vừa hoạt động, vừa nuôi con. Thậm chí, có lúc quá khó khăn đă phải ngưng công tác. Và cũng chính bác Hồ đưa người nữ cán bộ miền núi ấy trở lại với công tác.

Trong dịp Quốc Hội đầu tiên, sau hoà b́nh, Bác mời các đại biểu Cao Bằng tới ăn cơm, thăm hỏi mọi cán bộ cơ sở cũ, và không quên cô học tṛ nhỏ ở Pắc Bó. "Trưng bây giờ làm ǵ ở đâu?". Khi nghe trả lời: "Thưa Bác, chị Trưng nghỉ ở nhà", Bác đổi sắc mặt, trách "Tại sao trước cách mạng khó khăn thế, nó vẫn hoạt động mà bây giờ lại nghỉ, các chú phải t́m hiểu rơ chứ". Về sau, mỗi khi có dịp, Bác đều cử người gặp trực tiếp bà Trưng hỏi xem bà có gặp khó khăn ǵ để giúp đỡ.

Bác c̣n có cả một bài thơ tặng người học tṛ nhỏ của ḿnh. Bà Trưng kể: "Hồi ấy giữa năm 1943 Bác mới ra khỏi nhà tù Trưởng Giới Thạch, trở về Lũng Cát ở trong một cái lán dưới chân núi. Một hôm Bác cho gọi tôi đến đưa cho một quyển vở và bảo rằng "Bác vừa dịch xong quyển Binh Pháp Tôn Tử, Bác cho cháu". Tôi giở ra, thấy ở b́a trong có bốn câu thơ viết bằng mực tàu:

"Vở này ta tặng cháu yêu ta
Tỏ chút ḷng yêu cháu gọi là
Mong cháu ra công mà học tập
Mai sau cháu giúp nước non nhà."

Tiếc thay , trong những năm kháng chiến, không có điều kiện bảo quản, quyển vở quí ấy đă bị mối xông mất .”
-------------
Bài viết chấm dứt nơi đây.

Vừa gặp nhau lần đầu , người con gái Nùng chấp tay "Cháu chào cụ ạ". Có lẽ tiếng "cụ" nghe không "êm ái" nên HCM dặn ḍ "Từ nay ai hỏi, th́ cháu nói ḿnh là cháu chú Thu, tên Trưng". Và bí danh "Già Thu" và "Nông Thị Trưng " được khai sinh ra từ đó. Từ trước đến nay ông Hồ vẫn xưng ḿnh là Bác với tất cả mọi người, riêng đặc biệt chỉ có mỗi một ḿnh Nông thị Ngác là được làm "cháu" của "Chú Thu" mà thôi.

Qua lời kể trên đây th́ t́nh cảm của "Chú Thu" dành cho "cháu Trưng" rất đậm đà thắm thiết "Mỗi ngày một giờ liên tục như thế gần một năm trời từ tháng 9-1941 cho đến 13-8-1942 th́ lớp dạy kèm chấm dứt, "Chú Thu" qua Trung Quốc, bị bắt ., ra tù trở về lại Cao Bằng, t́m lại cô học tṛ xưa tặng nàng một bài thơ viết vài gịng trên quyển "binh thư" và kể từ đó tuy xa nhau nhưng "Chú Thu" vẫn theo dơi tận t́nh giúp đỡ cho "cô học tṛ nhỏ" của ḿnh.


Tin từ nhóm "Câu Lạc Bộ Sinh Viên" cho biết th́ "Kể từ đó Nông Thị Ngác đă vắng mặt khá lâu tại vùng biên giới này, mười năm sau Nông Thị Ngác bỗng nhiên được ưu đăi đặc biệt trở thành chánh án toà án nhân dân tỉnh Cao Bằng. Người ta đặt câu hỏi việc ǵ đă xảy ra trong những năm tháng đó, Nông đă đóng góp ǵ mà chỉ sau mười năm trở thành tỉnh uỷ viên, uỷ viên ban chấp hành trung ương và là người đứng đầu ngành hành pháp tại một tỉnh xung yếu phía Bắc?


Như đă biết, tại Viêt Nam không có tự do báo chí, tất cả nằm trong tay Đảng. Nhà baó Kim Hạnh tổng biên tập của báo Tuổi Trẻ đă bị mất chức chỉ v́ đăng tin HCM khi c̣n trẻ đă có một người vợ kèm theo đăng lá thư HCM gửi cho người vợ này. V́ sự thật đă không được phơi bày cho nên người dân chỉ c̣n biết đặt nghi vấn, tại sao Nông Thị Trưng lại được ưu đăi như thế? Tại sao tiểu sử Nông Đức Mạnh chỉ ghi: "Con một nhà cách mạng lăo thành?” c̣n cô học tṛ nhỏ của ''Bác" th́ chỉ hé mở chồng ḿnh là "một cán bộ Việt minh cùng hoạt động những năm ba mươi" ?. Tại sao lại phải dấu tên tuổi như vậy?.

Gần đây hơn, đáng tin cậy nhất là William Duiker đă tường thuật lại, trong cuốn sách viết về Hồ Chí Minh (tái bản lần thứ hai) chuyện Nông Đức Mạnh đă tiết lộ với tác giả rằng " MẸ TÔI, THÀNH VIÊN CỦA DÂN TỘC THIỂU SỐ, ĐĂ PHỤC DỊCH CHO ÔNG HỒ VÀO NHỮNG NĂM ĐẦU TIÊN CỦA THẬP NIÊN 40…"

Một con người vốn bản tính lăng nhăng, thời gian ở ngoại quốc đă có tiếng là "anh thanh niên Quốc ăn mặc rất chải chuốt, luôn mang cà vạt màu, rất diện, xức cả nước hoa cực thơm.."(Hồ Chí Minh có mấy vợ- Trần Gia Phụng) mà nay lại đứng trước cảnh tượng "nửa đêm, giờ tư, canh ba" trong một nhà sàn thanh vắng ông "ké" nh́n lên, hai mắt sáng, ân cần bảo: "Cháu đến rồi à, cháu ngồi xuống đây nói chuyện" th́ liệu "ông Ké” có làm ngơ được không nhất là khi nhan sắc của "cháu" Nông Thị Ngác lại mặn mà duyên dáng dễ làm say đắm ḷng người !

Xem như thế th́ câu chuyện Nông Thị Ngác là một nghi vấn có nhiều khả năng xác thật để trả lời cho câu hỏi : AI LÀ MẸ CỦA NÔNG ĐỨC MẠNH vậy.

Nhan SF



Hồn Dân Tộc của Hồ Chí Minh?

 

Với chính sách tuyên truyền trong nước, Hồ Chí Minh được coi như “tuyệt vời,” vừa là người của quốc tế, vừa là người của dân tộc Việt Nam. Được như vậy th́ dù Đảng Cộng Sản Việt Nam đi theo chủ thuyết Marx Lenin Mao, thành lập nhà nước theo chế độ xă hội chủ nghĩa độc tài để tiến lên thiên đường cộng sản theo chỉ thị quốc tế cộng sản đề ra, Đảng cũng có thể gieo vào ḷng dân một thứ “chính nghĩa” nào đó. Không những Đảng gồm một tập đoàn dày công đánh bóng lănh tụ một cách tinh vi, mà chính đảng trưởng Hồ Chí Minh cũng tự tâng bốc ḿnh. Trong nhiều bài viết trên các sách báo của Đảng, ngoài những giáo điều học từ các ông tổ cộng sản ở các nước khác, họ lại đệm thêm một số ư niệm về tổ quốc và dân tộc.

 

Tổ quốc của Hồ Chí Minh ở đâu?

 

T. Lan, bút danh của Hồ Chí Minh, trong “Vừa Đi Đường Vừa Kể Chuyện” xuất bản đầu tiên 1963 như sách ghi, và tái xuất bản 1994, 1999, có một chương tựa là “Tổ Quốc Cách Mạng.”

 

Vào đầu tháng 5, 1927, Hồ Chí Minh bị quân Tưởng Giới Thạch ruồng bắt tại Quảng Châu, ông ta phải chạy qua Hương Cảng (Hong Kong). Tại đây Hồ cũng bị mật thám Anh làm khó khăn, ông phải chạy qua Thượng Hải (Shanghai). Tại Thượng Hải ông cũng bị phe Quốc Dân Đảng của Tưởng theo dơi.

 

T. Lan viết (trang 36): “Chỉ c̣n một cách là chạy về Tổ quốc cách mạng - chạy về Liên Xô.”  Đấy là tâm thức của Hồ Chí Minh. Ông đi làm cách mạng để phụng sự cho tổ quốc và tổ quốc đó chính là Liên Sô.

  

Sau 30 năm bôn ba hoạt động cùng phe quốc tế cộng sản, Hồ Chí Minh trở về Việt Nam. Ngồi tại mảnh đất quê hương, nhưng xúc động của ông dồn về “tổ quốc cách mạng” qua bài thơ:

 

Non xa xa nước xa xa

Nào phải thênh thang mới gọi là

Đây suối Lê Nin, kia núi Mác

Hai tay xây dựng một sơn hà

 

Đang ở tại đất Cao Bằng, nhưng non nước của ông Hồ th́ xa xa...( ở tận Liên Sô). Nhưng dù là xôi xôi thênh thang, ông cũng có thể nhớ non nước ấy qua gịng suối tại Việt Nam mà ông đặt tên là Lê Nin, và một núi ông đặt tên là Mác. Dựa vào “hồn thiêng của tổ quốc cách mạng” ông Hồ quyết tâm “xây dựng” một Việt Nam cộng sản và ông hănh diện trở thành một Lenin hay Stalin của Việt Nam, một Mao của Việt Nam. Đảng Cộng Sản Việt Nam từ thời Hồ Chí Minh c̣n sống cũng như sau này ví Mao là mặt trời, là cưú tinh, là ngôi sao sáng nhất, là cây đại thụ, là ngọn hải đăng... Đại loại đó là những ǵ nói lên tâm hướng của Hồ Chí Minh.

 

Phong cách văn hoá của Hồ Chí Minh

 

Người ta thường cho rằng văn là người. Hồ Chí Minh viết rất nhiều, nhất là thể loại kể chuyện. Năm 1960, ông Hồ bỗng nhiên trở thành một nhà thơ hay dựa vào những bài thơ cho rằng ông đă sáng tác trong tù. Năm 1990, Đảng lại cho ông Hồ thêm một danh hiệu mới “ danh nhân văn hoá thế giới”  sau khi UNESCO từ chối không chấp nhận cứu xét đơn đề nghị.  Sau vụ này, một số học giả hải ngoại đă đưa ra nhiều tài liệu chứng minh Hồ Chí Minh không phải là tác giả của Ngục Trung Nhật Kư. Bất chấp sự thật và do thông tin một chiều, Đảng vẫn dựa vào giá trị của tập thơ tù này để đưa  nhân cách ông Hồ lên cao, cố t́nh hạ thấp thành phần trí thức miền Bắc mà giữa thập niên 50 giai đoạn văn nghệ sĩ bị trù dập nặng nề.

 

Thơ trong Ngục Trung Nhật Kư thể hiện nhân cách của một cá nhân nào đó có tâm linh, không thể là một người cộng sản vô thần suốt đời đeo đuổi đấu tranh v́ thù hận. Học giả Lê Hữu Mục đă chứng minh đó là Già Lư, người ở cùng tù với Hồ Chí Minh từ 1931-1933 tại Hong Kong. Có hai tư tưởng, hai nhân cách con người trong tập thơ. Một trong số ít bài thơ thật của ông Hồ:

 

Đau khổ chi bằng mất tự do

Đến buồn đi ỉa cũng không cho

Cửa tù khi mở không đau bụng

Đau bụng th́ không mở cửa tù

(Bị hạn chế)

 

Những trang sau của cuốn Ngục Trung Nhật Kư có phần định  nghĩa “văn hóa” của Hồ Chí Minh:


V́ lẽ sinh tồn cũng như mục đích của cuộc sống, loài người mới sáng tạo và phát minh ra ngôn ngữ, chữ viết, đạo đức, pháp luật, khoa học, tôn giáo, văn học, nghệ thuật, những công cụ sinh hoạt hàng ngày về mặc, ăn ở và các phương thức sử dụng. Toàn bộ những sáng tạo và phát minh đó tức là văn hóa. Văn hóa là sự tổng hợp của mọi phương thức sinh hoạt cùng với biểu hiện của nó mà loài người đă sản sinh ra nhằm thích ứng những nhu cầu đời sống và đ̣i hỏi của sự sinh tồn.

 

Định nghĩa trên đúng hay sai, xin nhường lại cho người đọc, nhưng người viết dựa theo tinh thần này để đưa ra nhận xét về tâm thức của ông Hồ. Theo định nghĩa này, văn hoá là sự tổng hợp của mọi phương thức sinh hoạt...Nhưng tại sao Hồ Chí Minh đưa ra tất cả chỉ thiếu vai tṛ chính trị trong sinh hoạt của văn hoá?  Như vậy là thế nào?  Nếu ông Hồ cho rằng mọi sinh hoạt đều đóng khung trong văn hoá ngoại trừ "chính trị", như vậy tại sao Đảng chủ trương lănh đạo cả văn học nghệ thuật miền Bắc, và sau này là trong Nam? Văn nghệ sĩ, thi sĩ, nhà báo đều phải viết theo lệnh Đảng? Tôn giáo cũng bị Đảng nhảy vào lănh đạo, mà tôn giáo là một bộ mặt quan trọng của văn hoá Việt Nam.

 

Lư do Hồ Chí Minh dị ứng với với hai chữ “chính trị”  khi đề cập tới văn hoá, bởi v́ nếu ông bao gồm chính trị th́ hoá ra ông là một người vô văn hoá. Cũng có thể nói văn hóa của Hồ là những ǵ tồi tệ nhất mà nhân loại văn minh loại trừ. Văn hóa của một dân tộc nói chung không có nghĩa là hoàn toàn tốt đẹp, có khi dân tộc này cho là hay mà dân tộc khác lại lên án.

 

Cả đời ông hoạt động chính trị theo chủ thuyết nước ngoài là Marx Lenin Mao, phục vụ theo chỉ thị đàn anh quốc tế cộng sản, nhất nhất chuyện ǵ ông cũng đều phải nghe theo lệnh của cấp trên. Thừa lệnh của Stalin và Mao, ông Hồ đă ra tay giết hằng trăm ngàn đồng bào miền Bắc trong chiến thuật Cải Cách Ruộng Đất giữa thập niên 1950. Tội giết hàng ngàn đồng bào trong Tết Mậu Thân 1968 khi ông ra lệnh tổng xâm lăng hơn 40 tỉnh với quyết tâm nhuộm đỏ cả miền Nam để dâng cho cộng đảng Nga Tàu càng sớm càng tốt. Đó là chưa kể những hậu quả khốc hại sau khi Hồ phóng ra cuộc chiến tranh tương tàn làm chết hằng triệu đồng bào của ông. Những hành động đó không thể hiện một người Việt Nam có văn hóa, có phong tục Việt Nam hay đạo đức làm người. Di sản của Hồ Chí Minh là Đảng Cộng Sản Việt Nam và ngày nay họ sẵn sàng dâng đất nhượng biển cho Trung Cộng, ngoan ngoăn làm tay sai đắc lực như ông Hồ ngày xưa đă từng làm.

 

Ít nhất hai năm trước khi qua đời, Hồ Chí Minh đă sửa soạn làm lăng tẩm cho chính ḿnh giống như Lenin. Tài liệu đă cho thấy đầy đủ để chứng minh cho ư đồ đó. Tác giả Hoàng Quốc Kỳ, một “cận thần” của Hồ Chí Minh nhiều năm đă tiết lộ bí mật này trong “Ma Đầu Hồ Chí Minh.”  (xin xem thêm tài liệu, search for: KHÔNG NÊN ĐỂ CÁI XÁC KHÔ GIỮA HÀ NỘI, tác giả Nhàn SF) Nhưng Hồ Chí Minh vẫn phải viết di chúc, Đảng phải bị mang tiếng là làm “trái ư” lănh tụ. 

