quoc te cong san

Ho Chi Minh 

 Hồ Chí Minh- Một trong 13 nhà độc tài đẫm máu thế kỷ 20

 Ai Chia Cắt Đất Nước Việt Nam?

Hồ Chí Minh_Chân Dung Thật của Môt Con Người

Nước Mắt Cộng Sản

 Tai Sao Dam Vinh Hung bi Chong Doi

 80 Năm Còn Ngủ Chưa Tỉnh Thức

 Tuyên Truyền Tẩy Não Kỳ Dị

Tu Tuong Cac Ke

 Tai Sao Co Chien Tranh Viet Nam? 

 Hội Nghị Fontainebleau 

 Nguyen Ai Quoc chong Phap tai Phap. Phap nao?

Tội Bán Nước của HCM

Cuộc Chiến Tranh Ý Thức Hệ: 1946-1954

Hồn Dân Tộc của Hồ Chí Minh?

Phim Vietnam Vietnam  

 Nguyễn Minh Triết: Tái Xác Nhận Vai Trò QTCS    

Cũ Rich Đầy Mau Thuẫn

Một Chuỗi Dai Lam Tay Sai kể từ 19.8.1945

Bien Co Tam Toa va Hanh Dong Nem Da Giau Tay

Xảo Thuật về Hinh Ảnh HCM ngay 2/9/1945

Diễn Biến Trước va Sau 19/8/1945

Hồn Dan Tộc của Hồ Chi Minh?

Ngục Trung Nhật Ky khong phải của HCM

Nhung Nguoi Dan Ba cua HCM va Me cua Nong Duc Manh la ai?

Hồ Chí Minh và Đảng bán nước mấy lần?

Ai La Mẹ của Nong Đức Mạnh?

Hồ Chí Minh Có Chống Pháp Không?

Hồ Chí Minh và Đảng bán nước mấy lần?

HCM Co Bao Nhieu Ten Gọi, But Danh, Bi Danh?

OSS và HCM

Con Co Do Sao Vang thi khong bao gio co Doc Lap Tu Do Hanh Phuc

 Tội nói láo

Tại Sao HCM dùng Tuyên Ngôn Độc Lập của HK trong ngày 2/9/45?

Hồ Chí Minh chạy về tổ quốc Liên Sô

Khong Nen Để Cai Xac Kho Giữa Ha Nội

Ảnh Hưởng của Lenin trong HCM                                                            

UNESCO và vụ vinh danh HCM                                                                Đêm của Con Rồng (Night of the Dragon, 1966)                      

 

 
(Bàn Tay Máu của Hồ Chí Minh) 

The Blood Red Hands of Ho Chi Minh

Ho Chi Minh and the OSS   

War Against Communist in Vietnam 1946-1954

resolution 1481 Europe 2006.pdf

The Universal Declaration of Human Rights:

 http://www.un.org/en/documents/udhr/


 

 Thời báo Ba Lan ‘xếp hạng’ Hồ Chí Minh đứng tên trong 13 nhà độc tài đẫm máu nhất thế kỉ 20

HLTL3/16/2013

Hồ Chí Minh- Ảnh trên tờ Polska Times

 

Hồ Chí Minh- Ảnh trên tờ Polska Times
Tờ Polska Times tức Thời báo Ba Lan hôm 5/3 vừa đưa ra một bản xếp hạng 13 nhà độc tài đẫm máu nhất thế kỉ 20, trong đó có Hồ Chí Minh. Theo đó, Hồ Chí Minh qua 24 năm cầm quyền của mình đã gây ra cái chết của 1,7 triệu người Việt qua cuộc chiến tranh đẫm máu.
Cũng như nhiều sự bình chọn trước đó của các trang mạng khác, các nhà độc tài thuộc 3 thể chế chính trị: Phát xít, Cộng sản và Quân phiệt.
Những nhân vật của Polska Time như sau:
* 1 – Ismail Enver, Thổ Nhĩ Kỳ, cầm quyền 1913-1918, chịu trách nhiệm về cái chết của 1,1 đến 2,5 triệu người; tội ác lớn nhất: diệt chủng người Armenia
* 2 – Kim Nhật Thành, Bắc Triều Tiên, cầm quyền 1948-1994, chịu trách nhiệm về cái chết của 1,6 triệu người; tội ác lớn nhất: chiến tranh Triều Tiên
* 3 – Hồ Chí Minh, Việt Nam, cầm quyền 1945-1969, chịu trách nhiệm về cái chết của 1,7 triệu người; tội ác lớn nhất: chiến tranh Việt Nam
*4 – Pol Pot, Campuchia, cầm quyền 1975-1979, chịu trách nhiệm về cái chết của 1,7 – 2,4 triệu người; tội ác lớn nhất: diệt chủng ở Campuchia
* 5 – Saddam Hussein, Irad, cầm quyền 1969-2003, chịu trách nhiệm về cái chết của 2 triệu người; tội ác lớn nhất: diệt chủng người Kurd
*6 – Yahya Khan, Pakistan, cầm quyền 1969-1971, chịu trách nhiệm về cái chết của 2 đến 12 triệu người; tội ác lớn nhất: diệt chủng ở Bangladesh
*7 – Hideki Tojo, Nhật Bản, cầm quyền 1941-1944, chịu trách nhiệm về cái chết của 4 triệu người; tội ác lớn nhất: hành quyết thường dân trong chiến tranh thế giới thứ II.
* 8 – Vladimir Lenin, Nga, cầm quyền 1917-1924, chịu trách nhiệm về cái chết của 4 triệu người; tội ác lớn nhất: nội chiến ở Nga
* 9 – Hoàng đế Hirohito Nhật Bản, cầm quyền 1926-1989, chịu trách nhiệm về cái chết của 6 triệu người; tội ác lớn nhất: thảm sát ở Nam Kinh
* 10 – Tưởng Giới Thạch, Trung Quốc, cầm quyền 1928-1949, chịu trách nhiệm về cái chết của 10 triệu người; tội ác lớn nhất: thảm sát tại Đài Loan vào năm 1947
* 11 – Adolf Hitler, Đức, cầm quyền 1933-1945, chịu trách nhiệm về cái chết của 17-20 triệu người; tội ác lớn nhất: Holocaust
* 12 – Joseph Stalin, Nga, cầm quyền 1924-1953, chịu trách nhiệm về cái chết của 40-62 triệu người; tội ác lớn nhất: Trại tập trung Gulag
* 13 – Mao Trạch Đông, Trung Quốc, cầm quyền 1943-1976, chịu trách nhiệm về cái chết của 45-75 triệu người; tội ác lớn nhất: nạn đói lớn và Cách Mạng Văn Hóa.
Cũng cần nói thêm, Polska Times là tờ báo có số lượng truy cập khá lớn. Theo Alexa Ranking, lượng người đọc của tờ này đứng hạng thứ 30.000 trong số hàng chục triệu trang mạng trên toàn thế giới.
© Đàn Chim Việt
Nguyên bản tiếng Ba Lan tại đây

 

Hồ Chí Minh_Chân Dung Thật của Môt Con Người

Ai Chia Cắt Đất Nước Việt Nam?

Nước Mắt Cộng Sản

In youth one has tears without grief, in old age grief without tears -Jean Paul . Khi trẻ người ta có nước mắt không cần đau xót, khi tuổi già đau xót không có nước mắt. Trên là câu để đời của nhà văn Jean Paul. Tư tưởng này có giá trị nên mới được liệt vào những câu trích dẫn nổi tiếng cho hậu thế (Famous Quotes about Tears). Như vậy thì hằng ngàn người lớn tuổi và trẻ con tại Bắc Hàn tuần qua ra đường dập đầu rên la than khóc khi lãnh tụ Kim Jong Il qua đời hoá ra không được áp dụng cho những điều ghi trên ?

Chắc chúng ta không quên nhớ lại hiện tượng những giọt nước mắt nổi tiếng khác cách nay trên 55 năm tại miền Bắc Việt Nam - giọt nước mắt của ông Hồ Chí Minh sau khi giết hàng ngàn điạ chủ và nông dân vô tội trong chiến thuật “Cải Cách Ruộng Đất”. Nhiều hình ảnh ghi lại các nơi ông Hồ đi dự ông đều mang theo khăn “mousoir” tay để lau nước mắt. Thời gian này là sau những trận giết người mà ngay sách báo cộng sản ghi là “kinh thiên động địa”. 

Theo lệnh của đàn anh Liên Sô và Trung Cộng, Hồ Chí Minh đã phóng ra chiến thuật tàn sát hằng ngàn người vô tội. Qua chỉ tiêu phải giết 5% (gọi là địa chủ miền Bắc) thì con số bị giết phải lên đến hơn 500 ngàn. Dù không có tài liệu chính xác về con số này, nhưng qua những quan sát và nhận xét của những học giả thì trên thực tế không chỉ chết tại nơi đấu tố mà chết trong trại giam vì đói rét bệnh tật, chết vì người trong gia đình giết nhau để giành sự sống, con cháu chết vì lang thang không nơi nương tựa sau khi cha mẹ, ông bà bị giết (Em Bé Lên Sáu Tuổi -Thơ Hoàng Cầm). 

Người địa chủ bị mang ra xử tử để làm gương là bà Nguyễn Thị Năm. Bà Năm lại là người đóng góp cho phong trào Việt Minh rất nhiều về vật chất (100 lạng vàng), cũng như có hai người con trai nắm vai trò then chốt trong nhóm . “Tuần Lễ Vàng” là chiến dịch thu góp vàng của dân chúng mà Hồ Chí Minh tung ra nhằm dùng chúng cho việc hối lộ tướng Lư Hán để rút quân, cơ hội cho phe Võ Nguyên Giáp tấn công các đảng phái quốc gia (quân Tưởng Giới Thạch đóng ở miền Bắc nhiệm vụ giải giới tàn quân Nhật). Một phần ông mang qua Pháp tiêu dùng cho những ngày dự Hội Nghị Fontainebleau. 

Phim tài liệu do nhà báo Mỹ Walter Cronkite (host) có đoạn giáo sư Bernard Fall (học giả về chiến tranh Việt Nam) đại khái cho rằng: Hồ Chí Minh là một người cộng sản được huấn luyện hoạt động ở ngoài Việt Nam nhiều năm. Quyết định của ông ta là có sự suy nghĩ kỹ lưỡng, tính chất của những người Tây phương không theo cảm tính. Hồ chỉ huy nhiều cuộc tàn sát, thanh trừng, nhưng ông ta núp cho người ta nhìn có khoảng cách xa những tay sai hành động tàn ác này.

Xét trên thực tế thì những lãnh tụ phe cộng sản qua đời thì đất nước họ như bị thiên tai. 1969 có Hồ Chí Minh, 1976 có Mao Zedong, 1994 có Kim Sung Il, và nay 2011 thì có Kim Jong Il. Bỏ qua những giọt nưóc mắt của trẻ con bởi vì họ còn khờ dại, chưa chửng chạc nhận ra đâu là sự thật mà khóc vì bị người lớn xung quanh kích thích. Diễn đạt theo ý của nhà văn Jean Paul cũng có thể hiểu là người lớn mà khóc ồn ào như vậy thì chỉ là rỗng toét, bởi đau khổ càng cao thì sức chịu đựng của con người càng thâm hậu. Không thể la hét rên rỉ để chứng tỏ sự đau xót đến mức tận cùng. Như vậy người ta có thể phân tích hiện tượng khóc của khối người lớn trong xã hội cộng sản qua cái nhìn không gì gọi là phức tạp.

Ở Việt Nam có hơn 3 triệu đảng viên. Nói chung họ có điều kiện để tạo cuộc sống sung túc hơn so với khối đa số, những người thuộc phe bị trị. Nếu lãnh tụ của họ qua đời chắc chắn họ phải cảm thấy có thái độ xúc động, có bổn phận bảo vệ nhau, trên là điểm tựa của kẻ dưới và tiếp tục như vậy. Những người lớn này một phần cũng là nạn nhân của chủ trương nhồi sọ, tẩy não từ bé nên dù lớn tuổi họ vẫn tin những điều sai lầm tiềm tàng lâu năm trong đầu óc họ. Những thành phần thuộc phe của chế độ, họ là đảng viên, cán bộ, công an, quân đội lúc nào bề ngoài cũng phải có bổn phận ca ngợi Hồ Chí Minh, coi đó như cái phao cuối cùng mà họ khai thác về mặt chính nghĩa. Với chủ thuyết cộng sản không khởi sắc, bởi nó không tưởng, mông lung và sơ cứng, không có gì ngoài việc xưng tôn lãnh tụ.

Xin điểm qua một vài nét về những cái khóc trong xã hội cộng sản Việt Nam và Bắc Hàn:

Hồ Chí Minh một nhân vật quốc tế cộng sản mà nhiều sách cộng sản đánh bóng, tuyên dương vai trò làm tay sai cho Nga Tàu, bắt toàn dân phải theo một chủ thuyết ngoại lai, vô nhân bản, nhất là tính vô thần phản lại truyền thống dân tộc trong lịch sử hơn bốn ngàn năm. Hồ Chí Minh lăng xăng nhiều năm với những lãnh tụ, tốn nhiều sách báo viết về Marx, Lenin, Stalin, Mao. Hồ rất trung thành với đàn anh Nga Tàu, mặc dù Nga và Tàu bản thân họ không chung thủy nhau, thế nên mới có vấn đề cộng sản Việt Nam có truyền thống đi hàng hai, không bao giờ trong tư thế độc lập, ngay cả ngày nay cũng vậy.

  

Nhìn hình trên, có người cho đây là hình ảnh của những giọt “nước mắt cá sấu”. Nước mắt của ông Hồ được ví như của một kịch sĩ. Nếu Hồ Chí Minh thực tâm biết mình làm sai, giết quá nhiều đồng bào vô tội để phục vụ cho quyền lợi quốc tế, thì tại sao ông không rời bỏ ngay hàng ngũ cộng sản trong giai đoạn đó? Trước những nơi đông người, Hồ cứ lấy khăn lau nước mắt để mua chuộc lòng vị tha của người dân chăng? Ở những quốc gia trọng pháp thì giết người là phải đền tội, còn Hồ thì giết hằng ngàn người rồi khóc thôi để bù trừ tội lỗi. Nói trên radio, Hồ cũng khóc. Đây được coi như cả một sự chuẩn bị dàn dựng để được những tấm ảnh ghi vào lịch sử “Cải Cách Ruộng Đất” - giết người xong rồi lên tiếng là “phạm sai lầm”.

Hồ Chí Minh chết ngày 2/9/1969. Nước mắt của những người cộng sản thân cận mang ý nghĩa gì đây? Chưa xâm lăng xong miền Nam thì Hồ lại chết đúng ngay ngày kỷ niệm ra đời chính phủ "Việt Nam Dân Chủ Cộng Hoà" ngày 2/9/1945. Trẻ em khóc vì bị kích động. Một chế độ chủ trương tẩy não con người là phải yêu thương một người quốc tế cộng sản hơn là cha mẹ, ông bà, tổ tiên.

Khi hô hào tiêu diệt cường hào ác bá, lên án độc tài chuyên chế của các vua chúa, cộng sản tạo lòng căm thù trong dân chúng để hùa theo làm “cách mạng”. Khi thành công thì chế độ cộng sản còn độc tài hơn nhiều lần vua chúa. Cha truyền cho nối. Nông Đức Mạnh, tổng bí thư đảng 2 nhiệm kỳ, là con của Hồ Chí Minh mà nhiều tài liệu đã trưng bày. Kim Sung Il thì truyền lại cho Kim Jong Il. Nay Kim Jong Un con trai của Kim Jong Il “nối ngôi” cha lên làm lãnh tụ mặc dù mới chỉ 27 tuổi thôi.

 

Nhiều năm nay, thời Kim Jong Il thế giới đã từng lên án nhà nước cộng sản này chỉ lo chế vũ khí nguyên tử, súng đạn để hù dọa khối tự do, còn dân thì chết đói tính đến nay đã hơn 1 triệu người. Hàng năm Liên Hiệp Quốc và Nam Hàn phải chở thức ăn cứu nạn đói triền miên tại đây.

Ngày 18/12/2011 đài truyền hình Bắc Hàn tuyên bố Kim Jong Il chết. Tiếp theo là những bàn luận của thế giới Tây phương và không cộng sản về những trận khóc của dân chúng kể cả các cấp có quân hàm chức vị. Họ dập đầu xuống đất, đập ngực la hét làm người ta có cảm tưởng như trò hề. Có những câu hỏi là có phải họ khóc thật hay không? Sao mà giống trẻ con quá? v.v.. Ít nhất có một cô gái tại hiện trường trả lời cho phóng viên ABC rằng: thế hệ tôi ý thức ra sự sai và đúng, còn thế hệ cha mẹ tôi thì bị tẩy não.