              

Đến gần chết phong cách một người vong bản vẫn không thay đổi. Hăy nhận xét một cách tổng quát di chúc của Hồ Chí Minh, mặc dù theo Hoàng Quốc Kỳ, di chúc này chỉ là một cách để lừa dân. Có văn hoá Việt Nam không? Ông Hồ đă cố t́nh vặn vẹo, sửa cách viết của tiếng Việt Nam: D thành Z, PH thành F, v.v.. Gần nhắm mắt xuôi tay ông lại "hữu thần" qua những gịng trong di chúc “... f̣ng khi tôi sẽ đi gặp cụ Mao Mác, cụ Lenin và các vị cách mạng đàn anh khác...” mà không là Hùng Vương hay Trần Hưng Đạo. Những năm cuối đời, có lẽ Mao ảnh hưởng sâu đậm nhất trong tâm tư của ông Hồ.

                      

Nếu Hồ Chí Minh có ư hướng về tổ quốc, về  quốc gia dân tộc th́ những suy nghĩ đó ông ta đặt ở đâu? Trước giờ phút hồn ĺa khỏi xác, ông c̣n yêu cầu được nghe một bản nhạc Tàu và Đảng đă phải mang tới một cô người Tàu hát cho ông nghe.

 

Ông Hồ đă thể hiện rơ rệt bản chất vong bản, vô văn hoá kể từ thời trẻ cho đến lúc sắp lià đời. Nhiều mỹ từ dành cho ông Hồ như: B́nh luận về văn học qua tác giả và tác phẩm của Hồ  Chí Minh, Hồ Chí Minh Hồn Dân Tộc, v.v..Những sáo ngữ và kỹ thuật tuyên truyền xét ra không phải Đảng “sáng kiến”  có như vậy cũng theo gương lănh tụ trước đó.

 

Tóm lại, những đ̣n phép của Đảng không ngoài mục đích nhồi sọ, ngu dân, tôn thờ lănh tụ một cách tuyệt đối để Đảng dễ dàng tiếp tục cai trị. Sau ngày cộng sản Đông Âu và Liên Sô sụp đổ, vị trí ông Hồ được điều chỉnh để có thêm "tư tưởng," “hồn dân tộc” và c̣n nhiều “sáng tạo” ma mănh xung quanh nhân vật lănh tụ này. Hồ Chí Minh là sức sống tinh thần của Đảng, là lá bùa, là cái phao để Đảng dựa vào.

 

Bút Sử

8/2009


Một Chuỗi Dài Làm Tay Sai kể từ 19.8.1945

 

Khi thế chiến thứ hai bùng nổ, t́nh h́nh chính trị tại Việt Nam thay đổi không ngờ - sự  xuất hiện của Nhật Bản. Nhật đă đến Đông Dương, sau đó đảo chánh lật đổ Pháp rồi ra đi một cách nhanh chóng, để lại một khoảng trống chính trị bất ngờ, tạo cơ hội thuận tiện cho cuộc nổi dậy của Việt Minh và tiếp theo họ cướp chính quyền.

 

Mốc điểm quan trọng 1945

 

Nhật dần dần thất bại trước sức mạnh của phe Đồng Minh đứng đầu gồm Mỹ, Anh, Nga, Pháp. Lo sợ Pháp mở cửa cho quân đội Đồng Minh đổ bộ vào Đông Dương nên Nhật quyết định ra tay trước. Nhật đảo chánh Pháp làm chủ t́nh h́nh Đông Dương ngày 9 tháng 3, 1945.

 

 Chính phủ Trần Trọng Kim

 

Ngày hôm sau 10 tháng 3, 1945, cố vấn Nhật là Yokohama đến gặp vua Bảo Đại cho biết người Nhật quyết định trao trả độc lập cho Việt Nam để cùng nhau lập khối Đại Đông Á. Bảo Đại chấp thuận. Ngày 11 tháng 3, 1945 nhà vua xé hoà ước 1884, tuyên bố Việt Nam Độc Lập và gia nhập khối Đại Đông Á. Ngày 19 tháng 3, 1945 toàn thể nhân viên trong chính phủ Nam triều của Phạm Quỳnh từ chức. Bảo Đại kêu gọi nhân tài ra giúp nước. Cụ Trần Trọng Kim được mời  từ Thái Lan về thành lập chính phủ ngày 17 tháng 4, 1945. (Ban Giáo Khoa Sử Địa 12ab, nhà Xuất Bản Trường Thi, Saigon, 1974, trang 70)

 

Chính phủ gồm những nhà trí thức và chuyên viên: Trần Trọng Kim (Thủ Tướng), Trần Văn Chương (Ngọai Giao), Trần Đ́nh Nam (Nội Vụ), Trịnh Đ́nh Thảo (Tư Pháp, sau mới biết phe Việt Minh), Hoàng Xuân Hăn (Giáo Dục), Vũ Văn Hiền (Tài Chánh), Phan Anh (Thanh Niên), Lưu Văn Lang (Công Chánh, ở Sá g̣n, không nhận chức), Vũ Ngọc Anh (Y Tế), Hồ Tá Khanh (Kinh Tế), Nguyễn Hữu Trí (Tiếp Tế).

 

Theo tài liệu lịch sử trên, chính phủ Trần Trọng Kim đă sửa đổi phương cách hành chánh để phù hợp với t́nh h́nh lúc đó. Ông đă điều chỉnh và hợp nhất hai chính quyền bảo hộ và Nam triều. Ông đă thay thế công chức Pháp bằng công chức Việt, ra lệnh cho dạy tiếng Việt tại các trường trung và tiểu học. Chương tŕnh của chính phủ gồm luôn việc xúc tiến thống nhất pháp luật ba kỳ để tránh lạm quyền về hành chánh và tư pháp, tổ chức những đoàn thanh niên tiền phong, chiến dịch chống nạn đói v.v..

 

Việc làm và kế hoạch đang tiến hành; tuy nhiên chính phủ gặp trở ngại v́ Nhật sắp bại trận và việc này ảnh hưởng tới sự điều hành của chính phủ. Nhật đầu hàng Đồng Minh ngày 16 tháng 8, 1945, sau vụ Mỹ thả bom nguyên tử tại Hiroshima ngày 6 tháng 8, 1945 và sau đó 3 ngày tại Nagasaki. Nhật trao phủ Toàn Quyền và các cơ quan hành chánh cho Khâm Sai Phan Kế Toại.

 

                                                                     

Ngày 17 tháng 8, 1945, Tổng Hội Công Chức họp mít tinh đ̣i Nhật trả độc lập thật sự trước nhà hát lớn ở Hà Nội. Trong khi các diễn giả hô hào dân chúng, các phần tử Việt Minh hạ cờ chính phủ Trần Trọng Kim, kêu gọi dân chúng ủng hộ mặt trận, biểu t́nh tuần hành. Ngày 19 tháng 8, 1945, cũng tại công trường nhà hát lớn, một cuộc biểu t́nh vĩ đại được Việt Minh tổ chức. Ngày hôm sau, Việt Minh chiếm cứ các công sở. (Sử Đia 12ab,trang 74)

 

Như vậy đă rơ, ngày 17 tháng 8, 1945, Việt Minh chỉ lai rai một nhóm nhỏ nhào vô bên trong nhà hát lớn hạ cờ vàng ba sọc đỏ (Cớ Quẻ Ly).  Hai ngày sau, 19 tháng 8, Việt Minh huy động dân chúng, hô hào “đuổi Pháp chống Nhật,” nhưng thật ra th́ Tổng Hội Công Chức là nhóm tiên phong làm buổi mít tinh, Việt Minh nhảy vào cướp công và cướp luôn chính quyền.

 

Nếu Việt Minh là thành phần quốc gia thật sự muốn đóng góp vào việc xây dựng đất nước th́ đă hợp tác với chính phủ Trần Trọng Kim. Việc thành lập chính phủ này là một bước đầu tiên để thay thế thể chế quân chủ sang quân chủ lập hiến, cũng giống như Nhật, Anh, Thái Lan và một số nước khác. Bằng chứng là  từ 1947 đă có Giải Pháp Bảo Đại, cựu hoàng Bảo Đại đă trở thành Quốc Trưởng Bảo Đại 1949, không phải vua Bảo Đại. Pháp lúc này không phải Pháp thực dân mà Pháp đương đầu với làn sóng đỏ của cộng sản.

 

                                                

  (Nguồn h́nh trên từ "Con Rồng Việt Nam." Dân chúng Saigon mít tinh, 1947, yêu cầu vua Bảo Đại trở lại chấp chinh. Hàng ngàn người với một rừng biểu ngữ qua các hàng chữ: Toàn Dân Việt Nam....Sức Mạnh Quốc Gia...Độc Lập Tự Do...)

 

Vua Bảo Đại đă tuyên bố Việt Nam Độc Lập, đă có chính phủ, hoà ước 1884 giữa Pháp và Việt Nam đă được xé trước quốc dân. Pháp đă ra đi, Nhật đă đầu hàng Đồng Minh cũng đă ra đi. Mọi việc coi như thuận lợi vô cùng cho việc củng cố t́nh h́nh chính trị, kinh tế, học đường, v.v...Hơn nữa và không kém quan trọng, sau khi thế chiến thứ hai kết thúc, tổng thống Hoa Kỳ Truman đă theo chính sách của cố tổng thống Roosevelt đề nghị thiết lập tại Đông Dương một chế độ giám hộ quốc tế để đi đến việc trao trả độc lập hoàn toàn cho Việt, Miên, Lào. Vào 1946 th́ coi như tất cả các nước trên thế giới bị chính sách thuộc địa của Anh, Pháp, Tây Ban Nha...đă được trả lại độc lập. Chính phủ Pháp lănh đạo bởi Felix Gouin, thuộc Đảng Xă Hội, trở về Việt Nam qua Hiệp Ước Sơ Bộ ngày 6 tháng 3, 1946 với vai tṛ tiếp trợ Hồ Chí Minh, không phải thực dân.

 

 Trở lại tháng 3, 1945. Đây là một cơ hội mà hàng trăm năm toàn dân mong muốn, thế nhưng âm mưu cướp chính quyền đă có trong năo trạng của tập đoàn cộng sản lănh đạo bởi Hồ Chí Minh từ ngày ông trở lại Việt Nam sau 30 năm hoạt động trong khối quốc tế cộng sản. Hồ Chí Minh đă được huấn luyện làm thế nào để cưóp chính quyền, phải tạo ra phong trào yêu nước mang nhăn hiệu “quốc gia.” Vấn đề ở đây là đa số người dân khi ủng hộ Việt Minh đă không biết rằng đó là bưóc đầu của một chế độ độc tài sắc máu, khi leo lên lưng cọp rồi th́ không dám nhảy xuống. Một số khác th́ theo cộng sản v́ tin vào chủ thuyết một cách mù quáng, coi đó như lư tưởng. Đại đa số dân chúng lại mù chữ, như  ông Hồ đă từng nói mù chữ đến 95%, th́ làm sao biết cộng sản là ǵ, họ lại bị cuốn theo làn sóng tuyên truyền gieo rắc ḷng ganh ghét, thù hận giữa giai cấp giàu và nghèo trong xă hội.

 

Thời nay tâm lư trên không c̣n nữa. Tâm trạng của mỗi nhóm người đă thay đổi. Nói chung th́ tất cả đă biết ra sự thật về tội ác mà Hồ Chí Minh đă làm đối với dân tộc và đất nước, về việc phản bội tổ quốc của tập đoàn trong bộ chính trị. Tuy thế, Đảng vẫn phải cố nặn ra h́nh tượng Hồ với bao mỹ từ cao đẹp, tôn thờ ông ta một cách tuyệt đối. Dù không nói ra, nhưng ai cũng biết Đảng dùng Hồ Chí Minh như lá bùa hộ mạng, như cái phao. Người ta thấy nhiều phong trào chống đối Đảng và nhà nước, nhưng tại sao chưa có một biến động ǵ làm thay đổi cuộc diện? Vấn đề này đă và đang có nhiều nhận định và phân tích trước nay.

 

Ngày 19 tháng 8, 1945, là ngày cộng sản miền Bắc từng hô hào là “ngày ta cướp chính quyền” th́ ngay việc tuyên bố như vậy đă cho thấy họ không có chính nghĩa và lộ ra những giáo điều căn bản mà Hồ Chí Minh đă thu nhận được từ thuyết Marx Lenin. Bạo động để cướp chính quyền. Bạo động là một trong năm nguyên tắc căn bản của học thuyết cộng sản mà chắc chắn Hồ Chí Minh đă nằm ḷng và áp dụng nó một cách triệt để.

 

Violence and force are the only means of achieving basic social change. Marx argued that basic changes in society can be brougtht about only through force and violence, and not through peaceful, constitutional means. (Two Ways of Life- Communist challenge to Democracy- page 95) – Bạo động và vũ lực là phương cách duy nhất cho việc thực hiện sự thay đổi xă hội một cách căn bản. Marx biện luận rằng những thay đổi căn bản trong xă hội có thể xảy ra chỉ bằng vũ lực và bạo động, không phải qua cách thức ḥa b́nh hay lập hiến. Một cuốn sách đă được dùng trong các trường trung học tại Hoa Kỳ trong thời chiến tranh lạnh.

 

Sau khi cướp chính quyền rồi, nước cộng sản đàn em đứng trong vị thế nào? Họ có làm chủ được đất nước ḿnh hay không? Việt Nam có thực sự độc lập không? Cưỡng chiếm bằng vũ lực xong miền Nam 4/1975, không bao lâu, Việt cộng răm rắp thi hành mệnh lệnh từ đàn anh Liên Sô, tấn công Campuchia với mộng nhuộm đỏ luôn Đông Dương. Lănh đạo Việt cộng đă nướng và chôn hơn 50 ngàn bộ đội miền Nam để dâng cho đàn anh Liên Sô vĩ đại. Thế rồi theo thời gian làn sóng đỏ đă không được lan dần mà c̣n bị tan ră. Nay c̣n lại đàn anh môi hở răng lạnh Trung cộng, sống c̣n như một đảng mafia đỏ, Việt cộng dựa vào đó để nương thân, nuôi mafia đỏ Việt Nam.

 

Sự nô lệ này thật ra cũng nằm trong nguyên tắc của Lenin đă đề ra từ trước. Nó đă là một cái lệ mà Đảng Cộng Sản Việt Nam đă và đang theo một cách đều đặn, dù đi theo đàn anh Nga hay Tàu, Đảng cũng vẫn mang tâm thức đó.

 

He was convinced that workers lacked the capacity to think and act effectively for themselves; therefore they must follow the leadership of a small, elite group, the Communist party. (Two ways of Life, page 95) – Ông ta (Lenin), đă tin tưởng rằng những người hoạt động thiếu hẳn khả năng để suy nghĩ và hành động một cách hiệu quả cho chính họ, do đó họ phải tuân theo lănh đạo của một nhóm nhỏ, nhóm tối ưu, đó là Đảng Cộng Sản.

 

 Đấy, chính ông thầy vĩ đại của cộng sản đàn em cho rằng những người hoạt động ở cấp dưới như Hồ không đủ khả năng suy nghĩ để làm việc có hiệu quả, nên bắt buộc phải nghe theo đàn anh. Thêm nữa, Stalin cũng đă gọi Hồ Chí Minh là “a communist troglodyte” - một tên cộng sản ngu dốt như người tiền sử. Những người cộng sản lănh đạo của Hồ xem Hồ chỉ là kẻ thừa hành, chỉ biết thực thi lệnh cấp trên. Hồ Chí Minh và tập đoàn đă từng viết, từng ngạo mạn trong hằng ngàn cuốn sách ở Việt Nam rằng “Lenin là cẩm nang thần kỳ, ánh sáng chiếu rọi, Mao là mặt trời, là cứu tinh, là cây đại thụ, là ngọn hải đăng...” Dù bị khinh thường là kẻ vô tri thức, chỉ biết thừa hành nhưng Hồ Chí Minh và tập đoàn vẫn bằng ḷng chấp nhận và sẵn sàng tuân thủ cấp trên.

 

Cấp trên ngày nay chính là Trung Cộng. Chuỗi dài những hiện tượng xảy ra từ ngày cộng sản cướp chính quyền 17 tháng 8, 1945, đến việc chia đôi đất nước, việc thực hiện chiến thuật Cải Cách Ruộng Đất, tạo ra cuộc chiến tranh tương tàn làm hằng triệu dân Việt mất mạng, tổng tấn công năm Mậu Thân, xâm lăng Campuchia, dâng hai đảo Hoàng Sa và Trường Sa cùng đất và biển cho Trung Cộng, đặc quyền kinh tế cho Trung Cộng v.v..., tất cả chỉ là cung cách nô lệ, làm tay sai một cách ngoan ngoăn và đắc lực, thực thi tất cả những ǵ đàn anh đề ra.

 

Ư thức rồi mới hành động. Nếu tuổi trẻ, lứa tuổi làm thay đổi cuộc diện trong nước, không biết hết sự thật và vẫn bị nhồi nhét những điều tuyên truyền xuyên tạc th́ việc trông chờ vẫn c̣n đó. T́m hiểu lịch sử một cách trung thực, ghi nhận, ghi lại những biến cố, hiện tượng, ngày tháng xảy ra, tên họ những ai làm ǵ, đối chiếu với những tài liệu khác, đó có phải là việc làm cần thiết mà thế hệ trung niên nên bắt tay vào. Thời hậu cộng sản, cả một hệ thống sẽ được thay thế. Một chuỗi dài những hành động bán nước hại dân, sẵn sàng làm chuyện phản quốc miễn sao quyền lợi ăn trên ngồi trước được bảo vệ lại được suy tôn là những nhà lănh đạo, cai trị đất nước măi sao?

 

Cái nôi Liên Sô sụp đổ sau hơn 70 năm cai trị, cộng sản độc tài tại Việt Nam đă trải qua hơn 34 năm trên toàn cơi đất nước. Ngày ấy sẽ đến, lâu hay mau tùy vào sự vận dụng của toàn dân trong và ngoài nước. 

 

Bút Sử

8/2009


UNESCO và vụ vinh danh HCM

 



UNESCO (United Nations Educational, Scientific, and Cultural Organization,) trụ sở chính tại Paris, Pháp, là một cơ quan của Liên Hiệp Quốc lo về lănh vực liên hệ tới học vấn, khoa học, và văn hoá. Năm 1987, Cộng Sản Việt Nam , đại diện là cán bộ Vơ Đông Giang đệ đơn lên UNESCO xin đề nghị tên tuổi Hồ Chí Minh vào danh sách "Các Danh Nhân Văn Hoá Thế Giới," và xin được làm lễ vinh danh vào ngày sinh nhật 100 tuổi của Hồ Chí Minh, 19/5/1990. UNESCO nhận đơn và định đưa ra một tài khoản cho Hà Nội để tổ chức buổi lễ công bố Hồ Chí Minh vào danh sách nếu xem ra ông Hồ xứng đáng. Nên ghi nhận là trong danh sách 6 người của thế giới th́ Hồ Chí Minh là người duy nhất được cộng sản yêu cầu, không phải được mời, nằm trong danh sách. Trong khi bàn luận đi đến quyết định th́ UNESCO bị phản ứng mạnh mẽ, nhất là khối người Việt tỵ nạn cộng sản tại Pháp và các nơi trên thế giới bắt đầu từ 1988.

Tại trước trụ sở UNESCO đă có những cuộc biểu t́nh, có khi lên đến cả ngàn người yêu cầu cơ quan hủy bỏ chương tŕnh đề nghị này. Các tổ chức, hội đoàn, cá nhân khắp nơi đă đưa ra những bằng chứng về tội ác của Hồ Chí Minh: Cải Cách Ruộng Đất, Thảm Sát Mậu Thân v.v....Sau hiện tượng này, tháng 11, 1990, học giả Lê Hữu Mục đă cho ra một cuốn sách tựa "Hồ Chí Minh Không Phải là Tác Giả Ngục Trung Nhật Kư" Tác giả đă chứng minh và phân tích tỉ mỉ để đưa đến kết luận Hồ Chí Minh hoặc nhóm ban biên tập của Đảng đă thủ đoạn đạo thơ của một người Tàu, ông là tác giả thật của Ngục Trung Nhật Kư và cũng một thời bị tù tại Hongkong....

Thời điểm này cũng là lúc thế giới đang nh́n các quốc gia cộng sản đang trên đà nghiêng ngả .. . Hơn nữa, 1987 -1990 là giai đoạn mà thế giới c̣n đang kinh hoàng về "thảm trạng thuyền nhân" - tại các trại tỵ nạn ở Đông Nam Á, số người bị oan không được thanh lọc để được đi tỵ nạn càng lúc càng nhiều, một số đă tự sát chứ không chịu trở về Việt Nam sống dưới chế độ độc tài. Nói chung có ít nhất hơn nửa triệu mạng người đă chết trên biển đông v́ t́m đường tự do, tính từ sau thời điểm 1975, theo tài liệu Liên Hiệp Quốc. Đó cũng để cho cơ quan UNESCO thấy rằng tội ác này do ai gây ra? Chế độ phi nhân này nguyên do chính vẫn là Hồ Chí Minh.

Một tài liệu chắc chắn được các tổ chức và cá nhân trong cộng đồng tỵ nạn đệ tŕnh UNESCO là việc Hồ Chí Minh lấy bút danh Trần Dân Tiên tự ca ngợi cá nhân ḿnh. Năm 1985, văn công (chuyên nghề viết sách đánh bóng ông Hồ và Đảng) Hà Minh Đức viết cuốn “Tác Phẩm Văn của Chủ Tịch Hồ Chí Minh.” Trong đó tác giả Hà Minh Đức đă tiết lộ Trần Dân Tiên, tác giả “Những Mẩu Chuyện Về Đời Hoạt Động của Hồ Chủ Tịch” chính là Hồ Chí Minh. Sách “Những Mẩu Chuyện...” này, xuất bản 1948, đă được dịch ra nhiều thứ tiếng mà ngay cả các nhà viết sử cận đại của thế giới cũng dựa vào. Đó là một điều đáng tiếc v́ họ đă không biết thủ đoạn của ông Hồ.

Một hiện tượng rất quan trọng trong giai đoạn này là sự sụp đổ của khối cộng sản Đông Âu và bức tường Bá Linh. Trong nội bộ UNESCO có thành phần theo cánh tả vận động, nhưng cuối cùng th́ UNESCO đă quyết định hủy bỏ việc cứu xét Hồ Chí Minh có phải là danh nhân văn hoá thế giới hay không. Ngày 12/5/1990, Toà Đại Sứ Cộng Sản tại Pháp thuê một pḥng tại trụ sở UNESCO để tổ chức một buổi lễ trong nội bộ, gồm khoảng 70 "Việt Kiều Yêu Nước" và một số nhân viên Toà Đại Sứ Việt Cộng. Theo tài liệu trong bài viết “ Trả Lại Sự Thật Cho Lịch Sử” của Đại Dương, UNESCO không cho phép nhóm cộng sản này nhắc nhở đến tên “Hồ Chí Minh.” Thiệp mời có in h́nh Hồ họ phải đi làm lại. Lê Đức Thọ đang dưỡng bệnh tại Paris đến dự buổi họp bỏ tuí này rồi h́nh được mang về nước khoe là “Bác Hồ” đă được vinh danh là danh nhân văn hoá thế giới.

Không ngừng ở đó, sau vụ thất bại tại Pháp, một cán bộ khác tên Nguyễn Tiến Hữu tổ chức một buổi “vinh danh” tại Đức, cũng cố tuyên truyền cho là Hồ Chí Minh đă được Uỷ Ban về Văn Hoá của Liên Hiệp Quốc vinh danh.

Việc tuyên truyền Hồ Chí Minh là danh nhân văn hoá thế giới tới nay, năm 2009, vẫn c̣n tiếp diễn tại Việt Nam. Người ta tự hỏi: nếu Hồ Chí Minh được UNESCO vinh danh th́ tại sao Đảng và Nhà Nước Cộng Sản không tổ chức lễ tiếp nhận văn bản từ UNESCO, hay làm copy văn bản đó để phổ biến trên mạng lưới toàn cầu, hay in ra trên sách báo cho mọi người cùng thấy? Chuyện ǵ chứ nếu có văn bản công nhận thật th́ chắc chắn Đảng và Nhà Nước làm um sùm lên, từ hang cùng ngơ hẻm ai ai cũng phải biết tới. Chuyện không có làm thành có mà cộng sản c̣n tuyên truyền suốt ngày huống chi là chuyện có thật.

Bút Sử

Màu Sắc Chính Trị Trong Phim Mê Thảo

Chúng ta chắc đă một lần nghe qua một Trần Dần bị bỏ tù chỉ v́ chữ “Người” trong bài thơ “Nhất Định Thắng”: “ ...Ôi ! Xưa nay Người vẫn thiếu tin Người. Người vẫn thường kinh hoảng trước tương lai...”, một Hoàng Cầm với bài “Lá Diêu Bông” không thể hiện nặng mùi châm biếm lại được giới trẻ ưa chuộng như một tâm thức lăng mạn, cả đời đi t́m chiếc lá nhưng không bao giờ gặp. Trong vài thập niên gần đây, chúng ta nghe nhiều đến nhà viết kịch Lưu Quang Vũ và vợ con của ông đă bị nhà nước cộng sản sát hại bằng một tai nạn lưu thông chỉ v́ ông đă sáng tác ra “Hồn Trương Ba Da Hàng Thịt.”

 

Nói sơ qua như thế để thấy, sống dưới chế độ hà khắc cộng sản,  người ta không thể giải toả tâm tư của ḿnh một cách chân thật qua lời nói hay trên chữ nghĩa, mà phải dùng một dạng khác qua h́nh ảnh, đối thoại,  hay bối cảnh v.v..

 

Mê Thảo ra đời không b́nh thường như bao nhiêu phim khác, và có lẽ nhà đạo diễn nữ Việt Linh đă chọn con đường không bằng phẳng này trước khi dứt nghiệp với hăng phim “SGP” sau rất nhiều năm cộng tác.Bà phải nộp đơn xin nghỉ việc khá lâu trước khi chính thức được "cho phép" nghỉ. Phim ra đời 2002 sau 10 năm dài ra công thực hiện. Nhà nước cộng sản Việt Nam cấm không cho phép phim dự trong các chương tŕnh Liên Quan Phim Quốc Tế và cấm chiếu tại Việt Nam một năm đầu. Có tật giật ḿnh chăng? Sau đó vài năm th́  Mê Thảo được phép cho công chúng xem và  được thế giới ngợi khen, được 2 giải thưởng của Ư và Pháp, cũng như nhiều người nh́n nhận phim có giá trị nghệ thuật cao.

 

Nhận xét là của riêng từng cá nhân khi xem phim, nhưng đă có hiện tượng “Hồn Trương Ba Da Hàng Thịt” xảy ra ở Việt Nam trong chế độ kiềm kẹp nên chúng ta có quyền phân tách nếu thấy rằng phim có những ẩn khuất đằng sau. Hơn nữa, cộng sản nh́n phim với cặp mắt khác thường và nỗi lo sợ nên cấm chiếu. Khi được phép chiếu th́ có bị cắt đoạn nào không, và điều đó ra ngoài tầm hiểu biết của chúng ta.

 

Có quan niệm cho rằng đây là phim phóng tác từ tiểu thuyết Chùa Đàn của Nguyễn Tuân mà đă đi quá xa nội dung của tác giả, không thấy chỗ nào trong phim về cái không khí thần bí, quái rợn tại Chùa Đàn. Có người nhận xét Việt Linh đă biến nó thành một chuyện phim t́nh ái vô duyên. Lại có người thấy ra Mê Thảo ẩn chứa trạng thái tâm linh, triết lư Phật Giáo (nhóm Giao Điểm) v.v.. Người khen kẻ chê đó cũng là chuyện b́nh thường.

 

Ở đây chúng tôi xin tŕnh bày quan điểm của ḿnh qua khía cạnh lịch sử. Xem qua một lần không thể nhận biết hết những ẩn dụ trong phim mà đạo diễn đă xử dụng như:  năm, biểu tượng, lời nói, bối cảnh. Tất cả hàm chứa đầy màu sắc chính trị. Dĩ nhiên nghệ thuật không thể chứng minh như khoa học một cách hoàn toàn chính xác. Dừng lại ở một điểm nào đó để tŕnh bày hết mọi vấn đề th́ cái sáng tạo của con người chắc không c̣n nữa, mà hết sáng tạo là hết sức sống.

 

 Truyện ngắn Chùa Đàn ra đời năm 1946. Năm 1946 phải nói là năm vô cùng quan trọng trong lịch sử cận đại của đất nước Việt Nam. Hồ Chí Minh đă mang Pháp về hợp tác với mục đích bảo vệ quyền lợi của tập đoàn mà ông là lănh đạo qua Hiệp Ước Sơ Bộ ngày 6/3/1946.  Sau đó, 9/1946, hai bên trở thành thù địch khi nước Pháp đă không nương tay với  Hồ Chí Minh, một thành viên quan trọng thuộc khối Đệ Tam Quốc Tế Cộng Sản.

 

Nguyễn chủ ấp Mê Thảo khởi đầu phim mặc quần áo kiểu Tây phương, ăn chơi sang trọng. Phim hiện rơ cảnh trẻ em cầm lồng đèn ra đường chứng tỏ vào giai đoạn mùa thu 1946 trùng hợp với sử liệu ghi trên.  Ít ngày sau th́ người yêu của Nguyễn chết trên một chiếc xe do Pháp chế tạo nên Nguyễn đăm ra rối loạn và trở nên thù ghét Pháp. Người yêu của Nguyễn có tên là Út mà Nguyễn hay kêu tưởng nhớ rất nhiều lần trong phim. Út là ai? Út chưa bao giờ xuất hiện trong phim dù một cảnh quay cũ hai người có kỷ niệm với nhau. Nguyễn say mê đến độ tượng h́nh người yêu bằng khúc gỗ để ái ân. Không những hôn khúc gỗ Út mà c̣n âu yếm cả con chuột bạch đựng trong một hộp đỏ ḷm. Ông Nguyễn không thể hiện tâm thức yêu thương chân thật hay bằng tâm hồn lăng mạn, cũng không thấy đam mê rạo rực của t́nh yêu, mà thấy khí sắc máu, ích kỷ, hận thù, ẩn chứa một cái ǵ trong nội trạng mà ông chưa giải toả được.

 

Tên thật của Lenin là Vladimir Ilyich Ulyanov. Vậy có phải Út là cách đọc tắc của Ulyanov? C̣n con chuột? Nếu từ tiếng Nga Việt Linh cho ra tiếng Việt th́ cũng có thể từ tiếng Anh Mouse (chuột) thành tiếng Mao, đảng trưởng Trung Cộng?

 

Ông Tam v́ “hoàn cảnh” mà phải theo ông Nguyễn về làm cai quản ở ấp Mê Thảo. Ông chủ ấp Nguyễn hành hạ dân làng, tàn phá tất cả những ǵ có trước đó kể cả phong tục tập quán ngàn đời của tổ tiên để lại. Ông ra lệnh đốt kinh sách, và tất cả những ǵ gọi là văn minh. Một bà mẹ đang dệt vải than phiền “ Cơ khổ thế này buôn bán làm sao được, đi tới không muốn chỉ muốn lùi..” Một bà già khác chạy sau lưng các chú người làm của ông Nguyễn la to đ̣i lại đồ vật thờ cúng “Ối trời ơi, các chú ơi, nhà tôi có mỗi bộ đồ thờ để cúng ông bà...” Một ông cụ nói “Này chú coi, sách này có phải sách Tây Tàu ǵ đâu...” Một ông đang cuốc đất chôn rượu than: “Cứ nước này chẳng bao lâu nữa, Mê Thảo sẽ trở thành nghĩa địa bao la...Nhiều người đă bỏ đi...Ai đời đang buổi văn minh lại kéo nhau về thời xưa cổ...” Ông Tam: “Nhưng cậu chủ có nỗi niềm riêng!” “Đành thế, nhưng đừng đem nỗi riêng đổ trên vai ngựi khác...”  Một ông cụ khác than với ông Tam: “Từng này tuổi tôi chưa thấy ai quay ngược bánh xe mà trường tồn được.”