 

Nhờ kỹ thuật thông tin hiện đại, một số người trong xã hội bưng bít của cộng sản đã phát hiện ra những sự thật và thay đổi quan niệm về thể chế mà họ đang sống.

Tin AP ghi ông Song Byeok, 42 tuổi , một hoạ sĩ trốn từ Bắc Hàn qua Nam Hàn năm 2002, phát biểu : Tôi nghĩ rằng sau khi nghe tin ông Kim chết, một ngọn gió tự do dân chủ cuối cùng thì cũng có thể thổi vào Bắc Hàn. Một học sinh tên Lee Hyeon-seo, 30 tuổi, rời Bắc Hàn vào giữa thập niên 90 nói: Tôi nhớ rất rõ về việc tuyên truyền trong học đường ngay cả lúc đó tôi là một cô gái nhỏ. Tại Bắc Hàn, học giỏi về toán và Anh văn không quan trọng bằng giỏi về những bước lịch sử làm cách mạng của Kim Sung Il. Bây giờ tôi biết đó là giả tạo, nhưng chúng tôi đã phải nhồi nhét càng nhiều càng tốt những sử học ấy vào đầu óc. Chúng tôi phải khó khăn lắm để có điểm cao về môn đó trong trường.

("I remember the propaganda education vividly even though I was a girl," she said. "In North Korea, excelling at math or English is less important than being good at the history of Kim Il Sung's revolutionary steps. Now I know it's fake, but we had to cram as much of the history in our heads as possible. We struggled to get high marks on the subject in school.)

Chủ trương tẩy não trong chế độ cộng sản thật vô cùng lợi hại. Kinh nghiệm lịch sử cho thấy cả xã hội miền Bắc Việt Nam vì bị tuyên truyền một chiều mà tin rằng Mỹ xâm lăng miền Nam, đến hơn 20 năm sau mới vỡ lẽ ra là mình bị nhồi sọ những điều không thật. Ngày nay chúng ta thấy những trận khóc còn hơn năm 1994 lúc Kim Sung Il chết, không làm xúc động người xem mà ngược lại còn quaí dị. Gọi là "trận khóc" vì nó khá lớn của già, trẻ, đàn ông, đàn bà, đảng viên, cán bộ, quân đội, công an...Từ nay xin được thêm một ngôn từ mới cho dồi dào thêm văn hoá người cộng sản - nước mắt cộng sản. Đó là hình ảnh của một Bắc Hàn mà hầu như thế giới trước đây khi nhắc đến quốc gia này người ta hay nghĩ tới vũ khí nguyên tử và trên triệu người chết đói.

 Khủng bố tinh thần người dân một cách trắng trợn qua một bản tin của hang ABC dựa trên một trang mạng từ Bắc Hàn. Nhà nước Bắc Hàn có một danh sách ghi tên họ những thành phần mà họ cho rằng khóc không thật, không tỏ thái độ thương tiếc Kim Jong Il đúng mức. Việc này xảy ra sau khoang 2 tuan ngay tang lễ. Những người khóc dối này bị đưa đi làm lao động 6 tháng như bản tin ghi.

 Bút Sử

13/1/2012 

 

 North Korea reportedly punishing insincere mourners

January 13, 2012


North Korean authorities are punishing mourners who failed to exhibit sincere sadness and despair after the death of Kim Jong Il on Dec. 17, the Daily NK reported Wednesday.


The online North Korean newspaper, which is published by opponents of the governing regime, said a source in North Hamkyung Province revealed the information. The source told the paper “authorities are handing down at least six months in a labor-training camp to anybody who didn’t participate in the organized gatherings during the mourning period, or who did participate but didn’t cry and didn’t seem genuine,” according to the Daily NK.

There are an estimated 200,000 offenders and families held in North Korean prison camps, according to a May 2011 report from Amnesty International. The report details two types of camps known as “zones.” One zone, known as a Total Control Zone, is for people who have committed “serious crimes.” People in these camps are never released.

The second type of zone, called a Revolutionary Zone, are camps for people who have committed what North Korean authorities perceive as less serious crimes. These crimes may include making critical comments toward government policy or trying to cross the border. Sentences in Revolutionary Zone camps can range from a few months to 10 years.

The report estimates that 40 percent of inmates in the camps will die from malnutrition, and every former inmate interviewed for the report had witnessed at least one public execution while being held.

The late Hwang Jang Yop, a North Korean defector and former official, described similar punishments after the death of Kim Il Sung, Kim Jong Il’s father and the founder of North Korea, in 1994.

“The party conducted surveys to see who displayed the most grief, and made this an important criterion in assessing party members’ loyalty,” Yop wrote. “Patients who remained in hospitals and people who drank and made merry even after hearing news of their leader’s death were all singled out for punishment.”

The Daily NK said its source also reported that North Koreans who were accused of being critical of the country’s dynastic system were being sent to re-education camps or banished with their families to remote areas.

North Korea today said that Kim Jong Il’s body will be embalmed and enshrined in the palace that houses his father’s remains. The country also said it plans to build a new Kim Jong Il statue and construct “towers to his immortality.”

 


War Against Communism in Vietnam 1946-1954

 Brief explanation about  Ho Chi Minh during 1945-1946

Evidences

March 9, 1945: Japanese overthrown French (being fear the Allies marching to Indochina)

March 11, 1945: Emperor Bao Dai declared Vietnam Independent. The protectorate treaty 1884 between French and Vietnam was torn up.

April 17, 1945: Government was established under leader Tran Trong Kim with many intellectuals. The yellow flag with 3 red stripes was the first independent symbol of Vietnam after 80 years under French colonist.  During this term (April – August, 1945) the government had performed signifìcant tasks such as transported rice and foods from the South to North for the famine, reformed the administration, unified the governments as well as the laws, replaced the French personnel by the Vietnamese, issued regulations to teach students Vietnamese, organized youth groups, etc…

August 6 and 9, 1945: U.S. dropped bombs at Hiroshima and Nagasaki. Japanese surrendered.

August 17, 1945: Taking advantage of “power vacuum”, Viet Minh (communist under leader Ho Chi Minh) stole the government workers meeting at Nha Hat Lon and turned it into political act. The yellow flag with 3 red stripes was replaced by the red flag.

August 19, 1945: A larger crowd was organized by Viet Minh to publicly declared Viet Minh plundered the Tran Trong Kim government.

In Central, all areas protested with arms. August 18, 1945, Bao Dai ordered the “ Hội Đồng Cứu Nguy” the country in danger, called all the parties ready to fight.

August 21, 1945: Bao Dai was forced to give up his position.
August 24, 1945: Bao Dai agreed and became the normal citizen.

In the mean time, the South had number of organizations: Mat Tran Quoc Gia Thong Nhat, Viet Nam Doc Lap Ho Van Nga, Thanh Nien Tien Phong Pham Ngoc Thach, Cao Dai, Hoa Hao, Viet Nam Phuc Quoc Hoi Tran Van An, the Intellectuals Groups, the Trosky communist group Ta Thu Thau.

August 21, 1945: Viet Minh leaflets were dropped all over Saigon.

September 2, 1945: Ho Chi Minh declared “Vietnam Independent” (second time after Bao Dai in 3/1945) at Ha Noi. A provisional government was formed composing of both communists and nationalists.

The United States, France, Britain, Vietnam, and others after the World War II

Why did the French return to Vietnam?

U S president F. Roosevelt, before his death in April 12, 1945, had the policy about colonists to return the colonies to the nations that included Indochina (Viet Mien Lao). However, just before the complete finish of WW II, the situation changed the plan concerning the U S’s decision.

The conference in San Francisco from 24/4/1945 – 26/6/1945 (Pentagon Papers, Gravel Edition, Background to the Crisis 1940-1950, Boston: Beacon Press, 1971) gathered 50 countries. In a report from Secretary of State (US) Mr. Stettinius witnessed that Secretary Bidault (under de Gaulle) felt released when the U S in a way letting the return of French.

 Potsdam between July 17 -August 2, 1945: Troops of Tuong Gioi Thach took care the defeated Japanese at the North, and the South was for the British.

Potsdam followed the usual pattern of Anglo-American wrangling in the weeks beforehand, combined with some obvious blackmail by General de Gaulle. The French leader told the Americans “if you are against us in Indochina, this would cause terrific disappointment in France and might drive France into communist hands. We do not want to become communist”, de Gaulle warned, “but I hope you do not put us into it.”

Especially, Ho and his colleagues finally recognized that the United States, far from being neutral, was actively assisting France by shipping its troops back to Indochina with American transport and equipment…The Cold War had come to Indochina. The noisy flaunting of US jeeps, lorries and armoured cars in Saigon by the French was an unwelcome reminder to all Vietnamese that they would be looking to the far west in vain. It was also a warning to the Viet Minh of things to come.
(page 55, 122; Britain in Vietnam, Prelude to disaster, 1945-1946, by Peter Neville)

Before Sept 2, 1945, Ho Chi Minh and his colleagues including Vo Nguyen Giap, Nguyen Huu Dang…had several attempts to invite U S team of OSS (Office of Strategic Services) headed by Archimedes Patti to be with him on that day as a way of recognition of his government.

Note under picture (“Why Vietnam” by Archimedes Patti, page 30)26 August 1945, Hanoi, Ho Chi Minh sends an official delegation headed by Vo Nguyen Giap to welcome the American OSS mission to Hanoi. While the band plays the American National Anthem, Giap and his delegation join the author and the OSS team in saluting the American flag. 

August 30, 1945: Anti-French demonstration was organized by Viet Minh (to get sympathy from the US, perhaps?)

Anti-French demonstration; Why Vietnam, page 235

On September 2, 1945, only 4 members of OSS were at the meeting. There were American helicopters for observation, signs of English (The Doc Lap), and few red flags in the crowd.

September 6, 1945: Pham Quynh, an educator, was executed by Viet Minh. Mr Pham was blamed for being sided with the French.

Sainteny, a major, representative of France arrived at Hanoi on August 22, 1945 by US military plane. After US refused helping, Ho Chi Minh began “night meetings ” with socialist Sainteny. According to Patti: from mid-November to March 1946, copies of several telegrams and letters from Ho Chi Minh to the President, the Secretary of State, the Chairman of the Senate Committee on Foreign Relations, and the United Nations reached my desk…on the basis of the principle on the humanitarian grounds. Those requests were ignored.

March 06, 1946: March 6, 1946 accord between France and Ho Chi Minh was signed by Sainteny and Ho. The France at this time was under control of communist and socialist congress majority. 15,000 troops arrived to Hai Phong then toward Ha Noi. Heavy fights between Quoc Dan Dang ,the nationalists, and French. Viet Minh were hiding. By this accord, France recognized the government Viet Nam Dan Chu Cong Hoa of  Ho Chi Minh which happened at the ceremony in Ha Noi on March 7, 1946. Other important fact in the accord was the unification of Three Ky that made  Admiral d’Argenlieu (Indochina) very upset. The unification would mean Vietnam from North to South become communist state.

Obviously, people in Hanoi saw the acts of Ho Chi Minh. A poem had been circulated around ironically mocking Ho Chi Minh for welcoming French back in Vietnam: Mộ Quỳnh cỏ mọc còn xanh; Hỏi ai bán nước, ấy anh già Hồ! The tomb of Quynh still with green grass; Who did commit an act of treason? He is the foxy Ho! After this bad reputation,  Ho wrote a few times to defend himself that Ho would never commit an act of treason (bán nước) - Hồ Chí Minh không và sẽ không bao giờ là một người bán nước. (Những Mẩu Chuyện về Đời Hoạt Động của Hồ Chủ Tịch, tác giả Trần Dân Tiên tức Hồ Chí Minh, trang 133)

March 24, 1946:  Admiral Thierry d’Argenlieu welcomed Ho Chi Minh aboard the French warship Emile Bertin amidst the spectacular natural scenery of Ha Long Bay…D’Argenlieu recorded his adversary’s long history as ‘Un vieux relent d’anticolonialisme’, Moscow-trained, and chief of the Indochinese  Communist Party. ( Britain in Vietnam, page 143).

At this moment in time, Ho was sure that d’Argenlieu was very much against the March 6 Accord. Per conversations, Ho’s unpleasant expression  was shown clearly on films and images. Mouth pieces and propaganda explained Ho was threatened by d’Argenlieu.

April 1946: A meeting request by d’Argenlieu took place in the Lycée Yersin in Dalat. Giap  was at this event. Giap left for Hanoi convinced that war was inevitable (Britain in Vietnam, page 145).

May 19, 1946: Ho Chi Minh met d’Argenlieu in Hanoi this time before the forthcoming at Fontainebleau meeting. People were on street greeting the Admiral. From this day, May 19 has been the birth of Ho Chi Minh.

May 28, 1946: Pham Van Dong led a delegation to Fontainebleau conference, near Paris. Nguyen Tuong Tam, a nationalist, was in the list but ran away after realizing he was duped. About the same time Ho and his team also flew to France in different path.

The conference began on July 6, 1946 and ended September 9, 1946. Pham Van Dong was merely unsuccessful that in Viet Su 12ab, publisher Truong Thi, 1974, noted that d’Argenlieu and Dong had very heated discussion.

June 2, 1946: France had election. Felix Gouin was defeated whose communist and socialist- led coalition had helped Ho Chi Minh with the March 6 Accord. The political development in France began to take effect dramatically that Ho had smelled months before when meeting with d’Argenlieu. The Conservative under George Bidault controlled the congress since.

Being busy with election, Sainteny was ordered to guard Ho Chi Minh while members of government were not available. In Sainteny’s memoirs, he noted that Ho Chi Minh appeared exceptionally nervous on the occasion.

Ho Chi Minh and his team had time to walk on the beach.

( Ho Chi Minh, by William Duiker, 2000, page 426)

Ho Chi Minh was greeted by group of communists and socialists led by Marius Moutet, Minister of Foreign Relation. ( Getty Images)

On July 14, 1946, France Independent Day, Ho was moved from front row to few rows after by Prime Minister Bidault’s order. Perhaps, Bidault obviously let the world know he opposed international communist Ho Chi Minh shortly before the real war happened. (Getty Images) 

There was time for Ho and Sainteny having pleasure with foods and drinks

Before returning to Vietnam, two groups, led by Pham Van Dong and Ho Chi Minh, met and took a picture.

The night before Ho was to return to Vietnam, Salan (French general) said to him- and Ho must have known it was true- “We are going to fight each other, and it will be very difficult.” Indeed, Ho had told Sainteny and Marius Moutet, “If we have to fight, we will fight…You will kill ten of us and we will kill one of you, but you will be the ones who grow tired.” (Ho Chi Minh, A Biography, by Pierre Brocheux, translated by Claire Duiker, 2007)

September 14, 1946: Ho Chi Minh came to Marius Moutet’s house after midnight for his signature with an “accord” on hand that later called “Modus Vivendi September 14, 1946″ . Moutet had tried much to help Ho Chi Minh  during 4 months Ho in France. This “accord” of course had no value, moreover, this showed more Ho’s decision of welcoming the French back to Vietnam for their advantages, not the Vietnamese people. In reality, this “accord” as described later,  in history books for students, that Ho was so “creative” dragging on with time in an impasse situation.

 Ho Chi Minh’s French hosts finally got rid of him on 18 September when he sailed for Vietnam on the French cruiser the Durmont d’Urville, having refused a French offer of an aeroplane. On reaching Marseilles, Ho was greeted with shouts of “traitor” by some Vietnamese students. Why taking cruise? The most likely explanation, perhaps, is the one put forward by Jean Sainteny that Ho feared for his life if he went by air (he remember, perhaps, the fate of Vinh San in December 1945). (Britain in Vietnam, page 156)

Author of Britain in Vietnam also stated the French communist plot. De Gaulle and Vinh San had agreed on December 1945 that Vinh San would return to Vietnam beginning of March 1946 with condition that “two flags would fly side by side” in Hanoi, Hue, Saigon, and with further meeting. But  as it turned out, these plans were rendered null and void, first by Vinh San’s tragic death in an air crash on 24  December shortly after he met de Gaulle…Vinh San’s body  was returned to Vietnam in 1987 , it was received with full military honours by the communist premier Pham Van Dong (Britain in Vietnam, page 117).

In the cruise, September 22, 1946, Ho Chi Minh wrote a letter to his female comrade he called “So Diet”. Ho pledged for her support by any mean to have French return to Vietnam and recognize his government. This was the last attempt hopelessly. The whole letter is in “Ho Chi Minh va Mot Nua Nhan Loai” written by Tran Khue.

October 21, 1946: Ho Chi Minh arrived in Vietnam this day and greeted by his close comrades. Soon after they were ready for the war that had ignited months before when in April 1946 at conference in Dalat, Vo Nguyen Giap convinced that war was inevitable.

 While being attacked by the French, Ho Chi Minh changed tactics. Not entreating the French like before, Ho announced that the French coming back Vietnam for its second colonialism. Unfortunately, as Ho estimated, Vietnamese population at that time was 95% illiterate. Many including nationalists from the South followed his way to fight the French without realizing the threat of communism that they had been involved blindly.

President Richard Nixon, in his book “No More Vietnams“, he stated (page 31):We should have intervened alone if necessary to help the French because they were the strongest regional power fighting Communist aggression. If we had saved Dien Bien Phu, the French still probably would have withdrawn and finally given their colonies independence, as we had urged for so long, but they would have done so in a deliberate and responsible manner than in a headlong rush for the door .

Pierre Brocheux also noted that France had no intension of having Vietnam  its colony at this time. Ho wrote a book which reveals his thoughts and feelings about France and French people. He wrote about where he went, what he did, and whom he met in 1946. But was he ignorant that he failed to mention in 1946, French also left Lebanon and Syria , giving back the independence for those two nations. Obviously, Ho wanted the Vietnamese to digest his propaganda that France still was in colonial policy in Vietnam.

Moreover, for the average Americans, president Nixon had to express contemptuously that an obsessive fear of associating with European colonial powers blinded successive American administrations to a very simple fact: Communism, not colonialism, was the principal cause of the war in Indochina. (No More Vietnams, page 31).

This article hopefully is for those who are still confused about the role of Ho Chi Minh in the critical period 1945- 1946, because of the propaganda and conflicts in history. As shown above, Ho had never been at a time against the France for a Vietnam independent, instead, he, a “saint communist”, would always follow his big communist brothers’ guidance to spread red blood (symbol of red flag) all over Vietnam and then the world. Because of his ambition of becoming a Stalin of Vietnam, Ho is a source of the war 1946-1954, and the bigger war 1954-1975 that killed millions of people.

But Su

Sources: Why Vietnam, Archimedes L.A. Patti, 1980; Ho Chi Minh- A Biography, Pierre Brocheux, 2007; Ho Chi Minh, William Duiker, 2000; No More Vietnams, Richard Nixon, 1986; Britain in Vietnam – Prelude to disaster, 1945-46,  Peter Neville, 2007;  Sử Địa 12ab, Ban Giaó Sư Sử Địa, nhà xb Trường Thi, Saigon, 1974; Những Mẩu Chuyện về Đời Hoạt Động của Hồ Chủ Tịch, Trần Dân Tiên, 1975; Pentagon Papers, Gravel Edition, Background to the Crisis 1940-1950, Boston: Beacon Press, 1971.

Click to add text, images, and other content

----------------------------------------------------------------------- 

Những Mùa Thu của Hồ Chí Minh và Đảng

Khi ông Phạm Duy vào 1965 đã dựa vào bài thơ L'Adieu của Guillaume Apollinaire làm ra nhạc phẩm “Mùa Thu Chết” thì nhiều người miền Bắc vào thập niên 70,  ngay cả những năm sau này nói chung, người ta vẫn tin rằng Phạm Duy hàm ý về mùa thu cướp chính quyền mà cộng sản gọi là “mùa thu cách mạng tháng 8, 1945”. Nhưng xét ra trên thực tế thì có ít nhất ba mùa thu vô cùng ủ rũ đi qua đời của Hồ Chí Minh và Đảng Cộng Sản Việt Nam.

Những mùa thu mà Đảng hay nhắc tới coi như nêu lên những hiện tượng làm nên “công trạng”, “thành tích vĩ đại”, “cố gắng tài tình sáng tạo”, và ngay cả “cái xác chết vào mùa thu dù đã 41 nằm chình ình đó nhưng vẫn còn thơm.”

Nói lòng vòng như thế bởi Đảng cũng chỉ là những sự nhố nhăng, những tấn tuồng không hơn không kém. Tất cả đều dựa trên sự lừa dối để cai trị. Cái gì từ Hồ Chí Minh viết ra, nói ra đa phần đều không thật, và chính ông ta cũng đã từng dạy cán bộ nói láo. Do vậy mà người ta hay nói chỉ có một việc Hồ và Đảng làm thật, đó là nói láo.

Nhiều chuyện lắm. Nhân mỗi lần mùa thu tới, Đảng hay gợi chuyện cũ để cố gắng nhồi nhét những “hình ảnh anh hùng yêu nước chống xâm lăng, giành độc lập” cho cái uy thế hiện tại. Đúng ra thì phải nói về thực tại Đảng hay chỗ nào, tài ba ra sao, có bằng chứng nào giúp dân giúp nước,v.v..Hẳn nhiều người biết tại sao Đảng vẫn luôn mãi dựa vào cái xác chết ở Ba Đình như cái bùa để hộ thân Đảng, cùng những lịch sử xuyên tạc ngụy biện để gạt dân, bắt học sinh và sinh viên phải tin theo những gì Đảng “sáng tạo” nhất là “sáng tạo lịch sử” Đảng sống còn nhờ vào nói láo, nhưng cái vô cùng nguy hại cho kẻ bị trị là nghe hòai những điều láo đó rồi dần dà tin là thật một cách tự nhiên.

Cũng còn những người chưa bị nhuộm đỏ để biết phân biệt. Lấy độc trị độc cũng là một cách làm thân Đảng tê liệt, hết cách đối phó. Lấy ngay bài viết và hình ảnh trên báo của Đảng để vạch trần âm mưu gian xảo. Chúng ta rất may mắn nhờ có thông tin nhiều chiều, nhất là internet, mà tìm ra được sự thật, thấy ra những thủ đọan của chế độ.

Đi vào vấn đề của mùa thu. Bỏ qua mùa thu gọi là “cách mạng tháng 8, 1945” để bước vào mùa thu kế tiêp, thu 1946. Phải ghi nhận rằng giai đọan từ tháng 6 đến tháng 9, năm 1946, là mốc lịch sử vô cùng quan trọng. Từ đó đưa đẩy tới cuộc chiến tranh đông dương 1946-1954 mà nguyên do chính là quốc tế cộng sản Hồ Chí Minh, và cuộc chiến ý thức hệ này không chấm dứt vào 1954 mà diễn tiến tới 30/4/1975.

Về phương pháp tuyên truyền thì không ai hơn những người cộng sản, bởi họ chủ trương cứu cánh biện minh cho phương tiện, do vậy họ có thể dùng tất cả những thủ đọan dù tàn độc đến đâu miễn sao đạt kết quả. Từ nhỏ nhẹ ru ngủ, rỉ tai, đến vũ lực không nương tay, và nhất là tuyên truyền “xám” là vũ khí lợi hại họ không ngưng nghỉ.

Lấy kinh nghiệm từ Oliver Todd (nhà báo Pháp) rằng đối với Việt cộng thì họ dùng hình ảnh rất nhiều, bên cạnh vài câu văn ngụy tạo không trung thực, để áp đặt vào tâm não dân chúng nói chung, và họ đã thành công. Bởi vì nó dễ nhớ không mất thời gian nhiều như đọc các sách báo. Những bài viết có thể gây suy nghĩ cho giới tri thức khi có những lập luận mâu thuẫn.

Ở đây chúng tôi cũng xin dùng hình ảnh để chứng minh những gian trá, tạo dựng lịch sử theo ý Đảng để lường gạt dân chúng, nhất là giới sinh viên, học sinh. Những hình ảnh bắt đầu từ ngày Hồ Chí Minh rước Pháp về và sau đó chuẩn bị qua Pháp từ hè 1946 và ở Pháp cho tới ngày 18/9/1946. Tài liệu từ các sách trên thế giới và các trang mạng tòan cầu.

Hình ảnh nói lên tội bán nước của ông Hồ. Cảnh chúc mừng sau khi ký Hiệp Ước Sơ Bộ 6/3/1946 giữa Pháp (phe theo cộng) và Hồ Chi Minh: Tướng Pháp Leclerc, Hồ Chí Minh, Đại Sứ Pháp Jean Sainteny. Mục đích để Pháp công nhận "Chính Phủ Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa" và dùng Pháp để tiêu diệt các đảng phái quốc gia. Giai đọan này dân chúng miền Bắc đã đặt tên cho gian hùng là "Hồ Chí Minh bán nước!" Pháp đã ra đi sau khi Nhật đảo chánh vào 3/1945, và vua Bảo Đại đã xé Hòa Ước 1884 giữa Pháp và Việt Nam với sự chứng kíên của các bên. Vua tuyên bố độc lập và thành lập chính phủ Trần Trọng Kim, nhưng rồi sau đó phe Hồ cướp chính quyền.

Khi Tòan Quyền Thierry d'Argenlieu biết âm mưu của Hồ Chí Minh và Pháp trong Hiệp Ước Sơ Bộ là muốn biến tòan cõi Việt Nam nằm trong tay cộng sản qua điều khỏan "thống nhất 3 kỳ". D' Argenlieu đã tức tốc hẹn gặp Hồ tại Vịnh Hạ Long, ngày 24/3/1946, trên tàu L'Emile Berlin để nói về Hiệp Ước và Hội Nghị tại Fontainebleau bên Pháp sắp diễn ra. Ông nhấn mạnh với Hồ Chí Minh rằng miền Nam phải được tự trị và tách riêng,  còn "Việt, Miên, Lào" không được nhắc đến trong Hiệp Ước, trong khi ông còn trách nhiệm tại Đông Dương,  nhưng Hồ chỉ muốn phe Hồ và Pháp độc quyền làm chuyện "thống nhất". Lập luận của d'Argenlieu rất hữu lý đã làm cho Hồ khó có thể trả lời một cách suông sẻ. Hình bên: Hồ Chí Minh, Sainteny, Leclerc trước khi Hồ vào trong gặp d'Argenlieu.

 Thấy thái độ cứng rắn của d'Argenlieu là chống lại vịêc "thống nhất 3 kỳ" trong Hiệp Ước, Hồ Chí Minh biết mình sẽ bị nhiều trở ngại trong tương lai gần; hơn nữa Hồ cũng thừa biết d'Argenlieu nằm trong phe cánh bảo thủ và khối này đang trong thế mạnh và sẽ nắm lại thế chủ động tại quốc hội. Hồ thực sự rất lo âu. Hãy nhìn nét mặt Hồ khi tiếp xúc với d'Argenlieu trong văn phòng trên tàu. Khi chiếu hình ảnh phim này, cộng sản giảng giải rằng " Bác bị d'Argenlieu dọa nạt," nhưng lại không giải nghĩa tại sao.

Bắt đầu giữa 4/1946 Hội Nghị Đà Lạt đã được tổ chức do yêu cầu của d'Argenlieu để bàn tiếp và chuẩn bị ngày qua Pháp dự Hội Nghị Fontainebleau. Trong lần này có Võ Nguyên Giáp và Nguyễn Tường Tam. D' Agenlieu ghi nhận về thái độ của Giáp khi biết d'Argenlieu không làm theo ý của Hồ và Giáp cũng đã biết ngay lúc này rằng chiến tranh giữa phe Hồ và Pháp (phe bảo thủ) sẽ xảy ra. Còn Nguyễn Tường Tam sau ngày họp này đã thấy ra màu đỏ lòm của Hồ nên tìm đường tẩu thóat sang Tàu, mặc dù tên ông được nằm trong phái đòan sang Pháp ngày 28/5/1946 do Phạm Văn Đồng lãnh đạo. Vũ Hồng Khanh cũng vậy, vì bị phe Hồ gạt nên lỡ ký tên trong Hiệp Ước Sơ Bộ, sau đó ông Khanh cũng trốn tránh luôn.

Mặc dù biết trước sẽ bị thất bại vì phe cộng sản không còn nắm quyền quốc hội để hỗ trợ, Hồ Chí Minh cũng qua Pháp, ngày 31/5/1946, với phái đòan riêng của ông ta trong giai đọan có Hội Nghị. Phái đòan Hồ chưa được ai trong chính phủ tiếp đón mà phải ở khách sạn tại Biarritz chờ sau khi có kết quả cuộc bầu cử quốc hội Pháp xảy ra vào 2/6/1946.Hình từ sách của William Duiker, "Ho Chi Minh"  - nhóm Hồ Chí Minh đi dạo biển trong khi chờ đợi.

Jean Sainteny được lệnh ra tiếp Hồ tại phi trường để đưa Hồ từ Biarritz tới Paris. Lúc này Hồ đã biết "vấn đề" của Hồ Chí Minh được coi như không quan trọng lắm vì  phe tả đang mất quyền hành tại quốc hội. Hình ảnh này cho thấy Hồ ngồi bên cạnh  người hộ tống Sainteny, Duiker ghi rằng trong hồi ký của Sainteny đã diễn tả Hồ tỏ ra vô cùng lo sợ (exceptionally nervous)

Sainteny thuộc phe thân cộng cũng muốn giúp Hồ, nhưng ông ta chỉ là một nhân viên của chính phủ. Hồ không trực tiếp dự Hội Nghị Fontainebleau bắt đầu từ mùa hè tới thu 1946. Ông ta bỏ nhiều thời giờ gặp các đồng chí người Pháp và phe cánh thiên tả để vận động phụ ông như Léo Poldès, Jean-Baptiste Paul, Jacques Rabemananjara. Marius Moutet...Một số đảng viên làm ngơ với Hồ vì cho rằng Hồ đã không dám tự nhận lãnh đạo  Đảng Cộng Sản Đông Dương mà đổi thành Ban Nghiên Cứu Marxist.

Ghi chú trong Getty Images là Hồ Chí Minh được phe cánh tả dẫn đầu là Marius Moutet, thuộc Đảng Xã Hội, là Bộ Trưởng Hải Ngọai, tiếp rước vào 6/1946. Những sách cộng sản luôn ghi Hồ được chính phủ Pháp tiếp rước long trọng, nhưng thật ra Sainteny được lệnh lo cho Hồ, và nhân viên sắp xếp mướn hotels cho Hồ ở trong thời gian chờ đợi hai bên bàn về Hiệp Ước Sơ Bộ. Chung quanh Hồ lúc nào cũng có cánh thiên tả và cộng sản.


 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 Hồ Chí Minh được thủ tướng Bidault bắt tay như một phép ngọai giao giữa lãnh tụ các quốc gia trong ngày Lễ Độc Lập 14/7/1946.

Vụ Hồ Chí Minh bị Thủ Tướng Bidault "chơi" khá ê mặt khi Bidault yêu cầu Ban Tổ Chức ngày Lễ Độc Lập 14/7/1946 dời ghế Hồ xuống dưới, không được ngang hàng với Bidault. Hiện tượng này được báo giới Pháp đăng um sùm để chứng tỏ chính phủ Bidault không ưa gì cộng sản. Còn bồi bút trong nước thì viết là "Bidault khinh người Việt Nam" ( tội của cộng sản lại đổ lên đầu dân Việt!). Hình bên người ta thấy rõ Hồ Chí Minh đứng vào hàng thứ 3, sau rất nhiều lãnh tụ khác.

Hồ Chí Minh và Marius Moutet họp hành nhiều lần trong 4 tháng tại Pháp, có khi rất bí mật để tìm phương cứu vãn. Phe Hồ bị ràng buộc vấn đề "Đông Dương" vì không thể tách rời Miên Lào ra khỏi Việt Nam như trong Hiệp Ước Sơ Bộ ghi và  Bidault yêu cầu nếu có "tổng tuyển cử" thì phải có người của Pháp kiểm sóat bên cạnh những Việt Minh, nhưng tất cả yêu cầu của Bidault đều bị Hồ không chấp nhận mặc dù trong thế gật gù bằng lòng. Việc không dứt khóat của Hồ đã làm Bidault bực bội, và hai bên đã thảo ra một  bản "Tuyên Cáo Chung" vào 8/1946,  ký vào để tôn trọng  những gì đã hứa.

Những bài viết trên báo Đảng (SGGP) ghi dưới hình này là Hồ Chí Minh ký với Marius Moutet Tạm Ước 14/9/1946 (Modus Vivendi). Thực ra đó là gian mà không ngoan chút nào, bởi vì người đang ký vào văn bản không phải Marius Moutet mà là Thủ Tướng Bidault (có thể là Bản Tuyên Cáo Chung trình bày ở trên). Dáng dấp hai  nhân vật này hòan tòan khác nhau, Moutet già hơn Bidault, tóc thưa nhiều bạc. Hơn nữa, nhiều sách báo đã ghi rõ quá khuya ngày 14/9/1946 Hồ Chí Minh đã gõ cửa nhà Moutet mang vào bản văn gọi là Tạm Ước rồi ép Moutet ký vào (lúc ngay trên đầu giường) để vài ngày sau mang về Viêt Nam "trấn an dư luận" và trong tư thế chuẩn bị chiến tranh với Pháp, còn hình này xảy ra tại văn phòng có nhiều nhân viên chứng kiến.

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Buồn bã chăng? Sainteny mời Hồ về nhà ăn nhậu giải sầu?