 

Chỉ có chủ nghĩa cộng sản mới chủ trương giật lùi, ngu dân. Dẹp bỏ bàn thờ nằm trong chính sách vô tôn giáo. Đốt hết sách vở có giá trị để thay thế bằng những sách dạy những giáo điều không tưởng, những tư tưởng sáo rỗng. Đi ngược lại hết văn hoá và văn minh nhân loại th́ không thể tồn tại lâu dài mà chứng minh hùng hồn nhất là cộng sản Đông Âu và Liên Sô đă sụp đổ.

 

Ông Tam cũng đă phải thét “Ông nhân danh t́nh yêu mà làm hại biết bao nhiêu người!” T́nh yêu của ông Nguyễn ở đây chính là chủ thuyết Lenin mà hằng triệu cuốn sách của Đảng là bằng chứng. Ông Nguyễn này chính là Nguyễn Tất Thành, Nguyễn Ái Quốc và 1946 cũng là Nguyễn với tên giả khác là Hồ Chí Minh. Chỉ có Hồ Chí Minh mới nhân danh chủ nghĩa cộng sản và cài đặt vào đầu vào cổ dân tộc Việt Nam những điều ngoại lai vong bản, nhân danh chủ nghĩa Marx Lenin để tự tung tự tác, độc tài toàn trị . Trong lịch sử gần năm ngàn năm, chưa một nhân vật lănh đạo nào “nhân danh t́nh yêu” có phải vậy không? Phim lăng mạn hay ái dục không thể có thứ “ngôn ngữ chính trị” như thế.

 

Em chưa nh́n được món quà cưới của ta kia mà? Nàng không thể chết!”  Thật vậy, Hồ Chí Minh đang trong khí thế bừng bừng làm bằng mọi giá tiến lên “xă hội chủ nghĩa.” Món quà cưới đó có phải là mảnh đất Việt Nam bị nhuộm đỏ để dâng cho quốc tế cộng sản?  Chủ nghĩa cộng sản không thể chết trong lúc này, sau lưng ông c̣n cả khối cộng sản Liên Sô và Mao. Sau thế chiến thứ hai, cộng sản và quốc gia tách rời trong thế cộng sản bành trướng càng lúc càng mạnh bạo.

 

Với nét mặt hung tợn, một cách nhanh chóng, Nguyễn vươn súng bắn con búp bê nằm trong đống đồ vật sắp đốt tíc tắc sau khi cô Câm tḥ tay muốn lấy. Trẻ con khóc la um sùm. H́nh ảnh đó cho thấy cái vô cùng ác của ông Nguyễn, con búp bê là món đồ chơi dễ thương mà ông c̣n nhẫn tâm đến thế. Ông bắt dân làng nộp hết thóc gạo, trâu ḅ, tất cả những ǵ có đều mang ra khai báo. Đó là nằm trong những ǵ mà chủ nghĩa Lenin đề ra khi áp dụng “cách mạng” nghĩa là thay đổi tất cả những ǵ đă có trước đó, mọi người đều nghèo ngang nhau, đem tài sản, của riêng dâng cho "hợp tác xă." Bởi vậy ông Nguyễn Chí Thiện có thơ rằng “...bàn tay thực dân hoá ra êm ả” khi sống dưới chế độ của “chủ tịch Hồ Chí Minh.”

 

Đến 1946 phải ghi nhận Hồ Chí Minh đă hoạt động theo đường lối cộng sản  hơn 26 năm. Ông đă từng được huấn luyện ở Nga trong trường Đảng và say mê chủ thuyết Marx Lenin, đến nỗi các đồng chí nước ngoài cũng phải cho ông cái danh là “saint” of communism, c̣n nghĩa đen Stalin gọi Hồ là “a communist troglodyte.” Lúc  này ông thấm nhuần và quyết theo mục tiêu đă đề ra. Ở Pháp vào tháng 9/1946, trước khi về Việt Nam, Hồ Chí Minh đă tuyên bố với Jean Sainteny và Marius Moutet: “Nếu các ông đánh th́ chúng tôi chấp nhận đánh, nhưng các ông giết chúng tôi 10, chúng tôi giết các ông 1, và cuối cùng các ông là những người mệt mỏi...” Điều này cho thấy bản chất tàn bạo của ông Hồ. V́ tham vọng điên cuồng của cá nhân ông mà ông đă bất chấp hậu quả, mặc cho dân chúng ta thán, ông sẳn sàng dùng chính đồng bào của ḿnh làm con vật hy sinh dẫn đường cho ông đạt tới mục đích tối hậu. Ông dùng mục đích để biện minh cho phương tiện.

 

Phải nói vai chính bên nữ là nhân vật cô Câm. Câm được nặn ra để nói lên vai tṛ người dân dưới chế độ cộng sản. Cô Câm nói không được nhưng biết hết những ǵ ông Nguyễn làm. Cô thường lo lắng săn sóc ông Nguyễn, thầm yêu ông Nguyễn, nhưng ông ta lúc nào cũng Út Út...

 

Chủ ấp Nguyễn c̣n ra lệnh cho dân chuyên chở cây phượng đỏ từ xa về trồng tại ấp. Việc làm này vô cùng cực nhọc. “Cây mất rễ sống sao được...nghe bảo trước đây mợ chủ rất thích cây này, nhân lễ trăm ngày cậu muốn tỏ ḷng thương nhớ..,.” Một người khác tiếp: “Đấy đấy, một người muốn thương, trăm người vất vả...” Phượng đỏ là biểu tượng cộng sản. Gốc cây phượng lại đắp bằng những cánh bèo do dân làng đổ xuống hàm ư chủ nghĩa không thể tồn tại lâu dài. Thật vậy, sau đó cây phượng rụng lá khô dần rồi chết... Ông Nguyễn buồn năn khi nh́n thấy con chim bồ câu mà ông yêu quư nằm lăn ra chết. Chim bồ câu cũng là biểu tượng cộng sản mà họ hay dùng tuyên truyền các nơi. Cộng sản luôn kêu gọi hoà b́nh trong tư  thế chiến tranh, đàn áp, khủng bố.

 

Vụ đèn trời trong phim là một bối cảnh lư thú dễ cho người xem thấy ẩn ư của người làm phim. Ông Nguyễn nhất định đốt đèn trời mặc dù những cụ già hiểu phép tắc phong tục khuyên can không nên làm. Các cụ bảo đèn của ông đốt lên mà vội tắt th́ vận mệnh ông sẽ bị xui. Cuối cùng th́ đèn trời thật to có mảng đỏ vừa đốt lên một chút đă bị rơi xuống liền, trong khi nhiều đèn trời màu xanh khác của dân chúng vẫn tiếp tục bay lên trông rất đẹp. Mảng đỏ chính là cờ đỏ.

 

Cô Câm một ngày nọ lén đánh cắp khúc gỗ tượng h́nh Út. Cô cột dây lôi đi quăng xuống sông. Câm đă bị ông chủ ấp trừng phạt bằng cách “bỏ rọ trôi sông.” Bỏ rọ trôi sông là h́nh thức khủng bố và giết người thường xảy ra dưới thời lănh tụ Hồ Chí Minh mà học giả Hoàng Văn Chí có đề cập trong “Từ Thực Dân đến Cộng Sản.”

 

Đến lúc bệnh hoạn và tinh thần quá suy nhược th́ ông Nguyễn lại muốn Tam đưa ông về Nam Định để nghe lại tiếng hát cô ả đào tên Tơ. Nhà cô Tơ nằm ngay giữa gịng sông có một đường ngăn như giữa Nam và Bắc mà cô là người của phía Nam. Ngoài sân có bàn ông Thiên, có con c̣ trắng. H́nh ảnh bàn thờ ông Thiên với nải chuối và con c̣ trắng người xem cảm nhận ngay khung cảnh miền Nam. Hai bên bờ đá ngăn chia gịng nước, những cánh phượng đỏ rụng rơi tản mác trên sông xuôi chảy về Nam. Có phải ngụ ư gịng sông Bến Hải? Hai em bé là người láng giềng của cô Tơ đang ngồi bên sông. Khi ông Tam nói ông cũng là người cùng xóm th́ cô bé nói ngay:" Ông nói điêu, ở đây chỉ có hai nhà thôi."  Có phải hai nhà đây là một bên Bắc, một bên Nam?

 

Ông Nguyễn được khiêng trên một cái vơng đỏ đi trên đường rừng núi có lối ṃn. Tại sao lúc nào ông cũng kêu tên nàng Út mà gần chết th́ lại nhớ tiếng hát cô Tơ? Trước đây ông đă có lần cùng ông Tam và cô Tơ đàn ca ngâm xướng, cũng là nơi mà ông Nguyễn trở thành ngựi ơn của ông Tam v́ một tai nạn mà ông Tam có thể bị Pháp bắt. “Ta thèm nghe cô ấy hát, thèm như bị khát...” Ông Nguyễn thèm như bị khát chớ không phải nhớ! Cái ước muốn vô cùng trước khi chết. Thèm như khát thể hiện cái đ̣i hỏi của vật chất, không phải là cái ham muốn cuồng nhiệt trong t́nh yêu trai gái khi muốn gặp cô Tơ. Không ai phủ nhận là Hồ Chí Minh trước khi chết bằng mọi cách phải dốc toàn lực tấn công miền Nam v́ ông “thèm” miền Nam lắm. Kết quả của hành động thèm này là có hàng ngàn dân miền Nam đă bị sát hại năm Mậu Thân, nhất là tại Huế.

 

Cô Tơ đă nói với ông Tam (hai ngựi trước kia là t́nh nhân) là nếu người nào dùng cây đàn của chồng cô đàn cho cô hát th́ sẽ bị hồn thiêng của chồng làm cho chết, nhưng ông Tam bất chấp. Tam cho rằng thà chết bên cô Tơ c̣n ư nghĩa hơn bên ông Nguyễn. Hát v́ ông Nguyễn yêu cầu, nhưng Tơ hướng ḷng về  Tam với những giây phút cảm động tuyệt vời. Ông Nguyễn nằm bên trong nghe cô hát với nét mặt đầy suy tư... Cô ngâm những câu thơ tiền chiến gói ghém trọn tâm t́nh. ..”Anh hăy đi đi... chân cứng đá mềm...” có phải nói lên cái ư chí ǵ đó? Cuối cùng th́ ông Tam gục chết bên cây đàn! Diễn tả thật xuất sắc của Tơ và Tam trong màn chót mà số đông khán giả ngoại quốc ghi nhận.

 

Sau khi Tam chết, trên đường về Mê Thảo, ông Nguyễn thấy dân làng cùng ngựi Pháp xây đường rầy xe lửa. Họ ca hát nhảy muá. Nguyễn gục chết nơi những b́nh rượu bốc cháy. Trước khi chết, ông tỏ ra có một chút nhân bản khi nói với số người c̣n trung thành sát cánh bên ông: Mọi sự mê muội phải trả giá. Bóng tối làm ra địa ngục. Nhưng ánh sáng cũng không luôn luôn đồng nghĩa với thiên đường.

 

Một kết thúc có hậu mà một ngựi đạo diễn giỏi phải như thế. Nhưng cái ǵ trong vài giây phút chót của phim đọng lại trong tâm trí người xem? Đó là h́nh ảnh cô Câm đứng với cái nh́n c̣n đau khổ! Có phải ngày nay sau khi ông Hồ đă chết gần 40 năm, nước Việt Nam vẫn c̣n có hơn 80 triệu cô Câm? Có phải vẫn c̣n có những bà mẹ uất ức không làm ǵ được chỉ biết vả đít con? Có miệng mà như câm, nói không được những điều ḿnh muốn nói.

 

Chuyện phim được hư cấu với những t́nh tiết để đưa lên những ư nghĩa đằng sau nên về thời gian tính không thể cho thấy một cách mạch lạc được, nhưng dù sao cái mốc chính vẫn là 1946.

 

Phim được giới thiệu ra mắt tại Việt Nam và Đơn Dương đă không được mời tham dự. Có những tin tức cho rằng Đơn Dương bị nhà nước cộng sản ghép vào tội “phản quốc” khi cũng vào năm 2002 “We Were Soldiers” ra đời trong đó Đơn Dương đóng với tài tử Mỹ Mel Gibson. Bị ghép vào tội này vỉ Đơn Dương cầm lá cờ Hoa Kỳ một cách trân trọng. C̣n tội của Đơn Dương trong phim Mê Thảo th́ sao mà họ không cho Đơn Dương xuất hiện? Sau đó lại cho công an đến chỗ làm của Đơn Dương hạch sách hăm doạ đến nỗi người tài tử này phải nhờ đến Mel Gibson giúp để được bốc ra khỏi Việt Nam cấp tốc 2003. Trong một cuộc phỏng vấn gần đây nhất, Đơn Dương có nói: "Câu chuyện của tôi, trong một lư do nào đó, phía bên Việt Nam kết án tôi, và tôi phải từ bỏ sự nghiệp điện ảnh của tôi."

 

Đơn Dương trong vai Tam giống như người đứng giữa? Tam v́ hoàn cảnh mà phải theo ông Nguyễn và phải làm theo lệnh của ông ta. Vai tṛ Tam có phải ví như ông Nguyễn Tường Tam?  Vào 5/1946 ông Tam được sắp xết cùng Phạm Văn Đồng qua Pháp dự hội nghị tại Fontainebleau, nhưng sau đó rút ra và lẫn trốn không hợp tác với Việt Minh nữa. Về sau ông Tam làm việc với phe quốc gia, nhưng có khi ông c̣n bị nghi ngờ. Ông nằm trong “chính phủ liên hiệp” (có quốc gia có cộng sản) cũng v́ trong cái thế bắt buộc mà thôi.

 

Có thể nói Dũng Nhi trong vai ông Nguyễn đă thể hiện gần như trọn vẹn vai tṛ vô cảm độc ác, một ước muốn khao khát chưa giải toả được ông Nguyễn đă phải mang về gặp Út  ở cơi âm ty. Giờ chót sắp ra đi ông Hồ viết di chúc “f̣ng khi tôi sẽ đi gặp cụ Mao, Mac, cụ Lênin...” Ông Hồ yêu các ông tổ cộng sản đó đâu khác ǵ ông Nguyễn trong Mê Thảo yêu Út (Ulyanov) một cách “cực kỳ” điên loạn.

 

Về đạo diễn Việt Linh. Một người phụ nữ thông minh, tài trí. Khi hiểu sơ qua tiểu sử của bà chúng ta mới nh́n thấy rơ hơn cái thông điệp bà để lại trong phim. Theo tin báo cộng sản trong nước qua các bài phỏng vấn, bà chánh gốc miền Nam. Năm 16 tuổi  mẹ bà bỏ chồng, bà theo cha vào “khu kháng chiến.” Cha bà là một “cán bộ chủ chốt của điện ảnh miền Nam.” Từ 1979-1985 bà du học tại Liên Sô với khoa đạo diễn. Bà có nói rằng lúc nhỏ khi biết mẹ bà bỏ chồng, bà rất oán ghét mẹ, nhưng về sau hiểu ra bà vô cùng ân hận. Tuyên bố này có phải đồng nghĩa với việc cho rằng người cha theo cộng sản nên mẹ bỏ cha là phải.

 

Một điểm đặc biệt nữa đáng nói về Việt Linh là báo chí trong nước nói chung rất tán thưởng ca ngợi bà về tài năng; tuy nhiên, xét về nội dung th́ họ hay b́nh luận cho rằng đa phần những phim bà làm ra hay có “vấn đề,” nhất là tờ “Đoàn Kết” bên Pháp, tờ báo của “Việt kiều yêu nước.” Lên án bà thẳng thắn th́ cũng kẹt v́ tất cả phim đă kiểm duyệt trước khi ra mắt. Nếu sau đó duyệt lại thấy có “vấn đề” th́ hại bà kiểu Lưu Quang Vũ cũng không phải dễ v́ bà đi đi về về hai quốc gia Pháp và Việt Nam. Gánh Xiếc Rong, 1988, là chuyện phim châm biếm chế độ và một vài phim khác. Bà cũng hay viết bài đăng trên báo chỉ trích du học sinh con của những đảng viên giàu có, và những bất công trong xă hội Việt Nam ngày nay. Bà từ chối không trả lời phỏng vấn trên các đài truyền thông hải ngoại có lẽ cũng dễ hiểu.

 

Cái kinh dị của Chùa Đàn khác xa cái dị thường trong Mê Thảo, nhưng khi hỏi con trai của Nguyễn Tuân, Nguyễn Xuân Đào, th́ ông này lại cho rằng rất đúng ư của Nguyễn Tuân. Được biết  truyện ngắn Chùa Đàn được điều chỉnh vài lần sau này trước khi công chúng tiếp nhận một cách công khai, và trước đó bị cấm tại miền Bắc sau lần in đầu tiên 1946 với lư do “duy tâm phản động.”

  

Bút Sử

7/2009


Cũ Rích Đầy Mâu Thuẫn

Sau ngày DVD “Sự Thật về Hồ Chí Minh” của Phong Trào Quốc Dân Đ̣i Trả Tên Saigon ra đời, đă có một vài bài viết liên quan tới DVD đăng trên các trang mạng của báo Đảng. Mục đích của bài viết là để đối kháng lại nội dung trong phim; tuy nhiên, sau khi xem qua, người ta không nhận ra điểm đối chiếu nào có tính thuyết phục, bởi v́ đó cũng chỉ là những luận điệu suông, không đưa ra dẫn chứng một cách cụ thể.

 

Gần đây nhất là bài của ông Lê Trọng Văn. Thật ra, chỉ một cái tựa “Toàn dân Việt Nam nhớ ơn Bác Hồ đời đời” đă tự đưa ra tính chủ quan và áp đặt. Nếu toàn dân đă có ư như vậy th́ hoá ra ông cựu thủ tướng cộng sản Vơ Văn Kiệt đă nhận xét cho rằng sau khi cộng sản cướp lấy xong miền Nam th́ “hàng triệu người vui cũng có hàng triệu người buồn” là sai lầm sao?  Ông Kiệt đă không dám “mở mắt” thật sự, nhưng chỉ hé ra một chút ánh sáng cho cuộc đời c̣n lại của ông. Biết đâu cũng v́ câu nói để đời đó mà quăng đời cuối của ông đă không được yên thân. Theo tin RFA và SBTN, có nghi vấn là phe đảng miền Bắc đă ngấm ngầm cho tiêm một mũi thuốc khi ông nằm bệnh viện tại Saigon. Sau đó ông được đưa sang Singapore và chết nơi ấy với khám nghiệm trong người có thuốc độc. Có phải ông Kiệt đă mất mạng v́ đă đi hơi chuyệch hướng, quên ca bài “nhất trí” và khẩu hiệu “toàn dân.” Ông lại dám phân biệt hai khối người rơ rệt, và đó là kết quả của những ǵ Hồ Chí Minh đă làm ra.

 

 Không hiểu tại sao ông Văn đề cao "toàn dân" Việt Nam đang bám chặt vào thành tŕ xă hội chủ nghĩa, "toàn dân" nhớ ơn “Bác” v́ “Bác” đă có công dựng nên cái xă hội thiên đường đó, mà ông Văn không ở lại Việt Nam sinh sống với "toàn dân"? Ông phải nên sống ở Việt Nam để chứng nghiệm thực tế cuộc sống “tốt đẹp” do công ơn của “Bác Hồ” dựng nên th́ bài viết ca tụng “Bác” có thể giá trị hơn.

 

 Người ta từng nghe lối bày tỏ “tôi chỉ là người Việt Nam b́nh thường như mọi người Việt Nam khác biết yêu thương quê hương và ṇi giống Lạc Hồng. Tôi không phải là đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam hay hội viên của bất cứ tổ chức chính trị nào.” Ông Văn không phải đảng viên cộng sản và đang ở California, Hoa Kỳ, coi như tiểu bang đại diện cho người tỵ nạn cộng sản tại hải ngoại, ông lại tôn thờ lănh tụ cộng sản Hồ không khác những bồi bút trong nước nhan nhăn trên hàng triệu cuốn sách và hàng trăm tờ báo do Đảng kiểm soát. Luận điệu như vậy có thuyết phục được người đọc không?

 

 Dù ông Văn đang đóng một vai tṛ ǵ hay đang thực hành một nhiệm vụ ǵ đó, ở đây bài này muốn vạch rơ những sơ hở trầm trọng trong bài viết có tính giáo điều, nói suông của ông.  Bài viết của ông là một trong hằng ngàn bài viết có hơi hướng giống nhau, ngôn ngữ giống nhau, luận điều giống nhau mà người dân trong nước đă bị nghe bị đọc dù muốn dù không. Tôi được may mắn không nằm trong “toàn dân” đó nên mới có cơ hội đối phó lại, và mong có những người t́m đến nhau đọc thông tin nhiều chiều trên internet để tự đưa ra cho ḿnh một nhận xét riêng.

 

 Lê Trọng Văn cho rằng lư do ông viết bài trên v́ “Hồ Chí Minh không những là lănh tụ riêng của Việt Nam mà đích thực Hồ Chí Minh là vĩ nhân của thế giới.” Hồ Chí Minh là lănh tụ của cộng sản Việt Nam th́ không sai. Hồ là người của thế giới cũng không sai, và chính cá nhân Hồ đă góp phần vào tội ác mà nhân loại thế giới phải kinh hoàng với con số trên 100 triệu mạng ngựi chết do cộng sản gây ra. C̣n vĩ nhân? Ngoài sách báo cộng sản Việt Nam, chưa ai ca tụng Hồ Chí Minh là vĩ nhân, ngay cả những ông tổ cộng sản của Hồ như Stalin c̣n đặt cho Hồ một biệt danh “người cộng sản ngu dốt.” Tác giả William Duiker trong "Ho Chi Minh A Life" cho rằng Hồ chưa hề có tư tưởng ǵ cả so với những chính trị gia thế giới khác.

 

 Càng ngày ngựi dân trong nước càng hiểu thêm về tội ác của ông Hồ và Đảng nên mới có những vụ bắt bớ những chủ nhân các blogs. Mới đây nhất công an đă ngang nhiên hành hung vợ chồng nhà văn Trần Khải Thanh Thuỷ ngay lúc ban ngày bất chấp dư luận.Thế nhưng Đảng vẫn c̣n tin vào những thành phần Đảng đang cai trị theo chính sách ngu dân, nên mới có những con người làm công tác “thuộc bài” như Lê Trọng Văn. Xét ra, bài viết của ông Văn có lẽ muốn cho ngựi đọc thấy ra góc phản chiếu 180 độ đối với những ǵ trong DVD “Sự Thật về Hồ Chí Minh.” Phim chỉ đưa ra những sự thật về ông Hồ một cách rất khoa học, có dẫn chứng, có tài liệu, có nhân chứng sống...Người xem xong phim tự đánh giá trị con người Hồ Chí Minh. Sử gia, học giả, nhà báo, cựu đảng viên, sinh viên - không ai có một câu áp đặt nào, mà họ chỉ tŕnh bày và đưa ra nhận xét.

 

 Mưa lâu thấm đất, cũng như Hồ Chí Minh đă từng dạy cán bộ: “Các chú cứ nói láo. Nói láo măi rồi cũng có người tin là như vậy.”  Đảng “giáo dục” dân lúc nào cũng phải nghe theo Đảng. Dù không tin Đảng, nhưng trong hoàn cảnh bị nhồi nhét, bị tẩy năo, nhất là kế hoạch làm nhục chí, chỉ biết quay quần với miếng ăn, vui chơi, không quan tâm tới những sinh hoạt chính trị. V́ thế mà có những điều xem ra sơ đẳng ở những xă hội văn minh, nhưng ở Việt Nam có những người dân chưa nhận ra được như quyền làm người, một thứ quyền thiêng liêng mà thượng đế đă ban cho. Đó là quyền được phát biểu, quyền được tự do đi lại, quyền được có đời sống tinh thần, quyền được mưu cầu vật chất, v.v..

 

 Ông Lê Trọng Văn (giống như nhiều bồi bút khác của Đảng) dùng nhiều sáo ngữ hay danh từ dao to búa lớn: “sự nghiệp cách mạng, toàn dân đoàn kết kháng chiến giành độc lập, tiên phong trong công cuộc giải phóng dân tộc...” Cần thiết hay không để giải thích ư nghĩa của những từ này đi đôi với hoàn cảnh đất nước trong giai đoạn đó?

 

Cách mạng. Cách mạng, theo đúng nghĩa, là thay đổi từ t́nh trạng xấu thành tốt hơn. Người cộng sản hay tự cho ḿnh là có “sự nghiệp cách mạng” để nói lên rằng đó là một cái nghề toàn thời gian chuyên làm chuyện thay đổi, mà cái nghề này là theo cách của Lenin chỉ dạy - chuyên nghiệp (full-time professional revolutionary). Cách mạng của cộng sản thuần tuư là đạp đổ, xoá bỏ hoàn toàn những hệ thống, những ǵ đă có sẵn dù mang giá trị vĩnh viễn như tôn giáo, phong tục tập quán.

 

 Kháng chiến giành độc lập. Cộng sản muốn nói tới cuộc chiến tranh chống Pháp của Việt Minh và họ xem đó là một lư do nổi cộm nhất để đưa Hồ Chí Minh thành người có công lao với dân tộc Việt Nam. Phân tách kỹ lưỡng về những giai đoạn và hiện tượng xảy ra trong thời gian Việt Minh có chiến tranh với Pháp, chúng ta mới thấy rơ Hồ Chí Minh không có chủ trương chống Pháp mà ngược lại c̣n yêu cầu Pháp trở lại Việt Nam để cùng phe Hồ cai trị. Chứng minh rơ rệt nhất là Hiệp Ước Sơ Bộ giữa Hồ Chí Minh và đại diện Pháp Jean Sainteny, kư ngày 6/3/1946, đă cho phép 15 ngàn quân Pháp đổ tại Hải Pḥng rồi tiến chiếm miền Bắc và sau đó Pháp cùng Việt Minh triệt hạ các đảng phái quốc gia. Lúc này Hồ đă bị dân gian kêu tên là "Hồ Chí Minh bán nước" mà chính Trần Dân Tiên (bút danh của Hồ Chí Minh) đă cố gắng biện hộ trong lập luận yếu ớt, khập khễnh. Nhưng rồi Hiệp Ước này chỉ áp dụng được 3 tháng th́ chính trường bên Pháp thay đổi - Đảng Xă Hội và Đảng Cộng Sản Pháp đă không c̣n nắm quyền quốc hội nữa. Chính phủ Pháp đă tuyên bố chiến tranh với phe Hồ Chí Minh ngay khi Hồ có mặt tại Pháp trong lúc tổ chức hội nghị tại Fontainebleau từ 7-9/ 1946. Lư do của cuộc chiến này không ǵ hơn là chống lại làn sóng cộng sản mà Hồ Chí Minh là thủ lănh. Cuộc chiến bùng nổ thật sự 19/12/1946. Ông Hồ trong thế chống đỡ. Từ tư thế van xin được đứng chung với Pháp, muốn Pháp trở về Việt Nam cai trị sang tư thế là kẻ đối thủ, ông kêu gọi toàn dân cùng ông chống Pháp với chiêu bài Pháp “xâm lược.”

 

Mặc dù Pháp đă thua Việt Minh trận Điện Biên Phủ 5/1954, nhưng cuộc chiến tranh ư thức hệ c̣n tiếp diễn cho tới 30/4/1975. Không thể có cái gọi là “kháng chiến giành độc lập.”  Hơn nữa, trong năm 1946 này Pháp cũng như các nước Âu Châu có thuộc điạ coi như đă theo chính sách của cố tổng thống Hoa Kỳ F.D. Roosevelt trao trả độc lập cho tất cả các nước bị thuộc địa.

 

 Ông Lê Trọng Văn đă ghi ra 10 cuốn sách viết về Hồ Chí Minh của các tác giả như Pierre Brocheux, Peter A Decaro, William Duiker, Charles Fenn, Jean Lacouture...và có vẻ tỏ ra hiểu sâu rộng v́ đă nghiên cứu những sách này. Không biết ông Văn có đọc qua những ḍng sau đây của ông Brocheux trong “Biography of Ho Chi Minh”, (trang 122):

 He wrote daily about where he went, what he did, and whom he met (without personal comments about the people, however). He also noted international events that were important to him, like the declaration of independence in the Philippines in July 1946 and the U.S. atomic tests on Bikini Atoll. But was it through ignorance or courtesy that he failed to mention the French evacuation of Lebanon and Syria in 1946, when France was forced to give up his colonialist claims in the Middle East?

Ông ta (Hồ) viết mỗi ngày nơi ông đă đi qua, ông đă làm ǵ, và những ai ông đă gặp ( tuy nhiên, ông lại không ghi những ư kiến của những người này). Ông ta đồng thời ghi nhận những hiện tượng quan trọng đối với ông, như ngày độc lập của Philippines vào tháng 7/1946 và vụ thử nguyên tử tại Bikini Atoll của Mỹ. Nhưng mà v́ ngu dốt hay tế nhị mà ông ta đă không ghi ra việc Pháp rút khỏi Lebanon và Syria vào năm 1946, khi Pháp bị áp lực từ bỏ những quyền lợi thực dân tại Trung Đông?

 Thật vậy, 4 tháng ở Pháp từ 6-9/1946, Hồ Chí Minh đă gặp rất nhiều người, đa số là những bạn bè và thành viên cộng sản để yêu cầu vận động với chính phủ Pháp công nhận ông ta là chủ tịch của “Việt Nam Dân Chủ Cộng Hoà” và bằng ḷng về Việt Nam hợp tác với Việt Minh để cùng hưởng lợi, nhưng tất cả đă quay lưng lại với Hồ cùng những lời từ chối thẳng thắn. Quốc hội Pháp do thành phần cứng rắn nắm quyền nên những cá nhân cộng sản này cũng không làm ǵ được để giúp người lănh tụ cộng sản Hồ Chí Minh.

 

Như trên, thủ đoạn của Hồ Chí Minh bị Brocheux vạch trần khi nhắc tới vụ Pháp trả độc lập cho Lebanon và Syria vào 1946 mà Hồ cố t́nh không nhắc tới, bởi v́ nếu nêu ra hành động không c̣n thực dân của Pháp th́ lấy cớ ǵ để kêu gọi toàn dân chống Pháp? C̣n hành động thân Pháp cộng trước đó th́ Hồ lại lư luận lấp liếm là “cầu hoà” không muốn chiến tranh. Gian manh đến mức nhiều sách báo Đảng và trong bài viết của ông Văn cho rằng chính Hồ Chí Minh là người tiên phong đánh thực dân Pháp nên các nước khác mới được trả độc lập!

 

Lê Trọng Văn đă đọc sách của William Duiker như ông ta đă ghi ra. Vậy, ông Văn có thấy h́nh ảnh Hồ Chí Minh với gương mặt lo sợ (nói theo văn phong của Đảng là cực kỳ lo sợ) chụp chung với Jean Sainteny tại phi trường bên Pháp trên đường đi vận động liên quan tới hội nghị tại Fontainebleau. Hồ đă đoán biết t́nh h́nh chính phủ Pháp đang thay đổi thành phần lănh đạo, họ sẽ thẳng tay trừng trị cộng sản.