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Hồ Chí Minh có thời gian gặp một số thanh niên Việt Nam và Pháp thiên tả tại Pháp.

 Hồ vào nhà thương thăm vợ của Raymond Aubrac khi bà sanh con không có chồng bên cạnh. Hồ cũng đã ở nhà Aubrac 6 tuần trong lúc này. Hai vợ chồng Aubrac là đảng viên cộng sản Pháp. Bà Lucie Aubrac có thành tích đóng tuồng  để giúp chồng vượt nhà tù Đức Quốc Xã.

 

 

Phái đòan của Phạm Văn Đồng đã rời Pháp ngày 3/9/1946 trở về Việt Nam, Hồ Chí Minh ở nán lại. Trong hình này, có lẽ trước khi về nước  hai nhóm tụ lại nhau. Cả nhóm ngồi trước một building trông thật là thê thảm!

Sau khi ký với Moutet tạm ước ngày 14/9/1946, Hồ Chí Minh đi xe lửa về Toulon rồi xuống tàu Dumont d'Urville trở về ViệtNam. Tại đây Hồ đã bị sinh viên vàViệt kiều biểu tình chống đối vì tội bán nước của ông. Trong một bài viết dài về Hội Nghị  Fontainebleau, nhà biên khảo Vũ Ngự Chiêu cho rằng "Không ai hiểu tại sao Hồ đã chọn cách hồi hương bằng tàu Dumont d'Urville. Cũng chẳng ai biết Hồ nghĩ gì trong hơn một tháng lênh đênh trên biển cả." Nhưng theo ông Peter Neville, tác giả "Britain in Vietnam, 1945-46" ghi rằng Sainteny trong hồi ký tiết lộ lý do Hồ Chí Minh không về bằng máy bay do chính phủ Pháp đài thọ mà chọn đường tàu biển vì lo sợ số phận của ông giống hòang tử Vĩnh San. Số là de Gaulle đã chọn Vĩnh San về Việt Nam thành lập chính phủ, thay vì mời Bảo Đại, và trong lúc chương trình xúc tiến thì hòang tử đã tử nạn máy bay vào 12/1945. Đây coi như vụ "ám sát" do phe cộng sản âm thầm gây ra, nó đã làm cản trở chương trình "một Việt Nam độc lập không cộng sản" của de Gaulle. Tác giả còn nhắc, 1987, Phạm Văn Đồng đã ra lệnh mang hài cốt Vĩnh Sang từ Pháp về Việt Nam làm lễ truy điệu rất long trọng, xem như một anh hùng đóng góp vào sự tồn tại của Đảng.

Hồ đã ngồi trên tàu hơn tháng. Ngày 22/9/1946, đang ngồi trong tàu ông viết một lá thư gởi bà Sô Dít, một đảng viên cộng sản có chân trong qúôc hội Pháp. Hồ yêu cầu bà giúp đỡ ông làm mọi cách để chính phủ Pháp công nhận "Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa". Nhưng đây chỉ là một sự níu kéo vô vọng vì chính tướng Salan một ngày trước khi Hồ trở về nước đã tuyên bố trước mặt Hồ là Pháp sẽ có chiến tranh với phe cộng sản của Hồ. Không gì hơn là Hồ tỏ thái độ chấp nhận, nhưng thách thức là chiến đấu tới cùng dù 10 mạng người Việt đổi 1 mạng người Pháp. Thế là trên đường về nước Hồ mang tâm trạng chuẩn bị chiến tranh. Ngày 21/10/1946 ông về tới Hà Nội. Thử hỏi, nếu ngay lúc tại Pháp Hồ Chí Minh tuyên bố rời bỏ Đảng Quốc Tế Cộng Sản và trở về với quốc gia dân tộc thì Pháp có cần thiết phải trở lại Việt Nam? Cũng trong năm 46 này, trước khi đánh với Việt Minh thì Pháp đã trao trả độc lập cho các nước mà Pháp đã dùng làm thuộc địa.

 Bởi vậy Việt cộng không khỏi dị ứng mỗi lần có người cất tiếng ca bài "Mùa Thu Đã Chết". Hằng ngàn mùa thu trôi qua trên đất nước Việt Nam đã để lại trong lòng người những cảm xúc tự nhiên hòa theo vũ trụ. Hai mùa thu đầu tiên sau khi bàn chân nhuộm đỏ của Hồ Chí Minh chính thức trở về đạp trên lãnh thổ hiền hòa đã biến thành cảnh của máu đổ, tang thương. Và cũng có phải địa linh đã xui khiến để Đảng làm lễ nhớ bùa hộ mạng mỗi 2/9 để tòan dân luôn ghi khắc nỗi quốc nhục mỗi khi thu về!

Bút Sử - 14/9/2010

Sources: Britain in Vietnam, Prelude to disaster, 1945-6, Peter Neville, 2008; Ho Chi Minh A Biography, Pierre Brocheux, 2007; Why Vietnam,  Archimedes Patti, 1980; Ho Chi Minh, William Duiker, 2000; Getttyimages; SGGP.

--------------------------------------------------------------------------

Tại Sao Có Ngày Sinh Nhật HCM 19/5/1946 tại Hà Nội?

 Nói về ngày 19/5 khi đề cập tới Hồ Chí Minh thì phải nói tơi hai hiện tượng đặc biệt liên quan tới ngày này. Trước hết, 19/5/1941 là ngày Nguyễn Ái Quốc, tức Hồ Chí Minh sau này, thành lập Mặt Trận Việt Minh tại Cao Bằng. Hiện tượng đáng kể nữa là 19/5/1946 là ngày Hồ Chí Minh đón tiếp đô đốc Georges Thierry d’ Argenlieu ra Hà Nội. Dù sao, những nhận xét ghị lại của một số học giả và nhân chứng cho rằng Hồ Chí Minh đã chọn ngày 19/5 làm ngày sinh nhật ngay sau khi gặp d’ Argenlieu.  Nhân chứng sống nói về ngày này là ông Vũ Thư Hiên. Ông Hiên trong video “Sự Thật về Hồ Chí Minh” nói rằng cha ông là Vũ Đình Hùynh đã được lệnh từ Hồ Chí Minh tổ chức ngày sinh nhật 19/5/1946 cho ông ta.


Bài viết này xin dựa vào tài liệu trong “Britain in Vietnam, Prelude to Disaster, 1945-1946” tác giả Peter Neville. Về sự việc này, ông Neville có ghi, (page 146):
On 18 May, d’Argenlieu made a visit to Hanoi to talk about the forthcoming peace talks. He was greated at the airport by Valluy, the Chinese General Lu Han, Giap…. D’Argenlieu noticed how the local colons were ‘smiling and applauding’ on his route into Hanoi. He met Ho Chi Minh the next day…Vào ngày 18/5, d’Argenlieu đến viếng Hà Nội để nói về cuộc nói chuyện về hòa bình sắp diễn ra. Ông đã được tiếp đón tử tế tại phi trường bởi ông Valluy, Lữ Hán, Giáp….D’Argenlieu để ý thấy những người dân trong vùng ‘mỉm cười vỗ tay’ trên đường ông tới Hà Nội. Ông đã gặp Hồ Chí Minh ngày hôm sau.
Tại sao Hồ Chí Minh phải chuẩn bị tiếp đón đô đốc d’ Argenlieu long trọng vậy? Những người dân bị triệu tập ra đường đón chào ‘cười vỗ tay’ mà tác giả để trong dấu ngoặc (theo hồi ký của d’Argenlieu). Và ngày hôm sau 19/5/46 thì dân chúng tưng bừng hơn với hoa giăng đầy đường khi d’Argenlieu đến gặp ông Hồ, rồi từ đó đến nay ngày ấy được đánh dấu ngày mừng sinh nhật của Hồ Chí Minh.

Trả lời tại sao có hiện tượng này thì có thể trình bày từng mốc điểm mà khởi mốc quan trọng là ngày 6/3/1946 khi Sainteny dại diện nước Pháp ký với Hồ Chí Minh Hiệp Ước Sơ Bộ.


Hồ Chí Minh được thế giới biết là một người giỏi về mẹo vặt, ông ta có thể uyển chuyển xoay trở tình thế bằng lối tình cảm để mua chuộc đối phương, làm mê hoặc người khác (charm), màu mè để che giấu những điều không tốt bên trong. Trong hòan cảnh khi gặp đô đốc d’Argenlieu, Hồ Chí Minh đang trong thế rất bi đát, bởi vì trước đó đã có những chỉ dấu bất lợi cho Hồ trong tương lai rất gần.


Khi d’Argenlieu khám phá ra đã có Hiệp Ước Sơ Bộ và trong đó có một điều khỏan vô cùng quan trọng mà ông quyết tâm chống đối tới cùng. Đó là việc “
thống nhất 3 Kỳ", tức là Bắc Trung Nam thành một. Đây là một âm mưu của Hồ Chí Minh và phe cánh đang nắm quyền quốc hội bên Pháp thuộc Đảng Cộng Sản Pháp, Đảng Xã Hội, mà đại diện là Maurice Thorez, Marius Moutet, Jean Sainteny, Felix Gouin làm ra. Họ bằng lòng nhau Hiệp Ước Sơ Bộ và ngay ngày hôm sau, 7/3/1946, một buổi lễ Pháp công nhận nước “Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa” diễn ra tại Hà Nội , một thứ công nhận mà Hồ Chí Minh luôn mong đợi, dù trước đó, trước ngày 2/9/1945, phe Việt Minh đã tốn công sức rất nhiều muốn Hoa Kỳ công nhận, nhưng Hoa Kỳ làm ngơ vì biết Hồ chính là quốc tế cộng sản Nguyễn Ái Quốc.

Đô đốc d’Argenlieu cho rằng đây là một hiệp ước cẩu thả, có tính độc tài, không quan tâm tới các nước khác như Miên và Lào vì họ cũng thuộc Đông Dương trong quyền hạn mà d’Argenlieu trách nhiệm. Nếu Hiệp Ước Sơ Bộ chỉ nói riêng cho “
Việt Nam độc lập” trong Liên Hiệp Pháp thì 2 nước kia tính sao? D’Argenlieu rất bất mãn trong tình huống này, dù biết âm mưu của phe cánh cộng sản 2 bên. Liền sau vụ 6/3, ông than với tướng Valluy, thay thế Leclerc, (page 145):
I am amazed General, that it is the only word I can use, amazed that France’s leaders prefer negotiations to action when we have such a magnificent expeditionary force in Indochina– Tôi kinh ngạc, đó là từ mà tôi chỉ có thể dùng, kinh ngạc rằng những nhà lãnh đạo nước Pháp chọn sự điều đình để hành động trong khi chúng ta đang có một lực lượng quân đội viễn chinh rất hùng mạnh.
Lực lượng còn hùng mạnh mặc dù ngay lúc đó quân Anh đã rút ( General Douglas Gracey đã rời Saigon ngày 28/1/1946). Người Anh và Pháp đến Nam Việt Nam ngay sau lúc thế chiến thứ 2 kết thúc để làm phận sự dẹp tàn quân Nhật, giúp dân Pháp di tản khỏi Việt Nam, giải tỏa những người còn bị tù…Bên cạnh đó vai trò của Pháp khi theo chân Anh về Việt Nam là để đương đầu với làn sóng đỏ cộng sản mà hiện tượng 2/9/1945 tại miền Bắc kéo theo 23/9/1945 tại miền Nam là trận đánh nhau giữa Việt Cộng và Pháp. Ngay lúc này Hoa Kỳ đã lo sợ sự lan rộng của Liên Sô. Hồ Chí Minh chưa được Liên Sô viện trợ vì Stalin đang bận rộn bành trướng ở Âu Chậu. Người dân Saigon đã thấy ồn ào đòan xe phô trương của Mỹ như jeeps, xe tải, và ngay cả thiết giáp…Chiến tranh lạnh đã đến, chứ không đợi khi quân đội Hoa Kỳ thực sự đóng quân tại miền Nam vào 1965, theo ông Neville.
(page 122): Moscow was much more interested in the situation in metropolitan France where the French Communist Party under Maurice Thorez was close to coming to power– Moscow đang chú ý nhiều hơn về tình trạng tại nước Pháp văn minh nơi Đảng Cộng Sản Pháp dưới sự lãnh đạo của Maurice Thorez đã sắp nắm quyền.

Tướng Pháp Leclerc, Hồ Chí Minh, đại sứ Pháp Sainteny chúc mừng nhau sau khi ký Hiệp Ước Sơ Bộ

Đó là tại sao dẫn đến việc ký Hiệp Ước Sơ Bộ một cách nhanh chóng. Phe cộng sản Pháp lợi dụng vai trò
“thực dân” của Pháp để hỗ trợ tiếp ứng cùng Việt Minh làm cho phe d’Argenlieu bị mang tiếng, ngay cả công dân Hoa Kỳ cũng còn nghi ngờ Pháp đang muốn trở lại để thực dân. Pháp thực dân đã rời khỏi Việt Nam sau khi Nhật đảo chánh vào 3/1945. Vua Bảo Đại tuyên bố Việt Nam độc lập bên cạnh sự tiếp ứng của Nhật, nhưng sau vụ 2 trái bom nguyên tử tại Hiroshima và Nagasaki vào 6 và 9/8/1945 mà Nhật phải đầu hàng đồng minh. Khỏang trống chính trị tại Việt Nam trong vòng 9 ngày tạo cơ hội cho Việt Minh cướp chính quyền ngày 19/8/1945.
(page 108):…d’Argenlieu arrived in Saigon, he was ‘contemplating the vision of independence but he eventually set his face against negotiations with the Viet Minh’…he was prepared to consider the possibility of some sort of independence on arrival in Vietnam, according to his defenders – D’Argenlieu đến Saigon, ông ta luôn nghĩ tới một Việt Nam độc lập, nhưng cuối cùng thì phải đụng độ chống lại những cuộc điều đình với Vịêt Minh…
Khi d’Argenlieu đến Đông Dương với vai trò đô đốc vào 10/1945 thì de Gaulle một mặt chuẩn bị sắp xếp cho miền Nam Việt Nam có bộ mặt chính trị mới. De Gaulle và hòang tử Vĩnh San đã gặp nhau ngày 14/12/1945 và Vĩnh San bằng lòng trở về Việt Nam với điều kiện lá cờ quốc gia Việt Nam và Pháp được treo song song tại Hà Nội, Huế, Saigon trong giai đọan tạm thời độc lập trong Liên Hiệp Pháp. Nhưng rồi hòang tử Vĩnh San đã tử nạn máy bay ngày 24/12/1945 trên đường từ Fort Lamy đến Bangui. Chương trình của de Gaulle của một Việt Nam độc lập cũng tan biến luôn sau khi ông từ chức ngày 20/1/1946.

Cái chết của hòang tử Vĩnh San là một nghi vấn về chính trị. Đến 1987  hài cốt của Vĩnh San được mang về Việt Nam trong nghi thức tuyên dương long trọng bởi thủ tướng cộng sản Phạm Văn Đồng. Có dư luận bên Âu Châu cho rằng sau 4 tháng ở Pháp vận động để được Pháp công nhận nhưng thất bại, ông Hồ về bằng đường tàu biển trên chiếc Dumont d’ Urville, ông từ chối đi máy bay vì sợ bị như trong trường hợp hòang tử Vĩnh San (bị phe đối phương thủ tiêu).


Vì thấy ra âm mưu nhuộm đỏ luôn miền Trung và Nam trong Hiệp Ước Sơ Bộ nên d’Argenlieu triệu tập ngay buổi họp mặt với Hồ Chí Minh trên tàu Emile Berlin ngay vùng Vịnh Hạ Long ngày 24/3/1946. Trong hồi ký, d’Argenlieu đã ghi lại về Hồ khi nhìn ông ta:

(page 143): “ A Moscow trained and chief of the Indochinese Communist Party - một người được huấn luyện tại Moscow, một thủ lãnh của Đảng Cộng Sản Đông Dương.”
Khi đối thọai, Hồ Chí Minh chỉ nhắc tới càng sớm càng tốt chuyện thực hiện Hiệp Ước Sơ Bộ 6/3/1946 và việc này sẽ xảy ra tại Fontainebleau bên Pháp bắt đầu vào 6/ 7/1946 . D’Argenlieu nói với Hồ là khi bàn về hiệp ước đó thì phải qua ý kiến của 3 Kỳ:
(page 143): France would address the issue of the Three Ky (reunification) by accepting the decision of the people of Tonkin, Annam, and Cochin China in referendums – Nước Pháp muốn nói tới vấn đề Ba Kỳ (thống nhất) bằng cách chấp thuận quyết định của nhân dân tại miền Bắc, miền Trung, và miến Nam trong một cuộc trưng cầu dân ý.