 

Ho Chi Minh A Life by William Duiker, (page 426): In early June 1946, the French representative Jean Sainteny escorted Ho Chi Minh from Biarritz to Paris to attend the peace conference at Fontainebleau. Here Ho and Sainteny await the arrival of their plane at the airport in Paris. Sainteny, in his memoirs, noted that Ho Chi Minh appeared exceptionally nervous on the occasion.

Vào đầu tháng 6, 1946, đại diện Pháp Jean Sainteny hộ tống Hồ Chí Minh từ Biarritz tới Paris để dự hội nghị hoà b́nh tại Fontainebleau. Tại đây Hồ và Sainteny chờ chuyến bay tại phi trường ở Paris. Sainteny, trong cuốn sách hồi kư, đă ghi nhận rằng Hồ Chí Minh tỏ ra rất lo sợ một cách lạ thường trên những vấn đề đang xảy ra tại hội nghị Fontainebleau.

 

Trong hồi kư của Sainteny, ông diễn tả nét “cực kỳ lo sợ” (exceptionally nervous) của Hồ Chí Minh đi đôi với tấm h́nh chúng ta thấy ở trên. Như vậy th́ xác quyết là cuộc chiến tranh giữa Pháp và phe Việt Minh của Hồ Chí Minh không thể gọi là “kháng chiến” hay “giành độc lập” ǵ cả. Hồ Chí Minh trong thế bị tấn công bởi v́ ông là một lănh tụ cộng sản, nguy cơ cho nền an ninh của khối tự do. Đơn giản có vậy!

 

Hơn nữa, nói tới “độc lập” theo lối cộng sản th́ thật là mỉa mai! Hồ Chí Minh đă là tay sai đắc lực của Nga Tàu kể từ khi là thành viên của cộng sản đệ tam quốc tế. Hệ luỵ ông để lại và di sản là Đảng Cộng Sản Việt Nam độc tài toàn trị, tàn phá đất nước, áp bức dân tộc. Sau hơn 34 năm thống trị toàn cơi lănh thổ, Đảng lệ thuộc Trung Cộng càng lúc càng nặng nề hơn: Đảng dâng đất nhượng biển, hiến đảo Hoàng Sa-Trường Sa, cho người Tàu vào khai thác Bauxit gây thiệt hại môi trường cũng như lợi thế chính trị của người chiếm giữ, hàng hoá Tàu th́ tràn ngập thị trường. Thế nhưng mỗi ngày báo Đảng, đài Đảng, sách Đảng, cộng thêm thành phần "Việt kiều" như Lê Trọng Văn vẫn không ngớt hô la hai chữ “độc lập.”

 

Giải phóng dân tộc (Liberate the people, set free).  Giải phóng dân tộc là giúp người dân của một quốc gia thoát khỏi áp bức để họ được tự do, một nguyên tắc căn bản rất dễ hiểu. Với ngựi cộng sản th́ lại khác, họ hay hăm hiếp ngôn ngữ. Áp đặt vào đầu vào cổ dân một chủ nghĩa vô nhân bản, tước đoạt tất cả quyền làm người của toàn dân th́ được gọi là “giải phóng dân tộc.” Độc tài lại đi “giải phóng” tự do?

 

 Để đối phó lại những tŕnh bày tố giác tội ác của Hồ Chí Minh và Đảng đối với đất nước và dân tộc, người cộng sản nghĩ ra phương cách, nhất là nhắm vào tâm lư quần chúng. Bài học là dùng “nhân dân, dân tộc” như một cái cớ. Cái ǵ cũng gán ghép “nhân dân” vào để che lấp đường lối xem nhân dân là thù địch. Người ta cũng thường nghe những công an mạng hay cán bộ Đảng nói chuyện trên các diễn đàn Paltalk cố t́nh làm cho người dân trong nước có ác cảm với người Việt hải ngoại: “các người chống dân tộc, chống người dân trong nước...” Đó cũng là luận điệu của Lê Trọng Văn trong bài viết của ông ta.

 

Ông Văn cho rằng người Việt hải ngoại sống với quá khứ cũng là lối áp đặt vô cớ. Thật ra, chính Đảng Cộng Sản mượn quá khứ và h́nh ảnh cùng thân xác Hồ Chí Minh tại Ba Đ́nh làm bùa hộ mạng, đặt để cho một chuyên viên hành động thành người có tư tưởng. Nhiều huyền thoại quá về Hồ Chí Minh! Một nhà văn nữ trong nước từng là đảng viên gương mẫu, Dương Thu Hương, đă giản dị hoá cho người ta dễ hiểu về mức độ Đảng “say mê” ông Hồ: Đảng làm t́nh với một xác chết!  Đảng không có chính nghĩa để bám víu. Khô khan và kém cỏi đến nỗi họ chỉ c̣n dùng vũ lực là hành trang hàng đầu để cai trị dân.

 

Ông Văn viết bài chống lại DVD của nhóm linh mục Nguyễn Hữu Lễ, trong đó có phần tŕnh bày và chứng minh UNESCO chưa hề vinh danh Hồ Chí Minh. Ông đă không đối chứng lại mà viết suông, na ná luận điệu trong hàng ngàn bài viết ca ngợi Hồ trong nước, cho rằng: “UNESCO đă công nhận Hồ Chí Minh là Anh hùng Giải phóng Dân tộc, một nhà Văn hóa lớn v́ Người đă làm sáng tỏ khát vọng ư chí của các dân tộc, giải quyết các mối quan hệ bằng phương thức ḥa b́nh v́ tương lai của nhân loại.”

Khách quan mà nói, cuộc đời và sự nghiệp cách mạng của Chủ tịch Hồ Chí Minh đă trở thành đối tượng nghiên cứu cho khoa học. Đó là tư tưởng Hồ Chí Minh.” Bạn đọc nào hiểu ư nghĩa của câu này th́ cũng nên khai thác thêm những “đỉnh cao trí tuệ” của Đảng.

 

Một bài viết với ngôn ngữ nặng nề, thoá mạ người Việt hải ngoại, lư luận khập khễnh được đăng trân trọng trên hàng đầu của trang báo mạng của Đảng nhiều ngày. Nếu những ngôn ngữ đầy tính giáo điều và áp đặt cùng những luận điệu phản khoa học (không chứng minh) này thuyết phục được trí thức và tuổi trẻ trong nước th́ thật đáng buồn thay cho tương lai dân tộc Việt Nam!

 

 Tóm lại, một bài viết của một cá nhân như Cửu Long Lê Trọng Văn, tự xưng đă viết vài cuốn sách mà báo Đảng giới thiệu là “Việt kiều” cũng chỉ là những ǵ được lập đi lập lại từ những thành phần của Đảng nhiều năm qua. Không có ǵ mới mẻ, tuy nhiên, người viết vẫn phải khai thác măi những điều mâu thuẫn của họ để dẫn chứng và nhấn mạnh âm mưu thâm độc. Người viết rất mong tuổi trẻ và đồng bào trong nước nói chung thấy ra được một vài điều mới trong những cái cũ rích mà người ta đă và đang nghe ra rả mỗi ngày. 

 

Bút Sử

10/2009


 

Tu Tuong Cac Ke

Trong tháng 7, 2009 này, một phim tài liệu với tựa “Sự Thật về Hồ Chí Minh” đă được tung ra do nhóm linh mục Nguyễn Hữu Lễ thực hiện. Được biết trong nước một số người đă vào các link và www.youtube.com để xem. Người ta c̣n download vào máy để làm ra những copy t́m cách phổ biến. Ngoài tài liệu h́nh ảnh sưu tầm từ mọi nơi, ban thực hiện c̣n có những phỏng vấn nhiều sử gia, nhà báo, nhà nghiên cứu, lănh đạo tinh thần, đảng viên ly khai từ các nơi trên thế giới...Đây là một việc làm xứng đáng được hoan nghênh, và đúng ra cộng động tỵ nạn đă nên thực hiện phim như thế từ lâu.

Nhà báo Pháp Oliver Todd, tác giả cuốn "Cruel April," trong phim khi phỏng vấn đă nói đại ư rằng người Việt Nam nói chung hiểu vấn đề qua h́nh ảnh hơn là các phương tiện khác như sách báo, thế nên việc tuyên truyền bằng h́nh ảnh rất quan trọng đối với cộng sản. Một Hồ Chí Minh với gương mặt phúc hậu (mặt thật th́ nhọn và xương), với râu trắng dài như ông tiên, tai đầy tṛn như Phật; sau ngày ông qua đời h́nh ảnh này được phổ biến mọi nơi, trên những giấy tiền, cộng thêm một hệ thống tuyên truyền ngày ngày rỉ rả thêu dệt huyền thoại để người nghe bị in vào đầu một bóng dáng như toàn thiện.

Phim tài liệu với nhiều chứng minh sự thật về con người lịch sử Hồ Chí Minh này là một đối chọi đáng kể đối với Đảng Cộng Sản trong nước ngày nay. Thật vậy, nhũng ǵ mà Đảng đang ra công nhồi nhét vào đầu óc mọi người về Hồ Chí Minh đều đi ngược lại những ǵ trong phim. Không đưa ra hết mọi mặt, nhưng phim đă tŕnh bày đa phần quan trọng về nhân vật họ Hồ.

Những người đàn bà trong đời Hồ Chí Minh, đặt biệt nhất là Nông Thị Xuân. H́nh cô Xuân, một phụ nữ rất xinh đẹp vào khoảng tuổi dưới 30 khi ông Hồ lúc 1956 đă trên 66. Vũ Thư Hiên nói rằng chính v́ cô Xuân muốn làm vợ “bác Hồ” mà đă bị thủ tiêu, chết v́ bị đập đầu nhưng Đảng tạo ra một tai nạn lưu thông để che mắt. Bùi Tín khẳng định Nguyễn Tất Trung chính là con của ông Hồ và cô Xuân hiện đang sống tại Hà Nội mà chính Trung cũng dần dà biết ra ḿnh là con của của người lănh tụ cộng sản. Trước cô Xuân ông Hồ c̣n nhiều mối t́nh khác nữa như Tăng Tuyết Minh, Nguyễn Thị Minh khai...

Phim c̣n đề cập ông Hồ có rất nhiều bút danh và bí danh, có thể nói trên 50 (có thể chỉ là bút danh) , nhưng người viết đă từng phổ biến là Hồ Chí Minh có gần 200 tên. Đây là tài liệu chính thức của Viện Bảo Tàng Hà Nội khi cho ra đời, 2003, cuốn “Những Tên Gọi, Bí Danh, và Bút Danh của Hồ Chủ Tịch,” trong đó họ đă ghi ra một cách rất chi tiết 174 tên, cộng thêm hơn 30 tên đang nghiên cứu. Tuy nhiên, bút danh Trần Dân Tiên th́ không được tiết lộ, mặc dù văn công Hà Minh Đức đă công bố Trần Dân Tiên chính là Hồ Chí Minh trong cuốn “Tác Phẩm Văn của Chủ Tịch Hồ Chí Minh,” xuất bản 1985.

Phim c̣n nhấn mạnh hiện tượng UNESCO mà Đảng đă cố t́nh tạo dựng ra một “Hồ Chí Minh là danh nhân văn hoá thế giới” khi chưa hề có chuyện UNESCO tuyên dương như vậy. C̣n nhiều chi tiết khác phim đă tŕnh bày, nhưng ở đây người viết muốn khai thác cái gọi là “tư tưởng Hồ Chí Minh.”

Nếu Ngục Trung Nhật Kư là của Hồ Chí Minh th́ dĩ nhiên tư tưởng của ông phải ẩn hiện trong đó. Giáo sư Nguyễn Ngọc Bích đưa ra dẫn chứng: Ông Đặng Thai Mai khi nhận công tác dịch thuật cuốn thơ từ chữ Hán ra Việt đă thấy h́nh b́a in 1932-1933. Khi Đặng Thai Mai hỏi ông Hồ tại sao ông cho rằng Hồ Chí Minh làm những bài thơ này khi bị tù tại Trung Quốc từ 1942-1943? Hồ Chí Minh lặng thinh không trả lời. Những bài thơ nói rất nhiều về chuyện Trung Hoa, chiến tranh chống Nhật, ca tụng Tưởng Giới Thạch v.v..

Thật ra tư tưởng Hồ Chí Minh, như nhà nghiên cứu lịch sử Trần Gia Phụng nói trong phim, là một chế biến để cứu nguy chế độ. Sau ngày cộng sản Đông Âu và Liên Sô sụp đổ th́ khẩu hiệu “chủ nghĩa Marx Lenin bách chiến bách thắng” đă không c̣n hợp thời, nên 1992 Hiến Pháp của Đảng được sửa đổi và trong đó có thêm phần “tư tưởng Hồ Chí Minh.” Nhưng rồi Đảng lại không biết tŕnh bày cái tư tưởng đó như thế nào, ngoài những khẩu hiệu kêu gọi toàn dân nên như thế này, thế kia... Ông Trần Ngọc Thành, quê Nghệ An, một cựu đảng viên, hiện sống tại Ba Lan, cho rằng ông chỉ thấy “tư tưởng Hồ Chí Minh” chỉ là những câu như: cần kiệm, chí công vô tư, chủ nghĩa yêu nước... Ông nói đó là những thứ sáo rỗng.

Jean Lacouture, một nhà giáo người Pháp thân cộng, cũng cho rằng Hồ Chí Minh là một người hành động. Ngay chính ông William Duiker, tác giả cuốn “Ho Chi Minh A Life,” cuốn sách mà Đảng muốn dịch thành tiếng Việt với điều kiện không dịch phần vợ con của ông Hồ, nhận xét rằng ông Hồ không có tư tưởng ǵ cả so với những lănh tụ làm chính trị khác trên thế giới. Giáo sư Douglas Pike (không có trong phim) xác định Hồ chỉ là một người giỏi tổ chức, không phải nhà cách mạng (organization man, not revolutionary man,) ông có tài gây ra phong trào (to organize the movement).

Ai cũng nhận thấy rằng không ǵ hơn là lấy chính lời của ông Hồ để chứng minh ông có tư tưởng hay không. Chính Hồ Chí Minh khi hỏi vê “tư tưởng” ông đă trả lời với nhà báo rằng ông không có tư tưởng ǵ cả, cái đó đă có ông Mao, ông Marx lo rồi. Đảng trả lời sao đây khi mà hiện nay trong nước càng đẩy mạnh cái gọi là “GiáoTŕnh Tư Tưởng Hồ Chí Minh” cho thành phần sinh viển đại học và cao đẳng?

Nếu lấy câu “gậy ông đập lưng ông” áp dụng cho chính sách giáo dục trong nước ngày nay th́ cũng rất hợp thời. Bởi v́ sau khi học và nghiên cứu kỹ lưỡng về những thành tích và hoạt động của ông Hồ trong suốt chiều dài cuộc đời làm chính trị của ông th́ có thể sinh viên sẽ đi đến một kết luận về tư tưởng của ông Hồ. Đó không ǵ hơn là “Tư Tưởng Cắc Kè.”

Ông Vũ Ngự Chiêu trong phim “Sự Thật về Hồ Chí Minh” đă đưa ra nhận định rất đáng ghi nhận. Ông cho rằng Hồ Chí Minh hành động với chủ ư của ḿnh theo từng giai đoạn, từng hoàn cảnh và nhu cầu. Hồ dựa vào các thế lực ngay vào thời điểm mà ông ta cần và lúc đó tư tưởng của Hồ là tư tưởng của các thế lực đó.

Giai đoạn 1919, Hồ ca ngợi chủ trương của Tổng Thống Hoa Kỳ Wilson về chính sách thuộc đia, khi ông mới nhuốm nhém là thành viên của Đảng Xă Hội bên Pháp. Ông gia nhập Đảng Cộng Sản Pháp 1920 nên cái ǵ của Pháp cũng đẹp. Ông qua Nga 1923 th́ t́m thấy thần tượng là chủ nghĩa Marx Lenin, một thứ ánh sáng soi đường, là thứ cẩm nang thần kỳ. Trong giai đoạn phải hợp tác với Tưởng Giới Thạch bên Tàu th́ lại tôn vinh Tôn Dật Tiên với thuyết Tam Dân. Khi được OSS (cơ quan t́nh báo của Hoa Kỳ) mướn làm liên lạc viên đem thông tin qua lại giữa ranh giới Tàu và Việt khi đối đầu với Nhật th́ Hồ Chí Minh đề cao những người Mỹ là “vĩ nhân.” Trơ trẽn hơn hết là sau khi cướp được chính quyền Trần Trọng Kim, ngày 2/9/1945, Hồ Chí Minh đọc “tuyên ngôn” lại dùng nguyên văn những câu trong Tuyên Ngôn Độc Lập của Hoa Kỳ.

Đó là đại loại tư tưởng của ông Hồ mà ông Vũ Ngự Chiêu gọi là “Tư Tưởng Cắc Kè.”

Đảng Cộng Sản Việt Nam lănh đạo bởi Hồ Chí Minh, sau ngày ông chết đă nhuộm đỏ luôn miền Nam. Di sản của Hồ để lại vẫn là Đảng Cộng Sản Việt Nam, một bộ phận rất gương mẫu của quốc tế cộng sản, mà trước đó Hồ Chí Minh được thế giới cộng sản xem là dễ sai dễ bảo nhất. Những hành động và tư cách thể hiện cái “không tư tưởng” của Hồ đă làm cho lănh tụ của ông ta không một chút tôn trọng.

Trong “Ho Chi Minh, A Biography” của Pierre Brocheux, trang 145, ghi: “Khrushchev also wrote that Stalin showed little sympathy for Ho, whom he called “a communist troglodyte” – Khrushchev đồng thời viết rằng Stalin tỏ ra không chút nào thiện cảm với Hồ, người mà ông gọi là “người cộng sản ngu dốt, như dă nhân kém văn minh thời tiền sử.”

Vấn đề ở đây một cách thực tế là đến thế kỷ 21 với thông tin nhanh nhẹn toàn cầu bằng internet, bằng radio, bằng telephone, khó mà có thể che dấu hay thêu dệt huyền thoại như Đảng đă từng làm trong quá khứ. Dù cố gắng ngày đêm ra công vẽ bùa hộ mạng cho chế độ, nhưng nỗ lực đó sẽ tồn tại được bao lâu? Nhà báo Oliver Todd nói rằng chỉ c̣n hai huyền thoại là Hồ Chí Minh và Che Guevara (cộng sản gốc Argentine), hai nhân vật lănh đạo cộng sản được đánh bóng để tuyên truyền.

Phim tài liệu “Sự Thật về Hồ Chí Minh” đă góp phần vào việc xoá tan huyền thoại Hồ Chí Minh để đi đến mục đích của Phong Trào Quốc Dân Đ̣i Trả Tên Saigon. Mong rằng chúng ta sẽ đón nhận thêm về phần phim có tiếng Anh cho giới trẻ hải ngoại.

Bút Sử
7/2009

 

 

 

 

 

Ngục Trung Nhật Kư không phải của HCM

 

 

Theo học giả Lê Hữu Mục, trong quyển sách "Hồ Chí Minh Không Phải Là Tác Giả Ngục Trung Nhật Kư", 1990, ông đă đưa ra đầy đủ bằng chứng để kết luận tập thơ này ra đời dưới sự dàn dựng công phu của ban biên soạn thuộc hệ thống Đảng Cộng Sản Việt Nam.

 

Một bằng chứng hùng hồn nhất là h́nh b́a nguyên thủy của tập thơ chữ Hán in h́nh hai bàn tay bị xiềng nắm chặt lại đưa lên, phía trên đề ngày 29-8-1932 đến 10-9-1933, nghĩa là tập thơ được sáng tác trong giai đoạn trên. Nhưng theo cộng sản Việt Nam th́ tập thơ được "Bác" sáng tác từ 29-8-1942 đến 10-9-1943,  trong giai đoạn "Bác" bị bắt tại biên giới Trung Việt, bị giam nhà tù của Tưởng Giới Thạch qua nhiều trại từ Tĩnh Tây, Thiên Bảo, Long Tuyền, Điền Đông, Quả Đức, Long An, Đồng Chính, Nam Ninh, Bào Hương, Lai Tân, Liễu Châu. Cứ như thế Hồ Chí Minh bị chuyển đi chuyển lại 30 nhà tù của 13 huyện tỉnh Quảng Tây.

 

Ông Đặng Thai Mai với chức vụ Chủ Tịch Hội Liên Hiệp Văn Học Nghệ Thuật được giao nhiệm vụ hiệu đính cuốn thơ trong thời gian 1959-1960 đă bị Đảng cho là có những câu hỏi "lẩm cẩm."  Ông đă đặt thắc mắc lên Ban Tuyên Giáo để ban này đưa lên Hồ Chí Minh. Câu hỏi : Tại sao h́nh b́a cuốn thơ có ghi 29-8-1932 đến 10-9-1933 mà khi dịch ra th́ phải sửa thành 29-8-1942 đến 10-9-1943? Hồ Chí Minh không trả lời ǵ cả, giữ măi thái độ lặng im, lại ve vuốt ông Mai và vội vàng thăng chức cho Đặng Thai Mai làm Viện Trưởng Viện Văn Học, một chức vụ bao trùm mọi sinh hoạt văn học.

 

Nếu Hồ Chí Minh làm ra những bài thơ này vào giai đoạn 1942-1943, tại sao Trần Dân Tiên (bút danh của Hồ Chí Minh) không đề cập tới những sáng tác của ông khi cho ra cuốn "Những Mẩu Chuyện về Đời Hoạt Động của Chủ Tịch Hồ Chí Minh" vào 1948? Đây là một cuốn sách được dịch ra nhiều thứ tiếng trong đó ông Hồ tự viết về ḿnh, tự ca ngợi đánh bóng cá nhân ông ta. Những bài thơ hay như vậy mà ông không nhớ ra để ghi vào sách hay sao?

 

Theo giáo sư Lê Hữu Mục, 1958 sau khi dẹp xong vụ Nhân Văn Giai Phẩm, Đảng thấy cần "sáng tạo" ông Hồ thành một lănh đạo văn nghệ để ngăn ngừa những vụ nổi dậy sau này.

 

Tập thơ gốc và tập thơ do Đảng tạo ra lại cách nhau khỏang 10 năm. Ban dịch thuật ngụy ra những ngày tháng trong đó cho tương xứng với những ngày Hồ Chí Minh bị giải đi các nhà giam bên Trung Quốc. Hầu hết là thơ chính gốc và một số ít thơ thật của Hồ Chí Minh. Người ta thấy ngay hai cách hành văn, hai tư tưởng, hai hoàn cảnh khác nhau...

 

Nhân vật Già Lư là ai trong "Những Mẩu Chuyện về Đời Hoạt Động của Hồ Chủ Tịch" của Trần Dân Tiên?

 

Trần Dân Tiên viết (trang 87): "Hai người bị bắt làm ông chú ư hơn cả: một em bé học nghề mười ba tuổi....; và một tướng cướp già bị bắt v́ bị bạn tố giác. Người này độ sáu mươi tuổi, hoà nhă, mưu trí và gan góc, giỏi chữ Trung-quốc, làm được thơ. Y tự cho ḿnh là một anh hùng và cho ông Nguyễn cũng là một anh hùng. "Tôi là một con sư tử rơi xuống hố. Anh cũng là một con rồng mắc cạn," y vừa nói vừa thở dài. Nhưng y rất lạc quan, nói tiếp thêm: "Sư tử một ngày kia sẽ trở về làm chúa sơn lâm, c̣n rồng một ngày kia sẽ bay lên trời và làm chúa tể gió mây." Già Lư làm chúa một dăy núi...Lư khá ác với người giàu, nhưng rất tử tế với người nghèo. V́ vậy Lư đưọc nhân dân trong vùng vừa yêu vừa sợ."

 

Trên là một số nét chánh về Già Lư mà Hồ Chí Minh đă tả trong sách khi ở tù chung với Lư tại nhà khám lớn ở Hong Kong từ 1932-1933. Lúc này Già Lư đă 60 tuổi , Hồ Chí Minh chỉ khoảng 42. 

 

Lăo phu nguyên bất ái ngâm thi (bài 2, Khai quyển)

 Lăo phu hoà lệ tả tù thi (bài 110, Thu dạ).

 

Theo giáo sư Lê Hữu Mục, 60 tuổi th́ gọi là ḱ, 70-80 là điệt, 80-90 là mạo. Như vậy, những bài thơ trong đó tự xưng "lăo" chắc chắn là của một người già, không phải ở tuổi 52 của Hồ Chí Minh, nếu cho rằng ông ta làm lúc ở tù tại Trung Quốc 1942. 

 

Bài sau đây chứng tỏ tác giả là một người Trung Hoa (Hán):

 

Anh nói (bài số 7)

Trung thành, ta vốn không thẹn

Lại bị hiềm nghi là Hán gian!

Vốn biết là đời không dễ xử

Đến nay càng khó xử muôn vàn!

 

Hán gian nghĩa là người Trung Hoa mà đi làm tay sai cho giặc. Nếu Hồ Chí Minh bị nghi làm tay sai cho người Trung Hoa th́ gọi là Việt gian.

 

Nhà ai hoa kết với đèn chưng

Quốc khánh vui reo cả nước mừng (bài 26)

 

Song Thập là ngày 10 tháng 10,  tức ngày lễ lớn của Trung Hoa. Hồ Chí Minh là người Việt Nam th́ hà cứ ǵ phải vui mừng trong  ngày lễ của nước khác. Hơn nữa, năm 1942, nếu coi như thơ của Hồ th́ lúc này bị ở nhà tù Tưởng Giới Thạch th́ tại sao lại reo vui với kẻ thù?

 

Một bài thơ nói lên cảnh tù văn minh, không thể là cảnh nhà giam ở Trung Quốc:

 

Nhà Ngục (Nam Ninh)

Pḥng giam kiến trúc rất ma-đăng

Đèn điện thâu đêm chiếu sáng trưng

Mỗi bữa chỉ v́ duy có cháo

Cho nên cái bụng sợ chằng chằng!

 

Ma-đăng là phiên âm chữ modern của tiếng Anh, nghĩa là hiện đại, văn minh. Chỉ có nhà tù ở Hong Kong mới xây bằng xi măng cốt sắt với kiến trúc tân thời, có đèn điện thâu đêm. Nhà giam ở Quế Lâm, Liễu Châu v.v.., lúc Hồ Chí Minh ở tù 1942 th́ làm ǵ có những tiện nghi như ở Hong Kong. Như vậy th́ chắc chắn bài thơ này của Già Lư ở tù 1932. Hơn nữa, trong "Những Mẩu Chuyện..." c̣n kể về 1942, Hồ Chí Minh đa phần bị xích xiềng, bị dẫn dắt đi từ nhà tù này tới nhà tù nọ trong nhiều tháng. Khi được nghỉ ngơi th́ Hồ lại chán, không biết phải làm ǵ. "Nhưng cụ khổ nhất là mất th́ giờ ngồi không. Trong khi Cụ Hồ la lết tấm thân mệt lử từ nhà giam này đến nhà giam khác, có lẽ những việc lớn đang dồn dập trong nước và trên thế giới." (trang 97).

 

Nhiều bài thơ trong Ngục Trung Nhật Kư thể hiện nhân cách một con người thoát tục, có tính siêu nhiên, tuy là một kẻ giang hồ. Một cái nh́n duy tâm của Già Lư trong:

 

Cảnh Chiều

Hồng nở rồi mai hồng lại rụng

Hoa tàn hoa nở những vô t́nh

Hương hoa bay thấy vào song ngục

Hương đến người tù tố bất b́nh!

 

Tư tưởng trên không thể là "tư duy" của những người cộng sản theo chủ thuyết duy vật. Khi ta đọc về Hồ Chí Minh của Trần Dân Tiên ta thây thể hiện một con người hoạt động đấu tranh, có tính mưu cầu. Hai nhân vật hoàn toàn khác nhau.

 

Phong cách thật của Hồ Chí Minh trong Ngục Trung Nhật Kư qua một ít bài thơ như:

 

Hạn chế (103)

Đau khổ chi bằng mất tự do

Đến buồn đi ỉa cũng không cho

Cửa tù khi mở, không đau bụng

Đau bụng th́ không mở cửa tù!

 

Thiên bảo ngục (31)

Năm mươi ba dặm, một ngày dài

Aó mũ dầm mưa, giày rạc rài

Chỗ ngủ yên thâu đêm chẳng có

Ngồi trên hố xí đợi ngày mai


Cảnh t́nh này rất đúng trong trường hợp Hồ Chí Minh làm bài thơ trên khi bị tù tại Trung Quốc 1942. Trong "Những Mẩu Chuyện..." (trang 96): "Ăn uống thiếu, không khí thiếu, bẩn thỉu, ở lẫn với những người mắc bệnh giang mai, nghiện thuốc phiện. Nhà tù thường chật ních, người đến sau không có chỗ nằm. Ban đêm Cụ Hồ thường ngồi trên cầu xí ở ngay trong pḥng giam. Nhưng cụ vẫn không được yên ổn. Lâu lâu cụ lại phải đứng dậy nhường chỗ cho một người đi ỉa đêm."  Ngôn ngữ và phong cách của hai bài thơ trên và trong sách Trần Dân Tiên hầu như giống nhau hoàn toàn. Cách dùng chữ rất trần trụi (ỉa) mà trong thơ Già Lư th́ nhă và kín đáo hơn.

 

Trần Dân Tiên cho đó là pḥng giam. Điều này chứng tỏ rằng những "nhà tù" mà Hồ Chí Minh trải qua trong giai đoạn 1942-1943 tại Trung Quốc chỉ là những trại giam với pḥng giam chật hẹp, khác hẳn nhà tù lớn ở Victoria Hong Kong. Đa phần những bài thơ của Già Lư nói về nhà tù, nhà lao, không phải pḥng giam.

 

Bài viết này chỉ đưa ra một vài điều chứng minh trong rất nhiều chi tiết mà học giả Lê Hữu Mục đă tŕnh bày. Tuổi trẻ tại Việt Nam đến ngày nay vẫn c̣n phải học cái gọi là "tác phẩm" văn học của Hồ Chí Minh. Một vài sách báo của Mỹ khi viết về ông Hồ trong giai đoạn bị tù 1942 lại dẫn chứng bằng những bài thơ tù trên. Đó là điều đáng tiếc!

 

Bút Sử

 


HCM Có Bao Nhiêu Tên Gọi, Bút Danh, Bí Danh?

                                                                                         

 

SAU ĐÂY LÀ TOÀN BỘ TÀI LIỆU ĐƯỢC TÓM TẮT VÀ TRÍCH RA TỪ SÁCH CỦA CỘNG SẢN VIỆT NAM: "NHỮNG TÊN GỌI, BÍ DANH, BÚT DANH CỦA CHỦ TỊCH HỒ CHÍ MINH" DO VIỆN BẢO TÀNG HỒ CHÍ MINH, NHÀ XUẤT BẢN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA HÀ NỘI, 2003. NGƯỜI VIẾT GHI LẠI TRUNG THỰC TINH THẦN VÀ NỘI DUNG CỦA QUYỂN SÁCH.

1. Nguyễn Sinh Cung, 1890. Đây là tên khai sinh tại làng Hoàng Trù, xă Chung Cự, tổng Lâm Thịnh, huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An, nay thuộc xă Kim Liên, huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An.