Hồ Chí Minh, Sainteny, Leclerc trên tàu Pháp tại Vịnh Hạ Long

Lúc này Hồ đã đóan biết ý định của d’Argenlieu là chống lại hòan tòan việc thống nhất 3 Kỳ vì như vậy là coi như dâng luôn 2 miền Trung và Nam cho cộng sản Hồ Chí Minh, một tay sai của đệ tam quốc tế. Ộng nói việc này phải qua một cuộc trưng cầu dân ý để lấy quyết định chung. D’Argenlieu ghi nhận thêm là ngày họp mặt tại Vịnh Hạ Long hôm đó có mặt của Sainteny và Leclerc, hai nhân vật thiên tả đã giúp Hồ ký hiệp ước.


Mục tiêu trước hết của hiệp ước là ông Hồ được Pháp (cộng sản) công nhận chính phủ do ông thành lập là
“Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa”. Thứ đến, Hồ Chí Minh chấp nhận cho 15 ngàn quân Pháp đóng ở miền Bắc mà không gì hơn là dùng bàn tay Pháp để triệt tiêu các đảng phái quốc gia, và việc này lịch sử đã ghi rõ. Khi bị lên án “Hồ Chí Minh bán nước” thì ông lại viện cớ là mang Pháp về để thay thế quân Tưởng Giới Thạch, trong khi Pháp và phe Tưởng đã ký với nhau một thỏa thuận ngày 28/2/1946, trong đó quân Tưởng cam kết rút khỏi miền Bắc (khi làm tròn phận sự giải giới tàn quân Nhật mà thế giới đã giao cho sau đệ II thế chiến) chậm lắm là ngày 15/3/1946.

Trong phim tuyên truyền
“Hồ Chí Minh, Chân Dung Một Con Người”, 1990, khi đến giai đọan nói về Hiệp Ước Sơ Bộ thì giọng nữ trong phim diễn giải rằng “Trước mặt là quân Pháp, sau lưng là quân Tưởng Giới Thạch, Hiệp Ước Trung-Pháp đã ký, Hồ Chủ Tịch đã gạc mũi dao sau lưng ký với đại diện Pháp Hiệp Định Sơ Bộ khiến cho 18 vạn quân Tàu Tưởng phải rút về nước….” Gạc mũi dao sau lưng nghĩa là gì? Thay vì chống Pháp như ông hô hào trước đây, ngay cả sau khi cướp chính quyền 19/8/1945, ông đ㠓ngọai giao” và tâng bốc phái đòan OSS của Mỹ bằng buổi xuống đường chống Pháp ngày 30/8/1945, thì khỏang 6 tháng sau ông lại mang Pháp về một cách trịnh trọng. Người dân đâu hiểu Pháp có 2 phe. Phe ông mang về để hợp tác chia chát quyền lợi trên đất nước Việt Nam là phe Đảng Cộng Sản Pháp và Xã Hội. Hành động mang Pháp cộng sản về để được công nhận, thực hiện giấc mộng cùng cộng sản Pháp, công sản Liên Sô nhuôm đỏ thế giới . Nhưng dù Pháp nào, ông Hồ cũng bị dân Hà Nội dán nhãn hiệu “Hồ Chí Minh bán nước!”
Hồ Chí Minh và d'Argenlieu trong chiến hạm Pháp tại Vịnh Hạ Long

Phim đến đọan nói về buổi họp tại Vịnh Hạ Long, người diễn đọc tiếp :
” Hãy nhìn đôi mắt bác Hồ trước ý định dọa nạt đó!” Không thể che đậy sự thất bại phô ra trên gương mặt, người làm phim lại cố ý cho người xem Hồ như là một nạn nhân. Đôi mắt Hồ Chí Minh quặm trợn tròng trắng nổi lên đầy nét hung tợn. Nói “dọa nạt” thì chưa có tài liệu nào chứng minh ông d’Argenlieu tỏ thái độ này.

Biết rõ âm mưu của Hồ Chí Minh, những bình luận gia thế giới so sánh Hiệp Ước Sơ Bộ này cũng mang tính chất của Brest Litovsk xảy ra vào 3/1918 khi phe Lenin ký với Đức.


Tại Pháp thì chính phủ thiên cộng Gouin không quan tâm tới những gì đô đốc d’Argenlieu đang đối đầu với Hồ Chí Minh. Còn ông Marius Moutet, Bộ Trưởng Hải Ngọai, là người bạn lâu năm của Hồ thuộc phe thân cộng, sau lúc hiệp ước này Moutet tỏ ra không ngạc nhiên về phản ứng của d’Argenlieu. Moutet cũng đang mất thế đứng tại chính trường.


4/1946 một cuộc họp nữa xảy ra tại Đà Lạt theo yêu cầu của d’Argenlieu để bàn tiếp. Phe cộng sản có Võ Nguyên Giáp. Trong cơn tức giận, Giáp gọi d’Argenlieu là “
ông thầy tu hiểm độc, người đã phản bội lời nguyền” ( d’Argenlieu đã từng là linh mục vào thập niên 20), trong khi dân Pháp gọi ông là “the snow-covered volcano -núi lửa bao bọc bởi tuyết băng”. Sau buổi họp mặt, ông Giáp tỏ ra thất vọng vì biết chiến tranh không tránh khỏi. Nguyễn Tường Tam, phe quốc gia, cùng tháp tùng với Giáp. Ông Tam được chọn đi với phái đòan Phạm Văn Đồng sang Fontainebleau, nhưng sau đó ông Tam mất dạng. Vũ Hồng Khanh đã bị lừa ký vào Hiệp Ước Sơ Bộ, và đến 7/1946, cũng giống như ông Tam, khi biết ra sự thật 2 người đã trốn thóat sang Tàu.

Trước khi Hồ Chí Minh sang Pháp thì d’Argenlieu gặp Hồ một lần nữa. Như kể trên, khi tới Hà Nội ngày 19/5/1946 thì hiện tượng gọi là “
mừng sinh nhật bác Hồ” xảy ra trên đường phố trước mặt d’Argenlieu. Điều này cho ngừơi ta nhận xét:

Hồ Chí Minh muốn níu kéo một lần cuối mong rằng d’Argenlieu sẽ thay đổi ý định chống đối để Hiệp Ước Sơ Bộ được chính thích hóa. Hơn nữa, quang cảnh người dân trong vùng mừng sinh nhật ông Hồ cũng có thể gieo vào đầu d’Argenlieu về một nhân vật lãnh đạo được dân chúng mến chuộng. Ông Vũ Thư Hiên nói là cho ông đô đốc d’Argenlieu “ấm lòng” là vậy. Rất có thể là hình ảnh người dân mừng sinh nhật ông Hồ khi tiếp đón viên chức cao cấp của Pháp cũng làm nhẹ đi sự chống đối lên án còn ầm ỉ về “
Hồ Chí Minh bán nước.”

Có thể tóm tắt là qua những lần gặp mặt với d’Argenlieu tại Vịnh Hạ Long và Đà Lạt, phe Hồ Chí Minh đã biết Pháp tuyên chiến, rõ nhất là khi Hồ đang tiếp chuyện với d’Argenlieu thì nhóm bảo thủ Georges Bidault đang trên đà thắng thế trong quốc hội. Kết quả bầu cử ngày 2/6/1946: Phe Bảo Thủ Bidault 160 ghế, phe Đảng Cộng Sản Pháp Thorez 146 ghế, phe Đảng Xã Hội 115 ghế.


Phái đòan Phạm Văn Đồng về trước sau khi bị chính phủ Pháp làm ngơ không quan tâm tới vấn đề Hiệp Ước Sơ Bộ, riêng Hồ Chí Minh ở lại Pháp từ 2/6/1946-18/9/1946. Trước khi về nước, Hồ Chí Minh còn gõ cửa nhà ông Moutet lúc 1 giờ sáng để ép người bạn thiên cộng này, khi đang hết thế đứng ngòai chính trường, ký “
Modus Vivendi – tạm ước ngày 14/9/1946”. Sách giáo khoa của Đảng gọi đó là “Tạm Ước Fontainebleau 14/9/1946” ký với Moutet là để “câu giờ” tìm phương cứu vãn, nhưng thực ra đã hết cách chỉ còn chuẩn bị chiến tranh. Từ thái độ van xin không được chấp thuận, Hồ dùng chiêu bài “Pháp trở về xâm lược” để kêu gọi tòan dân “kháng chiến” trong một đất nước mà Hồ từng tuyên bố vào 1945 là 95% dân chúng mù chữ.

19/5/1946 là lần cuối Hồ gặp d’Argenlieu, trước khi chính phủ Pháp bàn về Hiệp Ước Sơ Bộ tại Fontainebleau. Ngày này đánh dấu thái độ của Hồ Chí Minh o ép muốn đô đốc d’Argenlieu thay đổi ý định chống “
thống nhất 3 Kỳ”, bởi vì việc này vô cùng quan trọng mà d’Argenlieu đã gợi ý cho Hồ trong 2 lần gặp trước tại Vịnh Hạ Long và Đà Lạt. Thái độ cứng rắn của ông đô đốc Đông Dương cùng những lý luận rất vững và hợp lý, cũng như chính trường tại Pháp đã nghiêng hẳn về phe chống cộng mà Hồ Chí Minh đã phải chấp nhận cuộc chiến tranh ý thức hệ, chính do Hồ là nguồn gốc, bắt đầu từ 12/1946.

Bút Sử

16/5/2010
 
====================================================

Tuyên Truyền Tẩy Não Kỳ Dị

 
Bản tin từ đài RFA, 26/3/2010, do cô Ỷ Lan thực hiện phỏng vấn ông Thor Halvorssen, chủ tịch Sáng Lập Nhân Quyền (Human Rights Foundation, New York), khi ông viếng Hòa Thượng Thích Quảng Độ tại Saigon, nội dung chứng tỏ thêm về việc vô luật pháp bắt bớ tùy hứng của nhà cầm quyền Cộng Sản Việt Nam.

Quyền được tự do phát biểu, quyền được tôn kính và được chọn tôn giáo cho mình, quyền có thể được tham gia vào chính phủ của quốc gia mà người đó đang cư ngụ, quyền không bị nô lệ và bị hành hạ tra tấn…Trên là vài quyền trong số những quyền mà cơ sở Sáng Lập Nhân Quyền đã đề ra trong chủ trương.

Dù Halvorssen bước vào Việt Nam lần đầu tiên, ông đã nhận ra những dấu hiệu cho thấy những quyền căn bản hàng đầu trên đã hòan tòan không có. Khi đang thu thập kinh nghiệm và nhận ra bản chất chế độ trung thực hơn thì ông Halvorssen đã bị trở thành nạn nhân, một nhân chứng ghi thêm vào lịch sử chà đạp nhân quyền của chế độ Cộng Sản Việt Nam. Lúc bước ra khỏi Thanh Minh Thiền Viện, Halvorssen bị công an không sắc phục bắt và hành hung, bản tin cho biết hình chụp lưng ông bị bầm tím.

Được hỏi về cảm nghĩ của ông về nhà cầm quyền cộng sản, ông nói ngay về “một cuộc tuyên truyền tẩy não kỳ dị. Màu sắc tuyên truyền sâu rộng trang trải khắp nơi. Hồ Chí Minh là Che Guevara của Việt Nam.” Ông Halvorssen đã đi vào điểm chính về sự sống còn của chế độ, và có lẽ sự nhận xét bén nhạy này cũng một phần nhờ vào kinh nghiệm bản thân. Mẹ ông đã bị phe nhà nước Venezuela bắn bị thương trong lần xuống đường, 2004, cùng nhiều người tỏ thái độ ôn hòa ký tên đệ đơn yêu cầu Hugo Chavez xuống chức.

Tại sao Hồ Chí Minh là Che Guevara của Việt Nam?

Một người Argentine đẹp trai tên Che Guevara đã giúp du kích quân của Fidel Castro “giải phóng” Cuba từ nhà nước Batista năm 1959. Đó chỉ là huyền thọai, cũng giống như Đảng Cộng Sản Việt Nam rao giảng Hồ Chí Minh có công “giành độc lập” từ tay “thực dân” Pháp. Nhưng rồi, dù thế nào, Che cũng đã trở thành gọi là một “nhà cách mạng” nổi tiếng thế giới làm nhiều người chấn động đứng lên cùng ông. Sau khi thành công tại Cuba, Guevara nổi dậy lãnh đạo cuộc phiến lọan tại Argentina, Congo, Bolivia, và sau đó bị xử tử vào 1967.

Theo giáo sư Douglas Young, thuộc Khoa Học Chính trị và Lịch Sử, tại đại học Gainesville State College, Che được hàng ngũ cộng sản đề cao như một anh hùng dám dấn thân làm cách mạng để đem “công bằng cho xã hội”. Họ dựng Che như một thánh tử của chủ nghĩa Marxist. Hình ảnh một người thanh niên trẻ tức giận đã lan rộng trong nhiều giới sinh viên của các trường đại học có thể nói trên 40 năm qua.

Trên thực tế thì Che có số điều giống Hồ Chí Minh ở Việt Nam. Che chỉ là con cờ, là phương tiện truyền bá của Stalin, một cộng sản độc tài của Liên Sô đã giết trên 20 triệu dân của ông ta. Là một trong số sĩ quan trọng yếu của Castro, Che đã giúp làm những cuộc nổi dậy. Sau khi lật đổ Batista, Che đã chỉ đạo cuộc tàn sát hàng trăm nhân viên của Batista không cần tòa án. Ngay cả người nào bị nghi ngờ không trung thành với Castro cũng bị giết không cần biện hộ. Đồng chủ trương như Hồ Chí Minh, người cộng sản Che chỉ thấy vấn đề hai mặt trắng và đen. Ai không theo đường lối của Che thì bị thanh tóan ngay. Hồ Chí Minh và Che chống tự do tôn giáo, ngôn luận, hội họp, báo chí, biểu tình… So sánh thì Che không thể qua mặt Hồ Chí Minh về thủ đoạn, và con số giết người của Hồ cao nhiều lần của Che. Che chỉ sống có 39 năm để làm tội ác.

Bây giờ lại có phong trào thanh niên mê nhạc rock mặc áo Che t-shirts, và như vậy có phải thành phần gọi là tự do (liberals) vẫn còn như những thập niên trươc? Câu hỏi là cái tư tưởng tự do không nền tảng đó dần dà có dẫn dắt tới nguy hại cho nền tự do dân chủ đích thực hay không? Dù sao người ta có thể vẫn tin vào kiến thức cao về dân chủ của công dân Hoa Kỳ và hơn bao giờ hết chính Che là người tạo dựng giúp Fidel Castro để Cuba trở thành cộng sản, một đe doạ cho Hoa Kỳ mà nhiều thập niên qua Hoa Kỳ vẫn cứng rắn cấm vận Cuba.

Nói như trên không có nghĩa là ý thức hệ cộng sản không còn là đe dọa cho nền hòa bình thế giới. Tiểu bang California vào 9/2008, thống đốc Arnold Schwarzenegger đã ký phủ quyết dự luật SB 1322, trong thư giải nghĩa rằng dự luật này giống như là một âm mưu lật đổ chính phủ tự do dân chủ Hoa Kỳ khởi đầu ngay tại California, và rất bất công khi người tỵ nạn cộng sản phải một lần nữa là nạn nhân. Dân biểu của tiểu bang California hầu hết là người của Đảng Dân Chủ đã biểu quyết thông qua dự luật. Dự luật làm ra bởi Senator Alan Lowenthal bác bỏ một số điều kiện để trở thành giáo chức có từ thời tổng thống Eisenhower, nghĩa là SB 1322 cho phép đảng viên cộng sản được quyền dạy học trong tòan thể California. Rất may, dân biểu Trần Thái Văn và các dân biểu khác thuộc Đảng Cộng Hòa vận động cùng đồng hương Mỹ gốc Việt lên tiếng chống lại, và cuối cùng dự luật đã thất bại. Tuy nhiên, ông Schwarzenegger không bao lâu sẽ chấm dứt nhiệm kỳ, thống đốc kế tiếp có lập trường như thế nào, và dự luật có thể trở lại hay không?

Gần đây tiến sĩ Roger Canfield cho ra cuốn How the Ameri-Cong Won the Vietnam War Against the Common Enemy America” để nhắc lại cho thế giới thấy rằng cộng sản miền Bắc lãnh đạo bởi Hồ Chí Minh đã liên hệ với quốc tế cộng sản như thế nào, và nhấn mạnh Mỹ Cộng là một thành phần quan trọng trong khối đó. Tại sao hơn 5 thập niên qua không ai đưa ra và trình bày hiểm họa của những người Mỹ mang danh “liberals”, “democrat” hay gì đi nữa và đầu óc họ vẫn là thiên cộng? Ngày đó họ là Black Panthers, học viên của Saul Alinsky, đệ tử của Malcolm X , hàng ngũ của William Ayers, giới báo chí thiên cộng, người hành động (activists) như John Kerry, William Clinton, Hillary Rodham, Jane Fonda, Tom Heyden, Martin Luther King, Daniel Ellsberg, sinh viên đại học,v.v..hay đảng viên chính thức có tổ chức là Communist Party of the United States (CPUSA) để đến nay ông Canfield phải trình bày nhiều trang chính thức gọi họ là Ameri-Cong hay ta dịch ra là Mỹ Cộng?