2. Nguyễn Sinh Côn. Trong một bài viết của Hồ Chí Minh, năm 1954, Hồ cũng ghi tên c̣n nhỏ của ḿnh là Nguyễn Sinh Côn.

3. Nguyễn Tất Thành, 1901. Tháng 9, 1901, nhân dịp ông Nguyễn Sinh Sắc, cha Nguyễn Sinh Cung, chuyển về sống ở làng Kim Liên, ông có làm lễ "chào làng" cho hai con trai với tên mới là Nguyễn Tất Đạt (Sinh Khiêm) và Nguyễn Tất Thành (Sinh Cung).

4. Nguyễn Văn Thành

5. Nguyễn Bé Con. Trong tài liệu đề ngày 6 tháng 2, 1920 của Tổng đốc Vinh cung cấp về Nguyễn Sinh Sắc và hai con trai có ghi con trai thứ của Nguyễn Sinh Sắc là Nguyễn Bé Con. Tài liệu mật thám Pháp theo dơi hoạt động của Nguyễn Ái Quốc, bản ghi số 1116, 1931: Nguyễn Ái Quốc hay Nguyễn Tất Thành tức Nguyễn Sinh Côn hay Nguyễn Bé Con tức Lư Thụy...

6. Văn Ba, 1911. Ngày 5-6-1911 Nguyễn Tất Thành rời Việt Nam làm việc trên một chiếc Tàu Pháp. Trong sổ lương của tàu có tên Văn Ba.

7. Paul Tat Thanh, 1912. Ngày 15 tháng 12, 1912, Nguyễn Tất Thành từ New York gửi thư cho khâm sứ Trung Kỳ nhờ t́m địa chỉ của thân phụ là Nguyễn Sinh Huy. Lá thư kư tên Paul Tất Thành.

8. Tất Thành, 1914. Từ nước Anh Nguyễn Tất Thành gửi thư cho Phan Chu Trinh kư tên Tất Thành. Hiện có bốn lá thư được sưu tầm kư tên Tất Thành. Một thư kư Cuồng Điệt Tất Thành, ba thư kư C.Đ Tất Thành.

9. Paul Thanh, 1915. Ngày 16 tháng 4, 1915, Nguyễn Tất Thành viết thư cho toàn quyền Đông Dương qua lănh sự Anh tại Saigon nhờ t́m địa chỉ cha ḿnh. Thư kư tên Paul Thanh.

10. Nguyễn Ái Quốc, 1919. Tên này có khi Nguyễn Tất Thành ở Pháp cùng sinh hoạt chung với nhóm người gồm các ông Phan Chu Trinh, Phan Văn Trường, Nguyễn Thế Truyền, Nguyễn An Ninh. Nguyễn Tất Thành là người đến gia nhập nhóm sau cùng.

11. Phéc-đi-năng

12. Albert de Pouvourville, 1920. Báo Điện Tín Thuộc Địa có truyền đơn trích đoạn từ nhiều tờ báo có liên quan tới vấn đề Đông Dương. Người đăng kư tên Albert de Pouvourville.

13. Nguyễn A.Q., 1921-1926. Hai bài báo kư tên Nguyễn A.Q. có tựa "Hăy Yêu Mến Nước Pháp, Người Bảo Hộ Các Anh." đăng trên báo Người Tự Do, ngày 7 đến 10, 1921. Nguyễn A.Q. c̣n được kư dưới tranh biếm hoạ ngày 1 tháng 8, 1926.

14. Culixe, 1922. Nguyễn Ái Quốc kư bút danh Culixe trong một bài viết trên L'Humanité ngày 18 tháng 3, 1922.

15. N.A.Q., 1922. Bút danh này trên báo Le Paria và L'Humanité từ 1922-1930.

16. Ng.A.Q., 1922. Bút danh này trên báo Le Paria từ 1922-1925.

17. Henri Tran, 1922. Henri Tchen là tên ghi trong thẻ đảng viên Đảng Cộng Sản Pháp của Nguyễn Ái Quốc. Số thẻ: 13861.

18. N. 1923. Nguyễn Ái Quốc dùng bút danh N. trong các năm 1923-1928 trên Le Paria.

19. Chen Vang, 1923. Ngày 13 tháng 6, 1923, Nguyễn Ái Quốc bí mật rời Paris đi Liên Sô, Tổ Quốc Cách Mạng. Ngày 16 tháng 6, 1923, Nguyễn Ái Quốc đến nước Đức. Tại đây, Nguyễn được cơ quan đặc mệnh toàn quyền Cộng Ḥa Xă Hội Chủ Nghiă Sô Viết Liên Bang tại Berlin cấp cho giấy đi đường số 1829. Trong giấy này Nguyễn Ái Quốc mang tên Chen Vang.

20. Nguyễn, 1923. Bút danh này trong các năm 1923, 1924, 1928 trên Le Paria.

21. Chú Nguyễn, 1923. Thư này Nguyễn Ái Quốc gửi đến các bạn cùng hoạt động tại Pháp trước khi rời Paris đi Liên Sô.

22. Lin, 1924. Nguyễn Ái Quốc dùng tên Lin trong thời gian ở Liên Sô từ 1923-1924 và 1934-1939. Tên Lin xuất hiện lần đầu tiên trong bức điện thư gửi Ban Phương Đông của Quốc Tế Cộng Sản, đề ngày 14 tháng 4, 1924. Tháng 10, 1934, Lin được nhận vào trường Quốc Tế Lenin Liên Sô, năm học 1934-1935. Tên Lin số hiệu 375. Tháng 8, 1935, Lin dự đại hội lần thứ VII của Quốc Tế Cộng Sản.

23. Ái Quốc, 1924. Ái Quốc là tên ghi trong thẻ dự đại hội V Quốc Tế Cộng Sản, tháng 6, 1924. Tháng 8, 1927 Nguyễn Ái Quốc gửi đồng chí Francois Billous tấm bưu ảnh, trong đó kư tên Ái Quốc. Sau này c̣n một số thư khác với tên Ái Quốc.

24. Un Annamite, 1924. Bút danh Annamite được kư dưới một bài viết trên Le Paria.

25. Loo Shing Yan, 1924. Bài "Thư Từ Trung Quốc, số 1", ngày 12 tháng 11, 1924, Nguyễn Ái Quốc viết về phong trào cách mạng Trung Quốc, sự thức tỉnh, giác ngộ cách mạng cho phụ nữ Trung Quốc, gửi tạp chí Rabotnhitxa. Trong bài này Nguyễn Ái Quốc kư tên Loo Shing Yan, một nữ đảng viên Quốc Dân Đảng. Nguyễn Ái Qúôc gửi thư cho ban biên tập tạp chí, ngày 12 tháng 11, 1924, giải thích: " Khi tôi c̣n ở Quốc Tế Cộng Sản, tôi rất phấn khởi được đôi lần cộng tác với tờ báo của các đồng chí. Nay muốn tiếp tục sự cộng tác ấy. Nhưng v́ tôi ở đây hoạt động bất hợp pháp, cho nên tôi gửi bài cho các đồng chí  dưới h́nh thức "Những bức thư từ Trung Quốc" và kư tên một phụ nữ. Tôi nghĩ rằng làm như vậy bài viết có tính chất độc đáo hơn và phong phú hơn đối với độc giả, đồng thời cũng đảm bảo giữ được tên thật của tôi."

26. Ông Lu, 1924. Ngày 12 tháng 11, 1924, Nguyễn Ái Quốc viết thư gửi một đồng chí trong Quốc Tế Cộng Sản báo tin ông ta đă đến Quảng Châu, Trung Quốc. Cuối thư đề điạ chỉ liên lạc: Ông Lu, Hăng thông tấn Roxta, Quảng Châu, Trung Quốc. Sau này trong nhiều thư khác Nguyễn Ái Quốc cũng ghi địa chỉ liên lạc là Ông Lu.

27. Lư Thụy, 1924. Nguyễn Ái Quốc dùng bí danh Lư Thụy trong thời gian hoạt động ở Trung Quốc. Ngày 11 tháng 11, 1924, Nguyễn Ái Quốc đến Quảng Châu với các giấy tờ tùy thân mang tên Lư Thụy. Trong bức thư gửi Quốc Tế Cộng Sản, ngày 18 tháng 12, 1924, Nguyễn Ái Quốc ghi ở cuối thư:" Trong lúc này tôi là một người Trung Quốc, chứ không phải là một người An Nam, và tên tôi là Lư Thụy chứ không phải là Nguyễn Ái Quốc."

28. Lư An Nam, 1924-1925. Nguyễn Ái Quốc hoạt động ở Quảng Châu với bí danh Lư Thụy, làm phiên dịch trong văn pḥng của Đoàn cố vấn Sô Viết. Lư Thụy cũng có biệt danh là Lư An Nam lúc này.

29. Nilopxki(N.A.Q.), 1924. Cuối năm 1924, Nguyễn Ái Quốc tới Quảng Châu, Trung Quốc, làm việc tại cơ quan của Borodin. Hiện sưu tầm được tất cả 6 lá thư Nguyễn Ái Quốc kư tên Nilopxki.

30. Vương, 1925. Là giảng viên huấn luyện chính trị tại Quảng Châu, Nguyễn Ái Quốc lấy tên là Vương. Vương cũng là bí danh khi ông ta bắt liên lạc với Nguyễn Lương Bằng ở Trung Quốc, 1925.

31. L.T., 1925. Nguyễn Ái Quốc kư tên L.T. gửi thư cho ông H (Thượng Huyền) ngày 9 tháng 4, 1925. Sau ngày Nguyễn Ái Quốc c̣n viết khoảng 15 bài trên báo Nhân Dân với bút hiệu L.T. từ các năm 1949, 1957, 1958, 1960.

32. Howang T.S., 1925. Ngày 2 tháng 5, 1925, Nguyễn Ái Quốc lấy bút hiệu Howang viết về đại hội công nhân và nông dân.

33. Z.A.C., 1925. Bút hiệu này được đăng trên báo Thanh Niên.

34. Lư Mỗ, 1925. Báo Công Nhân Chi Lộ Đặc Hiệu, số 20, ra ngày 14 tháng 7, 1925, đă đưa tin một người Việt Nam gia nhập đội diễn thuyết và để giữ bí mật, Nguyễn Ái Quốc có tên là Lư Mỗ.

35. Trương Nhược Trừng, 1925.

36. Vương Sơn Nhi, 1925. Viết trên báo Thanh Niên với bút danh Vương Sơn Nhi, Trương Nhược Trừng.

37. Vương Đạt Nhân, 1926. Với bút danh này, Nguyễn Ái Quốc được Đoàn Chủ Tịch Đại Hội đại biểu toàn quốc lần thứ 2 của Quốc Dân Đảng Trung Quốc mới đến dự và phát biểu ư kiến. Ngày họp là 14 tháng 1, 1926.

38. Mộng Liên, 1926. Mộng Liên được kư dưới bài viết "Mục Dành Cho Phụ Nữ" đăng trên báo Thanh Niên, số 40, ngày 4 tháng 4, 1926.

39. X., 1926. Bút danh này dùng trong các năm 1926, 1927. X. viết loạt bài nhan đề "Các Sự Biến Ở Trung Quốc", đăng trên 7 số báo L'Annam.

40. H.T., 1926. Cùng với bút danh Mộng Liên, H.T. là bút danh của Nguyễn Ái Quốc viết bài cho báo Thanh Niên. "C̣n một số bút danh khác như Hạ Sĩ, Hương Mộng, Diệu Hương v.v.. có thể cũng là bút danh của Nguyễn Ái Quốc, bởi lúc đó chưa có nhiều người viết bài cho báo Thanh Niên."

41. Tống Thiệu Tổ, 1926. Theo hồi kư của một số người hoạt động ở Quảng Châu, Trung Quốc, Tống Thiệu Tổ là bí danh của Nguyễn Ái Quốc khi ông ta hoạt động ở Qủang Châu, Trung Quốc.

42. X.X., 1926. Nguyễn Ái Quốc kư bút danh này trên một bài đăng trong Inprekorr, số 91, ngày 14 tháng 8, 1926.

43. Wang, 1927. Bài viết dưới bút danh Wang được đăng trên Thư Tín Quốc Tế (Inprekorr).

44. N.K., 1927. Cũng trong Thư Tín Quốc Tế.

45. N. Ái Quốc, 1927.

46. Liwang, 1927. Ngày 16 tháng 12, 1927, từ Berlin Nguyễn Ái Quốc viết thư cho Đoàn Chủ Tịch Quốc Tế Nông Dân, đề nghị giúp đỡ tiền để về nước. Thư viết: "Trong 2 hoặc 3 tuần nữa tôi  sẽ trở về đất nước tôi. Chuyến đi của tôi tốn chừng 500 dollars Mỹ. V́ tôi không có tiền nên tôi mong các đồng chí giúp tôi." Thư kư tên N. Ái Quốc. Trong thư, Nguyễn Ái Quốc đề nghị nếu có tiền xin gửi đến Uỷ Ban Trung Ương của Đảng Cộng Sản Đức, chuyển cho  "Liwang."

47. Ông Lai, 1927. Cũng trong thư gửi Đoàn Chủ Tịch Quốc Tế Nông Dân, ngày 16 tháng 12, 1927, Nguyễn Ái Quốc ghi địa chỉ trả lời thư: M. Lai, chez M. Eckshtein, 21, Halle Chactrasse, Berlin.

48. A.P., 1927. A.P. viết bài "Văn Minh Pháp ở Đông Dương" trên Inprekorr.

49. N.A.K., 1928. Trong thư gửi Quốc Tế Nông Dân đề ngày 3 tháng 2, 1928.

50. Nguyễn Lai, 1928. Với thẻ nhập cảnh mang tên Nguyễn Lai, một Hoa kiều, Nguyễn Ái Quốc đặt chân tới đất Xiêm (Thái Lan).

51. Thọ, 1928

52. Nam Sơn, 1928. Tại Thaí Lan khi họp với người Việt cư  ngụ tại Thái Lan, Nguyễn Ái Quốc tự giới thiệu là Thọ, biệt hiệu Nam Sơn.

53. Chín (Thầu Chín), 1928. Đầu tháng 8, 1928, Nguyễn Ái Quốc tới Udon, Thái Lan, ông lấy tên là Chín. Mọi người gọi là Thầu Chín hay ông già Chín.

54. Victor Lebon, 1930. Victor Lebon, 123 av. de la République, Paris, France là điạ chỉ Nguyễn Ái Quốc ghi để nhận thư của đại diện Đảng Cộng Sản Pháp tại Quốc Tế cộng Sản và các đồng chí trong Đảng Cộng Sản Liên Sô. Ngày 27 tháng 2, 1930, Nguyễn Ái Quốc gủi thư cho đại diện Đảng Cộng Sản Pháp tại Quốc Tế Cộng Sản thông báo về việc Đảng Cộng Sản Việt Nam được thành lập, yêu cầu được cung cấp tài liệu để tuyên truyền và giáo dục, đồng thời đề nghị Đảng Cộng Sản Pháp giúp đỡ v.v.. Nguyễn Ái Quốc ghi điạ chỉ nhận thư của ḿnh như ghi trên.

55. Ông Lư(Lee), 1930. Mr. Lee, The HongKong Shiao Fih Pao, 53, Wyndham Str, HongKong là tên và địa chỉ  để nhận sách báo. Với tên và địa chỉ này Nguyễn Ái Quốc gửi cho đại diện Đảng Cộng Sản Mỹ ngày 27 tháng 2, 1930.

56. Ng. Ái Quốc, 1930.

57. L.M.Vang, 1930. Ngày 27 tháng 2, 1930, Nguyễn Ái Quốc gửi thư cho văn pḥng đại diện Đảng Cộng Sản Đức ở Quốc Tế Cộng Sản đề nghị xin cho ông ta một giấy chứng nhận là phóng viên báo Thế Giới. Thư kư tên Ng. Ái Quốc. Trong thư ông viết: " Trong hoàn cảnh tôi sống không hợp pháp, tôi cần có một nghề để nói với người khác. Tội đóng vai phóng viên báo chí. Nhưng cần phải chứn