Thor Halvorssen đã đưa ra nhận xét liên quan tới cái nhìn của thế giới ngày nay về một Việt Nam mà quyền làm người của dân chúng bị tước đọat coi như hòan tòan.Thế giới và cả Hoa Kỳ chẳng có chút quan tâm. Thỉnh thỏang thì một vài dân biểu lên tíếng nhân quyền này nọ rồi cũng như nói cho có lệ. Thành phần Mỹ Cộng mà sau lưng họ là khối quốc tế cộng sản hàng năm chi vào Hoa Kỳ hơn 3 tỷ Mỹ kim để họat động, họ là nguyên nhân chánh để miền Nam bị rơi vào tay cộng sản, họ đã sách động biểu tình chống chiến tranh, đòi tổng thống Johnson và Nixon rút quân. Thống đốc Ronald Reagan đã phải đau lòng tuyên bố: Chấm dứt sự xung đột mâu thuẫn không thể đơn giản chỉ là ra lệnh ngừng chiến, rút quân và trở về nhà, bởi vì cái giá phải trả cho loại hoà bình đó có thể là hằng ngàn năm tăm tối cho những thế hệ chưa sinh ra đời.

Ngày nay khi ông Halvorssen tới Việt Nam, có phải ông chứng nghiệm những người cùng thế hệ của ông (Halvorssen sinh 1976) đã và đang sống trong sự tăm tối. Một xã hội vô luật pháp, bắt và hành hạ người theo lệnh Đảng, ngược đãi người tu hành, cướp bốc nhà đất dân, cấm dân không được truy tìm đọc tài liệu dân chủ nước ngòai, cùng bao nhiêu thứ bất công khác có phải là cái giá phải trả cho thứ “hòa bình” mà Mỹ Cộng từ thập niên 60 đến đầu 70 đã từng cầm khẩu hiệu hô la trên đường phố Washington, New York, Massachusetts, Chicago, Berkeley…?

“Ho, Ho, Ho…Che, Che, Che…” là điệp ngữ trong một bài ca mà Mỹ Cộng đã vang dội ngòai đường phố khi giăng hình Che, hình Hồ, cờ đỏ xanh ngôi sao vàng đòi hỏi chính phủ rút quân. Vài năm gần đây Che lại được nhắc nhở trở lại, học sinh tại Việt Nam có những buổi học tập, cấm trại, với nghệ thuật chủ đề là Che Guevara; ngay cả một diễn đàn thơ văn trong Yahoo Groups lại ca ngợi thơ của Che vô tình không biết Che là tên cộng sản khát máu vùng Nam Mỹ vào thập niên 60, hay là chủ ý thêu dệt “thần tượng” cộng sản? Dù thế nào thì thế giới người Việt tỵ nạn cộng sản cũng không mấy chú ý về tên cộng sản sừng sỏ này, và cho tới nay có một vài nhân vật khi nói tới Che thì nhớ tới Hồ Chí Minh để cho người ta có cơ hội hâm nóng thêm về hai huyền thoại và tội ác của hai tên cộng sản lãnh đạo này.

Halvorssen đi ra từ gia đình là nạn nhân của chế độ thân cộng tại Venezuela nên khi nhìn hình tượng Hồ Chí Minh mọi nơi tại Việt Nam ông ta nghĩ ngay tới Che, bởi vì hình ảnh Che cũng đầy mọi nẻo đường ở Nam Mỹ nơi có hơi hướng cộng sản. Hồ Chí Minh là Che Guevara của Việt Nam. Đúng vậy, cũng giống như nhà báo người Pháp, Oliver Todd, trong bộ phim tài liệu “Sư Thật về Hồ Chí Minh” do Phong Trào Quốc Dân Đòi Trả Tên Saigon thực hiện, ông đã cho rằng trên thế giới ngày nay chỉ còn hai huyền thọai để tuyên truyền, đó là Hồ Chí Minh và Che Guevara.

“Một chính quyền tuyệt đối cộng sản nhưng đồng thời cũng là tư bản, thật là điều quá ư kỳ quặc.” Khi ông Thor Halvorssen cho là tuyệt đối cộng sản có nghĩa là mọi thứ tự do của người dân đều bị tước đọat, điển hình là Hòa Thượng Thích Quảng Độ sau khi ra tù thì bị tù tại gia, bị kiểm sóat, lúc nào cũng có công an canh gác. Vừa cộng sản lại vừa tư bản mới là điều quái dị, trong khi trên lý thuyết thì chủ nghĩa cộng sản cốt lõi là tiêu diệt tư bản. Thế nên từ trên 6 thập niên qua tại miền Bắc, và hơn hết là từ khi có bang giao Việt Mỹ 1995, Việt Nam chưa hề có dấu hiệu cải tiến kinh tế một cách bình thường tự nhiên, mà có tính cách vá víu, phồn vinh giả tạo, không có cơ sở vững vàng từ hạ lên tới thượng tầng. Học sinh, sinh viên bị nhào nắn méo mó, không có căn bản rõ ràng trên ý thức hệ cộng sản và tự do tư bản.

Theo tiến sĩ Douglas Young, cũng y như Hồ Chí Minh, Che là người luôn tự đánh bóng mình (narcissist). Che nói: Tôi không có nhà, không vợ con, không cha mẹ, không anh em. Bạn của tôi là những người nghĩ giống tôi về phương diện chính trị. Cũng không khác Hồ Chí Minh về đường tình ái, Che rời Cuba giữa thập niên 60 trong lúc đang xảy ra tình trạng bừa bãi về gia đình riêng tư của ông ta. Mặc dù lúc nào Che cũng tuyên bố là ông ta trinh trắng chưa bao giờ biết đàn bà, nhưng trên thực tế thì Che là một người đàn ông dâm lọan. Ông ta chơi hoa rồi bẻ cành. Ông đã bỏ bê hai người vợ, và nhiều người con. Vài bà vợ thì chính thức và một số khác thì không.

Không khắc nghiệt như ở Việt Nam, tượng một nửa người của Che được khánh thành tại một khu phố thuộc nước Venezuela vào 7/2006 thì chín ngày sau tượng đã bị dân chúng chặt đầu. Dân Venezuela cho rằng Hugo Chavez là tay sai của độc tài cộng sản Cuba, Fidel Castro, họ rất ghét “thần tượng” Che.

Có một bài viết được phổ biến trên internet cách nay vài tháng tựa là Che Guevara là Hồ Chí Minh của Nam Mỹ tác giả Nguyễn Việt Nữ, và mới đây Thor Halvorssen trả lời với đài RFA “Hồ Chí Minh là Che Guevara của Việt Nam xét ra cũng thật là đồng điệu với Oliver Todd khi cho rằng "ngày nay trên thế giới chỉ còn hai huyền thọai Hồ Chí Minh và Che Guevara để tuyên truyền."

Bút Sử
3/2010


Con Rắn Độc Hồ Chí Minh




















Hội Nghị Fontainebleau

HCM và Sainteny tại phi trường tại Paris, ngồi chờ máy bay. Sainteny có nhiệm vụ hộ tống Hồ từ Biarritz tới Paris để dự hội nghị tại Fontainebleau. HCM tỏ ra rất lo sợ mà Sainteny đã ghi ra trong sách hồi ký của ông ta

 Linh mục thiên cộng Cao Văn Luận đã từng sống bên Pháp vào thập niên 40, 50. Năm 1965, ông có viết cuốn "Bên Giòng Lịch Sử 1940-1965". Nhận thấy ông đã trình bày không trung thực những gì đã xảy ra trong giai đọan Hồ Chí Minh qua Pháp vào 1946, nên bài viết này xin đưa ra những phản biện cùng những minh chứng từ các tài liệu lịch sử về Hồ Chí Minh.

 Ngày Cát-To-Duy-Ê ( 14/ 7) 1946: Cụ Hồ thành Quốc Khách của Pháp.

Khi viết câu này, tác giả ngụ ý cho rằng nước Pháp tiếp đón Hồ Chí Minh trọng thể. Thật ra thì trong tiếng Pháp gọi là "protocole", một nguyên tắc bắt buộc phải có khi tiếp đón bất cứ vị nguyên thủ nào của một nước (lúc này ông Hồ đại diện miền Bắc Việt Nam).

 Hồ Chí Minh có được các lãnh đạo nước Pháp tôn trọng không ? Thái độ của họ đối với Hồ như thế nào? Đó mới là vấn đề quan trọng mà ông Cao Văn Luận cần trình bày với lý lẽ chứ không thể viết suông, hay áp đặt, đổ tội, lên án người khác rồi thôi.

 Nhờ những cuộc vận động khôn khéo, dần dà cụ Hồ trở thành thượng khách của chính phủ Pháp, của nước Pháp.

Ông Hồ vận động gì? Tại sao phải vận động? Đúng ra thì phải giải nghĩa là Hồ Chí Minh bắt đầu qua Pháp từ ngày 31/5/1946. Hồ bắt tay ngay vào việc "vận động" nghĩa là tìm gặp những thành phần thuộc Đảng Xã Hội và Đảng Cộng Sản, những bạn bè ông quen trước đây vào thập niên 20 khi ông gia nhập Đảng Cộng Sản Pháp. Ông muốn họ làm mọi cách để quốc hội và chính phủ Pháp chấp nhận ông, nghĩa là tuyên bố nhìn nhận "Chính Phủ Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa" mà ông đã dựng lên từ 2/9/1945 nhờ công cướp chính quyền do ông lãnh đạo. Việc này nằm trong nội dung của Hiệp Ước Sơ Bộ mà Hồ đã ký với Sainteny vào 6/3/1946.

 Đang ở Pháp vào tháng 6/1946, Hồ biết thành phần quốc hội lúc đó được dân bầu chọn đa phần là phe hữu nên việc chấp nhận Hiệp Ước Sơ Bộ tại Hội Nghị Fontainebleau khó đạt kết quả, mặc dù trong hiệp ước đó mời gọi và cho đặc quyền đặc lợi để Pháp hợp tác cùng Hồ cai trị Việt Nam. Nó thất bại vì thống đốc d'Argenlieu (trách nhiệm cả Đông Dương) thấy ra âm mưu "nhuộm đỏ" của Hồ trong hiệp ước khi có điều khỏan "thống nhất ba kỳ" . Trước khi bay qua Pháp để dự hội nghị Fontainebleau, d'Argenlieu đã có mặt tại Hội Nghị Đà Lạt. Hội Nghị này mục đích ông không chỉ bàn riêng hai nước Bắc Việt và Pháp mà ông quy tụ các nước khác như Miên, Lào, và Nam Việt Nam để họ có ý kiến. Tại Fontainebleau thì Phạm Văn Đồng, đại diện phái đòan, đã không hề đề cập tới hai nước láng giềng khi muốn Pháp trở thành liên hiệp với Việt Nam. Việc thất bại của Hội Nghị Fontainebleau là chuyện không tránh khỏi.

 Quan trọng hơn cả là chính phủ lãnh đạo bởi Georges Bidault vào lúc này đã thẳng thắn chống Hồ Chí Minh vì Hồ là một lãnh đạo thuộc khối đệ tam quốc tế cộng sản.

 ... ông Bidault là một người có tinh thần thực dân và khinh miệt người Việt Nam lộ liễu. Trong việc sắp xếp chỗ ngồi trong ngày quốc khánh Pháp, cụ Hồ đòi ngồi ngang hàng với ông Bidault, nhưng ông Bidault nhất định không chịu như vậy. Cuối cùng ban nghi lễ phải sắp nhiều khán đài gần nhau, nhưng cái cao cái thấp, hơn kém nhau vài phân. Cụ Hồ được sắp ngồi cũng tạm gọi là ngang hàng với ông Bidault trên khán đài riêng, thấp hơn khán đài ông Bidault vài phân, nhưng ở xa thì thấy ngang nhau.

 Vụ này xảy ra ngay ngày lễ Quốc Khánh của nước Pháp,14/7/1946. Tác giả Cao Văn Luận kể lại không sai. Đó cũng nói lên sự không tôn trọng chút nào của thủ tướng Bidault đối với người cộng sản Hồ Chí Minh - ngồi ngang hàng với một tên cộng sản sừng sỏ có hơn 30 năm họat động với Nga Tàu, một tay sai đắc lực của Nga Tàu, đối với ông như thế là mất danh dự và nhục thể quốc gia ông đang đại diện chăng? Hơn nữa, tại nước Pháp của ông hiện lúc đó Đảng Cộng Sản và Xã Hội, nói chung là phe tả, đang hòanh hành mà ông là đối thủ của họ. Thái độ cứng rắn và khinh thường đối phương của Bidault là dấu hiệu cho ông Hồ biết là công việc của các ông cộng sản Việt Nam đang họp bàn tại Fontainebleau chẳng đi đến đâu mà chỉ có hậu quả tệ hại.

Vì vậy cụ Hồ muốn mang về nước ít ra một thỏa ước nào minh bạch hơn là một bản thông cáo không có giá trị gì hết. Cụ chỉ còn trông cậy vào một con đường: ký với Bộ Pháp Quốc Hải Ngoại, tức là bộ Thuộc Địa Pháp, một thỏa ước kiểu đó. Dĩ nhiên đây là một thiệt thòi nhục nhã cho Chính phủ Việt Minh: quốc trưởng một quốc gia, dù nhỏ bé không thể nào hạ mình ký kết với một bộ trưởng, lại là bộ trưởng bộ Thuộc Địa.
Làm như vậy đương nhiên cụ Hồ nhận chịu cho Việt Nam làm xứ thuộc địa, chấp nhận uy quyền của thực dân Pháp và riêng cụ trở thành bề dưới của Marius Moutet, bộ trưởng bộ Thuộc Địa Pháp.

 Bề nào thì Hồ Chí Minh và tập đòan kể cả linh mục Cao Văn Luận vẫn bị coi là thành phần cõng rắn cắn gà nhà, vì bảo vệ quyền lợi Đảng mà sẵn sàng làm thân nô lệ ngọai bang. Ông Luận lên án Hồ Chí Minh điểm này nhưng tại sao lại bằng lòng cho ông Hồ vận động muốn Pháp chấp nhận Hiệp Ước Sơ Bộ? Hiệp  Ước này nếu thực hiện thì đúng là một hành động phản quốc, bán nước, vì đó không gì hơn là muốn Pháp tiếp tục cai trị bên cạnh chính phủ Việt Minh, cùng nhau chia chát quyền lợi trên dân tộc Việt Nam. Sau vụ ký hiệp ước này, dân chúng gọi ông là "Hồ Chí Minh bán nước" mà chính Hồ cũng nhiều lần tự phân giải trong lý lẽ khó chấp nhận được.

 Ông Bidault và quốc hội trên nguyên tắc quyền hành còn rộng hơn bộ trưởng thuộc địa Moutet, thế mà họ đã tẩy chay phái đoàn PhạmVăn Đồng, nghĩa là yêu sách của phe Hồ Chí Minh muốn Pháp tiếp tục ở Việt Nam cai trị đã không có kết quả gì hết, thì ông Moutet với cái văn bản Modus Vivandi ký với Hồ,  14/9/1946, chỉ là một xảo kế mang về gạt dân trong nước để cầm cự và câu giờ.

 Tác giả đã mâu thuẫn ở nhiều điểm khi lập luận cho rằng Hồ Chí Minh "chấp nhận uy quyền của thực dân Pháp và riêng cụ trở thành bề dưới của Marius Moutet."

Linh mục Luận biết chính phủ Pháp đã không muốn làm theo yêu cầu của Hồ Chí Minh là cùng Pháp hợp tác cai trị Việt Nam thì lấy tư cách gì để Hồ Chí Minh được làm "bề dưới" của Marius Moutet, chỉ là một bộ trưởng? Ông Hồ khi ký Hiệp Ước Sơ Bộ với Sainteny (lúc đó quốc hội do Pháp cộng nắm quyền) là đương nhiên Hồ nhận chịu cho Việt Nam làm xứ thuộc địa rồi; nhưng trên thực tế thì không phải vậy. Nói đúng hơn thì sau thế chiến 2, Pháp đã không còn xem vấn đề thuộc địa là hàng đầu nữa, mà theo chính sách chung của thế giới, và của cố tổng thống Hoa Kỳ Roosevelt, Pháp lúc này hầu như đã trả lại tất cả chủ quyền và độc lập cho các nước bị Pháp thuộc địa trước kia. Nếu chính phủ Pháp cộng còn tồn tại thì dĩ nhiên sẵn sàng chấp nhận nội dung Hiệp Ước Sô Bộ, và tại Fontainebleau chính thức hoá nó để cùng phe Hồ cai trị Việt Nam, không phải thực dân mà công tác mới là nhuộm đỏ Đông Dương.

 Bởi vì lo ngại tình thế đó có thể xảy ra tại Việt Nam nên phe de Gaule, Bidault, d'Argenlieu đã vận động và hành động đúng lúc để phe cánh hữu nắm chính quyền. Nếu tại Việt Nam xảy ra hiện tượng Pháp cộng, Việt cộng hoành hành thì miền Nam không thể tránh khỏi nhuộm đỏ, sau đó lan dần cả Miên, Lào, Thái Lan...Nhưng phe cánh hữu bên Pháp không phải họ chỉ lo Đông Dương bị nhuộm đỏ mà nơi bị nhuộm đỏ trước là ngay tại nước Pháp. Làn sóng đỏ của Stalin tại Âu Châu còn khủng khiếp  nhiều lần hơn của Hồ Chí Minh.

 Cái lo của d' Argenlieu khi đọc xong Hiệp Ước Sơ Bộ ký ngày 6/3/1946 đã làm ông tức tốc có thái độ với phe Hồ. Thống đốc d' Argenlieu đã tỏ ý không chấp nhận hiệp ước đầy âm mưu thâm độc này tại Hà Nội khi gặp Hồ Chí Minh ngày 19/5/1946. Trong hiệp ước ghi  việc "thống nhất ba kỳ" có nghĩa là , theo ông d' Argenlieu, giao trọn miền Trung và Nam cho cộng sản. Vụ Hồ ra lệnh bắt dân treo đèn, hoa giăng đầy đường rồi tuyên bố là dân ủng hộ Hồ Chí Minh đến độ làm lễ sinh nhật trịnh trọng đến thế, cũng có thể là cách Hồ đo lường phản ứng của d' Argenlieu. Cuối cùng thì sự cứng rắn của ông thống đốc trước sau như một.

 Khi chạm trán với Phạm Văn Đồng tại hội nghị Fontainebleau, d' Argenlieu và họ Phạm đã có cuộc công kích sôi nổi mà sách báo viết về lịch sử đã ghi nhận. Phe Hồ còn bị phe thủ tướng mới nhiệm chức Bidault chống đối ra mặt, và hành động này linh mục Luận cho là "khinh miệt người Việt Nam lộ liễu.", mà ông không dám viết là  khinh miệt ông Hồ lộ liễu.

 Có phải hành động đúng mức và kip thời của d' Argenlieu tại Việt Nam đã đánh động và ảnh hưởng luôn tới sự chọn lựa những đại biểu quốc hội vào  6/1946? Nhiều sách sử ghi lại nội dung cuộc họp tại Fontainebleau bàn về nội bộ nước Pháp và một số vấn đề khác, cố tình bỏ qua chuyện Hiệp Ước Sơ Bộ của phe Hồ là hợp lý. Phe cánh hữu đã thành công đạp đổ phe tả thì  không ai muốn mất thời giờ bàn về những chương trình của phe tả.Việc chính trường Pháp có khủng hỏang trong giai đọan tháng 6 này xảy ra khi các khối Đảng Xã Hội, Đảng Cộng Sản, và Mặt Trận Bình Dân (Bidault) đang tranh giành đã làm Hồ Chí Minh khi qua Pháp phải chờ đợi, và Sainteny được lệnh làm hộ tống viên cho Hồ. Ngày 2/6/1946, Đảng phái phe tả đã không nắm đa số ghế trong quốc hội.

Sự thành công của phe hữu, tức Bidault, đã làm Hồ Chí Minh mất ăn mất ngủ, lộ hẳn nét âu lo mà tác giả linh mục Cao Văn Luận cũng đã diễn tả trong sách. Ông Luận rất hối tiếc là mục đích Hồ ở lại 4 tháng bên Pháp để vận động cố gắng lôi kéo chính phủ Pháp về phe tả để cùng Hồ nằm trong "liên hiệp Pháp" cai trị Việt Nam đã hoàn toàn thất bại; nhưng tác giả nhấn mạnh ở điểm ông cho rằng Hồ Chí Minh không cần Pháp công nhận (recognize) mà cái quan trọng nhất là Pháp giúp ông để "thống nhất ba kỳ" mà trong hiệp ước đã đề ra. Đây nói ra ý đồ bất chánh là muốn biến cả nước Việt Nam thành chư hầu quốc tế cộng sản càng sớm càng tốt mà d' Argenlieu đã tiên đoán.

 Trở lại vụ quá khuya Hồ Chí Minh tới nhà bộ trưởng Marius Moutet, trước khi trở về Việt Nam,  ký ngay trên đầu giường bản văn mà một số sách báo Đảng gọi là "tạm ước 14 tháng 9, 1946". Đây chỉ là cái cớ mà chính Hồ cũng xác nhận là "tạm ước còn hơn là không có điều ước gì cả" khi bị báo chí quốc tế phỏng vấn. Thật ra thì đó là cách để câu giờ rồi dùng nó như sự xoa diụ những làn sóng phẩn nộ trong dân chúng bắt đầu từ ngày Hồ ký hiệp ước với Sainteny mà ông ta bị cái nhãn hiệu là "Hồ Chí Minh bán nước". Mặt khác, phe cánh Hồ tương kế tựu kế để đối phó với chính phủ Pháp.Trong vài ngày cuối tại Pháp, những nhân vật lãnh đạo như tướng Salan, đại sứ Sainteny, bộ trưởng Moutet đã nói thẳng cho Hồ biết là nước Pháp không tha cho Hồ và chiến tranh sẽ xảy ra một ngày không xa.

 Sau vụ thất bại, phe Hồ đã ra một thông báo. Các khối chính đảng trong nước đã nắm tình hình tại hội nghị Fontainebleau nên Hồ rất lo sợ sự chống đối. Việc này làm Hồ và tập đòan lo ngại, mà ông Luận cho là "các phần tử quá khích rục rịch nổi lên chống lại Việt Minh khi hay tin hội nghị Fontainebleau thất bại..."   Sau vụ ký Hiệp Ước Sơ Bộ, phe quốc gia có ông Vũ Hồng Khanh cũng tìm cách rời bỏ "chính phủ liên hiệp" vì thấy ra âm mưu của Hồ; hơn nữa, có tài liệu cho thấy Vũ Hồng Khanh bị lợi dụng, trong thế  bị ép buộc ký chung với Hồ Chí Minh (phe Việt Minh bỏ phiếu chọn Vũ Hồng Khanh, sách Con Rồng Việt Nam của cựu quốc trưởng Bảo Đại). Nguyễn Tường Tam cũng được Hồ chọn đi theo phái đoàn Phạm Văn Đồng qua Pháp dự hội nghị Fontainebleau, nhưng ông Tam đã nhận ra con người thật của Hồ nên tẩu thoát qua Tàu.

 Chiến tranh xảy ra. Kẻ bị tấn công là lãnh tụ quốc tế cộng sản Hồ Chí Minh và tập đoàn cộng sản, không phải dân chúng Việt Nam. Lời kêu gọi "toàn quốc kháng chiến chống Pháp xâm lược" của Hồ Chí Minh, rất tiếc có hiệu quả khi toàn dân lúc đó, nói theo ông Hồ Chí Minh, là 95% mù chữ. Mù chữ Việt Nam thì làm sao biết được những gì xảy ra trên thế giới, làm sao hiểu ra bản chất của chủ nghĩa và con người cộng sản, và hơn hết là Hồ Chi Minh mờ mờ ảo ào, ẩn hiện trong lớp áo "yêu nước" một "cộng sản quốc gia" đã làm rất nhiều người bị lầm lẫn, bị lôi cuốn vào quỹ đạo độc hại không lối thoát.

Bút Sử



  

NMTriết và Những Trích Dẫn của TT Hoa Kỳ
Ngay lúc bài viết này sắp lên mạng internet thì ông Chủ Tịch Nước Cộng Hoà Xã Hội Chủ Nghĩa Viêt Nam, Nguyễn Minh Triết,cũng đang trên đường qua Âu Châu.Trong chuyến công du này ông Triết sẽ gặp Đức Giáo Hoàng Benedict tại Vatican. Ông Triết được người nước ngoài biết vì ông ta xuất ngoại nhiều so với những lãnh đạo khác, nhưng người Việt Nam trong và ngoài nước nhắc đến ông không ít bởi những lời phát biểu của ông.

Hơn 200 năm về trước, tổng thống đầu tiên của Hoa Kỳ là George Washington. Người dân Mỹ ghi công ông không chỉ đơn giản ông là vị tổng thống thứ nhất làm nền tảng xây dựng đất nước, nhưng lòng ái quốc và khả năng lãnh đạo của ông. Tại sao thế giới vẫn luôn đề cao Hoa Kỳ là quốc gia thật sự đại diện cho nền tự do dân chủ ? Được như vậy bởi vì tại đất nước này từ ngày lập quốc đã có những con người có nhận thức cao về tự do dân chủ.
If the freedom of speech is taken away then dumb and silent we may be led, like sheep to the slaughter. George Washington – Nếu tự do ngôn luận bị tước đoạt thì sau đó chúng ta sẽ có thể bị dẫn dắt bởi ngu dốt và câm lặng, giống như con cừu trước kẻ giết thú vật.
Hơn 170 năm sau, 1945, kể từ ngày Washington phát biểu thì người dân Việt Nam tại miền Bắc là bằng chứng cho câu nói như chân lý trên, và đã hơn 34 năm qua toàn dân chứng nghiệm thêm về thân phận làm người như những con thú trước những bàn tay giết thú một cách tàn bạo. Người lãnh tụ chủ trương tước đoạt quyền tự do ngôn luận, tự do phát biểu, làm thay đổi hoàn cảnh đất nước và sự sống của dân tộc Việt Nam chính là Hồ Chí Minh.

Nhận thức sâu sắc về nhân bản, một phát biểu để đời khác của tổng thống:

To err is natural; to rectify error is glory. Washington- Làm điều sai là tự nhiên; phục thiện hay sửa chữa sai lầm là niềm tự hào.
George Washington là một lãnh đạo, một chính trị gia, không phải nhà đạo đức hay xã hội chuyên môn. Ông đề cao tính chân thật trong một con người có tinh thần tiến bộ, dù làm tổng thống hay làm bất cứ nghề gì trong xã hội, đã là con người thì không tránh khỏi có những lúc sai lầm.

Khi Hồ Chí Minh và tập đoàn cầm quyền đất nước Việt Nam thì quyền hạn tự nhiên trở nên những thứ quyền cứng ngắt, đầy tính bạo lực, gán ghép. Tuyên bố để đời của Hồ Chí Minh -Đảng ta là đảng cầm quyền, và ý nghĩa câu này được áp dụng trong điều 4 Hiến Pháp của Đảng Cộng Sản. Đảng áp đặt toàn dân phải tin Đảng và lúc nào Đảng cũng đúng. Đảng toàn quyền thống trị trên mọi mặt trong đời sống con người và xã hội.

Idealism without realism is impotent. Realism without idealism is immoral. Richard Nixon - Lý tưởng/ duy tâm mà không hiện thực thì không hiệu lực. Hiện thực/duy thực mà không duy tâm thì vô đạo đức, trái luân lý.

Giai đoạn ông Nixon làm chính trị là lúc phong trào cộng sản đang hoành hành.Tuyên bố trên của tổng thống Nixon đơn giản nêu lên bản chất của những người cộng sản chủ trương vô thần, bài bác tôn giáo. Họ là những kẻ không có tính thiện. Sau hơn 60 năm bị cai trị bởi chế độ cộng sản, chúng ta chứng nghiệm vô số những con người không có tính thiện này. Nhiều lắm nhưng dễ nhận ra nhất là các nhân vật lãnh đạo, thí dụ ông Chủ Tịch Nước Nguyễn Minh Triết chẳng hạn.

Cách nay không lâu, 22/11/2009, tại một đại hội ở Hà Nội quy tụ gần 1000 người gồm “Việt kiều” và cán bộ, đảng viên, thương gia trong nước, khi trình bày quốc nạn tham nhũng, ông Nguyễn Minh Triết tuyên bố:
Ở nước người ta đó thì muốn tham những cũng khó vì hệ thống luật pháp nó chặt chẽ. Còn ở VN của mình á thì có khi không muốn tham cũng động lòng tham. Cái người thủ quỹ cứ giữ tiền khư khư, ở quỹ lúc nào cũng có số dư, cho nên lúc bí quá thì để mượn một chút (vỗ tay), mượn không thấy ai đòi hết thì anh mượn thêm, chứ không phải người Việt Nam tham nhũng nhất thế giới đâu. Người Việt Nam tham nhũng nhất thế giới , không phải vậy. Cho nên tôi đề nghị với quý vị ở nước ngoài á, khi nghe những thông tin này, đừng nên khi về Việt Nam á...cũng đừng có...có hốt hoảng. Sao nước mình tiêu cực quá. Ngày xưa oánh giặc sao giỏi thế mà bây giờ tiêu cực thế (vỗ tay). Đây là quy luật muôn đời. (vỗ tay to hơn)
Đấy. Lời tuyên bố đầy tính duy vật trên của lãnh đạo Triết cũng là một nguyên do làm ông thêm “nổi tiếng”. Chỉ có cấp đảng viên có chức vị mới có quyền thấy cái "quỹ" ấy, và các ông bà cứ lấy mãi vì "mượn mà không thấy ai đòi hết" và cứ thế mà làm . Rồi ông chủ tịch kết luận hành động tồi bại đó là quy luật ngàn đời . Thế mà cũng có những nhà chuyên môn nước ngoài về Việt Nam làm thiện nguyện huấn luyện cán bộ cộng sản làm thế nào để giải quyết nạn tham nhũng. Ông Triết tiếp tục mạnh miệng hơn khi “ác tâm” được phơi bày để chứng minh một con người thật là cộng sản. Với nét tự mãn, ông Triết tuyên bố:
...Ổng tuyên bố là ổng sẽ đóng cửa nhà tù Guantanamo mà! Nhưng mà tôi nói rằng, ông Obama ơi, vấn đề này làm khó lắm đó. Tôi chúc ông phải nỗ lực để thực hiện cho bằng được cái này. Tôi nói mà tôi nhìn Obama, tôi thấy ổng... ổng chăm chú lắm á, cũng lắng nghe. Như thế là mình vừa động viên ông Obama, nhưng mà mình vừa phân hoá cái cái nội bộ của ổng.
Nguyễn Minh Triết, hay nói chung, tổng thống Obama và phe cánh chủ trương mềm mỏng muốn thả các tên khủng bố ra khỏi nhà tù Guantanamo. Việc này được bàn cãi nhiều tháng nay, phe Đảng Cộng Hoà trong Quốc Hội, đa phần không tán đồng và cho rằng thả khủng bố ra sẽ bất lợi vì những lý do nào đó. Có lẽ ông Triết nghĩ rằng hà hơi cho Obama tức là làm cho phe Đảng Cộng Hoà yếu thêm, hai bên bàn cãi mãi, và lời nói ngoài miệng của ông đã “phân hoá” nội bộ của chính phủ Obama.

Chủ trương thù hận nằm trong cốt lõi của chủ nghĩa cộng sản. Người ta không ngạc nhiên khi bản chất của ông Triết lộ ra. Sống trong mâu thuẫn cũng là chuyện tự nhiên của người cộng sản, cho nên ông Triết khi ra khỏi khung rào sắt nhiều năm chứa đầy gian dối để đến một thế giới có tình người, có luật pháp công bằng, có văn minh vật chất, có học vấn và kiến thức cao, ông nổi bậc là một người vô sản, thứ tài sản thuộc tinh thần, trí tuệ.


Hoa Kỳ có tiếng một quốc gia văn minh, vật chất tràn đầy, nhưng có ai nhận ra rằng người Mỹ rất có lòng nhân đạo. Nói như vậy không có nghĩa là vì tiền đóng thuế của dân Mỹ đã vào rất nhiều công quỹ giúp các quốc gia nghèo thuộc thế giới thứ ba, trong đó có Việt Nam. Thế giới tự do đã giúp Việt Nam trong nhiều năm qua về mặt phát triển kinh tế và nhân đạo, nhưng Việt Nam vẫn còn tồi tệ. Đó cũng là lý do tại sao lãnh đạo như ông Triết và nhiều phái đoàn vẫn tiêp tục sang Mỹ và các quốc gia tiến bộ khác cầu khẩn hợp tác kinh tế và xin viện trợ, đồng thời các ông luôn áp dụng "lấy công quỹ làm của riêng là quy luật ngàn đời" do các ông tự đề ra.


Dù được giúp đỡ, nhưng Mỹ vẫn là kẻ thù, bởi vì Đảng phải luôn giữ thái độ thù hằn này để che lấp tội lỗi theo lệnh quốc tế cộng sản làm ra cuộc chiến tranh xâm lăng miền Nam, nhưng phải tuyên truyền là vào Nam để “chống Mỹ cứu nước”. Đảng rất sợ bộ mặt thật bị lòi ra, nên cái thứ “chính nghĩa” ngụy tạo ấy bằng mọi giá phải được tô điểm. Thật ra thì ý đồ “chơi” Mỹ kiểu ngoài miệng này của ông Triết chỉ có thể xảy ra tại Việt Nam mà thôi, nó “hợp lý” với một thành phần người dân trong nước và gần 1000 cử toạ phải làm nhiệm vụ “nhất trí” với tiếng vỗ tay.


Có người thắc mắc tại sao Đảng vẫn mãi luận điệu thù hằn Mỹ mà người Mỹ cứ vươn cánh tay ra cứu giúp? Dù với mục đích chính trị cao siêu nào đó, nhưng trên thực tế không thể phủ nhận rằng trên căn bản Mỹ không có ý đồ xấu. Ý thức này được thể hiện qua rất nhiều nhà lãnh đạo. Tổng thống Richard Nixon đương quyền trong lúc chiến tranh Việt Nam cao điểm, thế giới nhìn ông như một “diều hâu”. Trong tinh thần “
To be prepared for war is one of the most effectual means of preserving the peace. George Washington - Chuẩn bị cho chiến tranh là một trong những biện pháp hữu hiệu cho việc giữ gìn hoà bình”, nhưng ông Nixon đã để lại lịch sử qua câu:

Always remember others may hate you but those who hate you don't win unless you hate them. And then you destroy yourself. Richard Nixon – Nên luôn nhớ rằng những người đó có thể đang ghét bạn, nhưng những ai đang ghét bạn không thắng, ngoại trừ bạn ghét lại họ. Và sau đó bạn tự hủy diệt luôn.

Có phải tổng thống Nixon vô cùng thâm hậu? Thế giới cộng sản, với chủ trương hận thù, đấu tranh giai cấp, đã hy sinh trên 100 triệu con người để thắng một số trận chiến, nhưng trên đường dài có phải họ đã và đang thua, vì kẻ thù của cộng sản không chủ trương thù hận để phát triển đất nước.

Vì thấy trước tai hoạ và đe doạ cho nền hoà bình và an ninh của các quốc gia tự do trên thế giới mà Hoa Kỳ phải trở thành đồng minh hỗ trợ quân lực miền Nam đẩy lùi làn sóng xâm lăng ra Bắc. Hiểu được bản chất của chủ nghĩa và con người cộng sản, tổng thống John F. Kennedy đã phải thốt lên:

The world is very different now. For man holds in his mortal hands the power to abolish all forms of human proverty, and all forms of human life. John F Kennedy- Thế giới ngày nay rất là khác thường. Bởi vì người ta đang nắm quyền lực trong bàn tay ghê gớm để tiêu hủy tất cả những dạng thuộc quyền sở hữu của con người, và tất cả dạng thức thuộc về đời sống con người.

Tổng thống Kennedy đã ý thức về tai hoạ mà con người phải đương đầu khi phải bị những bàn tay ghê gớm thọc vào từng nơi, từng nhà, từng cá nhân, từng tổ chức, từng nhà thờ, từng chùa chiền... mà 46 năm về trước ông đã quyết định phải ra tay diệt trừ kẻ ác để bảo vệ hoà bình. Ngày nay vẫn còn, khi thủ lãnh tối cao của nhà nước cộng sản Việt Nam đang gặp Đức Giáo Hoàng tại Vatican thì hiện trạng nhà nước cướp tài sản đất đai của nhà thờ, của dân chúng vẫn còn ầm ĩ.

Khi bị phóng viên đài truyền hình CNN chất vấn về Đảng và Nhà Nước tước đoạt quyền làm người của toàn dân Việt Nam, 2007, Nguyễn Minh Triết trả lời rằng nhân quyền của người Việt không giống nhân quyền của người Mỹ. Đây cũng là lý lẽ được áp dụng tại Việt Nam, và ngay cả trong các hệ thống giáo dục và trường học. Những thứ quyền căn bản của con người mà cá nhân nào cũng cảm nhận được, quyền ấy không phải được ban cho, mà là thứ quyền thiêng liêng, đã là con người thì ai cũng có. Tự do ngôn luận bị cấm tại Việt Nam.

The liberty of the individual is no gift of civilization. It was greatest before there was any civilization. Sigmund Freud - Tự do của mỗi cá nhân không phải là sự ban cho của nền văn minh nhân loại. Đó là cái gì cao quý nhất trước khi có sự khai hoá.

Văn minh nhân loại vào thời của triết gia Freud ở cuối thế kỷ 19 đã là như vậy, nay vào thế kỷ 21, lối nói của ông Triết (cũng như tất cả lãnh đạo cộng sản) đồng nghĩa rằng Đảng và Nhà Nước có quyền định nghĩa quyền và ban quyền cho người dân bị trị. Các danh từ "tự do- dân chủ- nhân quyền" có thể sẽ được ông Triết thốt ra nhiều hơn khi gặp Đức Giáo Hoàng . Nhưng rồi nhiều năm với lối suy nghĩ sơ cứng và ngôn ngữ đầy tính giáo điều, rất khó cho người ta tin ông nói thật, cộng thêm trong quá khứ ông đã từng được coi như là một tên hề diễn trò chính trị.

Muốn tiến bộ thì không ngừng học hỏi, nhưng cái học ở Việt Nam thì sao?
Liberty without learning is always in peril; learning without liberty is always in vain. John F Kennedy - Tự do mà không có sự học hỏi thì luôn trong trạng thái hiểm hoạ; học hỏi mà không có tự do thì luôn ở trạng thái vô hiệu quả.
Thật vậy, thứ tự do ở Việt Nam ngày nay mà giới trẻ đang tận hưởng là tự do tình dục, tự do mua bán gái, tặng gái làm quà sinh nhật, tự do nhậu nhẹt, tự do đánh bài bạc trên đường phố, tự do trái luật (có bảo hiểm là hối lộ) v.v..Có thể nói hàng triệu thanh niên đang thất nghiệp tại Việt Nam, có khi mang bằng cấp kỷ sư, kế toán mà phải làm nghề lặt vặt trong các hotel. Đó là kết quả của một hệ thống giáo dục không có nền móng căn bản của tự do.

Tóm lại, chúng ta đã lướt qua một số câu nói để đời có giá trị của các cố tổng thống Hoa Kỳ kể từ thời lập quốc mà đa số chúng ta có thể không nhớ. Nhưng rồi dù muốn dù không những lời phát biểu ngây ngô của Chủ Tịch Nước Nguyễn Minh Triết chúng ta chắc cũng sẽ không quên. Có thể cho rằng ông Triết không thể nói gì khá hơn những gì ông đã nói trong quá khứ, nhưng vấn đề là người ta muốn xem cách hành xử ngoại giao và ứng đáp của ông giống như chờ xem thêm một trò hề dở ẹt. Và một lần nữa nhiều người sẽ cảm nhận một nỗi nhục chưa thể xoá tan trong một thời gian dài.

Cũng nên quên ông Triết đi mà tưởng đến một lãnh đạo nào đó trong tương lai. I do not think much of a man who is not wiser today than he was yesterday. Abraham Lincoln – Tôi không nghĩ nhiều về một người, người này không khôn hơn hôm nay so với ngày hôm qua.

Bút Sử

10/12/2009



Cuộc Chiến Tranh Ý Thức Hệ: 1946-1954

 Sự thật về Hồ Chí Minh đã được phơi bày càng ngày càng nhiều qua những hệ thống thông tin rộng rãi. Người ta đã biết ông Hồ có nhiều vợ, ít nhất 2 người con. Chính ông và Đảng dựng Hồ thành một người làm thơ có tầm vóc, tạo ra ấn tượng "nhà văn hóa lớn", nắn nót Hồ thành một người có hoài bảo, một thanh niên tuổi còn rất trẻ đã biết lên chiếc tàu Pháp ra đi "tìm đường cứu nước", v..v. Tuy nhiên, có một số sự kiện lịch sử mà Đảng dựa vào nhiều nhất để tiếp tục tuyên truyền. Bài viết này khai thác thêm những sử kiện tạo nên cuộc Chiến Tranh Đông Dương đầu tiên và ý nghĩa của nó để mong soi sáng thêm dòng lịch sử cận đại .


Sau khi Phong Trào Quốc Dân Đòi Trả Tên Saigon phổ biến DVD "Sự Thật về Hồ Chí Minh" thì tại Việt Nam các báo Đảng phản ứng bằng những bài viết bôi lọ và xuyên tạc, cũng như các cán bộ nằm vùng tại hải ngoại tung bài trên mạng internet để chỉ trích. Đồng ý rằng không một bộ phim nào có thể đưa lên tất cả mọi mặt trên một vấn đề, kể cả các phim ngoại quốc, nhưng nhóm thực hiện phim đã được sự hưởng ứng cao độ từ các thành phần trong nhiều cộng đồng trên thế giới. Nhiều lần linh mục Nguyễn Hữu Lễ, đại diện cho Phong Trào, đã gợi ý rằng phim mục đích chánh dành cho người Việt trong nước và giới trẻ sinh sau đẻ muộn chưa biết gì về ông Hồ, hoặc có biết thì chỉ là tuyên truyền một chiều từ Đảng và Nhà Nước Cộng Sản Việt Nam.

Khi lướt qua một số ý kiến, có thể là của giới trẻ trong nước về phim, người ta nhận thấy là thành phần chống lại phim nêu ra một vài luận điệu:

-Chấp nhận những gì phim trình bày là sự thật.
- Hồ Chí Minh phải theo cộng sản để được quốc tế cộng sản hỗ trợ sau khi cướp chính quyền, bởi vì chính phủ Mỹ đã không giúp Hồ Chí Minh.
-Dù sao thì Hồ Chí Minh cũng có công trong cuộc "kháng chiến giành độc lập."

TẠI SAO HOA KỲ KHÔNG CHẤP NHẬN HỒ CHÍ MINH?

Sau khi Việt Minh cướp chính quyền Trần Trọng Kim 19/8/1945, Hồ Chí Minh ra công vận động ráo riết để mong Hoa Kỳ công nhận "chính phủ" ông sắp ra mắt trước công chúng. Việt Minh đã tổ chức những buổi xuống đường "hoan hô phái bộ đồng minh OSS" (Office of Strategic Services - Cơ Quan Tình Báo Hoa Kỳ) nhưng hoàn toàn thất bại. Rõ ràng nhất ngay ngày 2/9/1945, Mỹ đã không hiện diện tại Ba Đình, ngoại trừ 4 nhân viên của OSS đứng trong đám đông, nơi diễn ra đại lễ gọi là Hồ Chí Minh đọc "Tuyên Ngôn Độc Lập."
On 23 September 1945, with the knowledge of the British Commander in Saigon, French forces overthrew the local DRV government, and declared French authority restored in Cochinchina (The Pentagon Papers, Gravel Edition, Bacground to the Crisis 1940-50, Boston: Beacon Press, 1971). - Vào ngày 23/9/1945, với hiểu biết sâu rộng của chỉ huy trưởng lực lượng quân đội Anh tại Saigon, quân Pháp đã đánh bại thành phần cộng sản tại địa phương (thuộc Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam - con đẻ của cộng sản miền Bắc), và Pháp tuyên bố tái lập quyền lực tại Đông Dương.
Sự kiện trên cho chúng ta thấy rằng, Pháp trong thế phải trở lại Đông Dương (theo chân Anh sau Thế Chiến Thứ 2 với nhiệm vụ giải giới tàn quân Nhật ở miền Nam chiếu theo hội nghị Potsdam) để đương đầu với làn sóng cộng sản, mà ngay lúc này Hồ Chí Minh đang nắm quyền lãnh đạo tại miền Bắc.

Vào 10/1945, Hoa Kỳ đề ra trong văn kiện về chính sách trước hiện trạng tại Việt Nam:
US has no thought of opposing the reestablishment of French control in Indochina and no official statement bv US GOVT has questioned even by implication French sovereignty over Indochina. However, it is not the policy of this GOVT to assist the French to reestablish their control over Indochina by force and the willingness of the US to see French control reestablished assumes that French claim to have the support of the population of Indochina is borne out by future events.(The Pentagon Papers) - Hoa Kỳ không có ý chống lại sự tái lập lực lượng của Pháp tại Đông Dương và không có một văn kiện chính thức nào từ chính phủ Hoa Kỳ đặt nghi vấn ngay cả không có ngầm ý gì về chủ quyền của Pháp tại Đông Dương. Tuy nhiên, đó không phải là chủ trương của chính phủ để hỗ trợ Pháp tái lập quyền hạn trên Đông Dương bằng vũ lực, và Hoa Kỳ muốn thấy Pháp đưa ra yêu sách là có sự ủng hộ của dân chúng vùng Đông Dương bằng những sự kiện sẽ xảy ra trong tương lai.
Thái độ của Hoa Kỳ lúc này không chính thức 100% ủng hộ Pháp trở lại đương đầu với công sản, nhưng mặt khác thì đã mặc nhiên thoả thuận. Vấn đề phức tạp trong giai đoạn này là những năm từ 1941 đến 4/1945, Hoa Kỳ, Anh, và Pháp đã liên tiếp họp bàn về vấn đề trao trả độc lập cho các quốc gia bị thuộc địa, nhưng trước vấn đề Thế Chiến Thứ 2 và sự bành trướng của làn sóng đỏ mà đến đầu năm 1945 các thoả thuận cũng chưa kết thúc, mặc dù Anh-Pháp trong tinh thần đã bằng lòng trên cách giải quyết đó. Sau khi tổng thống F.D. Roosevelt qua đời vào 12/4/1945, trong hoàn cảnh bắt buộc mà tổng thống kế nhiệm, Truman, đã không tiếp tục "chính sách ép buộc các quốc gia có thuộc địa trao trả độc lập cho dân bản xứ" của cố tổng thống Roosevelt.

Một hội nghị tại San Francisco 25/4/1945 - 26/6/1945, quy tụ 50 quốc gia, bàn về nhiều vấn đề liên quan tới Thế Chiến Thứ 2 và giới hạn của 5 quyền lực trên thế giới, bàn về thực dân trao trả độc lập cho dân bản xứ, trong đó có đặt vấn đề phức tạp xảy ra tại Việt Nam. Tường trình của Bộ Trưởng Ngoại Giao Hoa Kỳ, ông Stettinius: Bidault cảm thấy nhẹ nhõm khi được Hoa Kỳ xác nhận quyền tái lập lực lượng tại Đông Dương. Georges Bidault là Bộ Trưởng Ngoại Giao Pháp được thủ tướng Charles de Gaulle chỉ định vào 25/8/1944 trong chính phủ lâm thời, sau khi nước Pháp được giải toả (Chính phủ Bidault, 6/1946, là cái gai của Hồ Chí Minh cũng là nguyên nhân cuộc chiến 1946-1954, sẽ chi tiết thêm ở phần sau).Từ các sử kiện trên cho thấy độ mềm dẽo và cứng rắn của Hoa Kỳ như thế nào đối với Anh-Pháp và với Hồ Chí Minh. Sự đoán trước và ngăn ngừa của phe Anh-Pháp-Hoa Kỳ đã xảy ra trong thực tế - thế lực đỏ của Staline ở Âu Châu và Hồ Chí Minh (với hỗ trợ của Mao) ở Đông Dương.
Although American OSS representatives were present in both Hanoi and Saigon and ostensibly supported the Viet Minh, the United States took no official position regarding either the DRV, or the French and British actions in South Vietnam. (The Pentagon Papers) - Mặc dù những đại diện của tình báo Hoa Kỳ OSS đã hiện diện tại Hà Nội và Saigon và bề ngoài có vẻ ủng hộ Việt Minh, Hoa Kỳ không có một vai trò gì đối với phe Hồ Chí Minh, hay những hoạt động của cánh Pháp-Anh.
Hoa Kỳ ra vẻ ủng hộ Việt Minh vì Hồ Chí Minh bắt đầu 4/1945 là nhân viên của OSS, làm công tác qua lại giữa ranh giới Trung Việt. Hoa Kỳ đã biết Hồ Chí Minh chính là Nguyễn Ái Quốc, một quốc tế cộng sản đang hoạt động tại Đông Dương, nhưng vẫn xử dụng ông Hồ trong lúc chiến tranh với Nhật. Vào 3/1945, Charles Fenn, thuộc OSS, đã gặp Hồ tại Côn Minh cũng đã có những trao đổi trên vấn đề Hồ là một người cộng sản.

Sau khi tuyên bố "độc lập" và không được quốc gia nào công nhận, Hồ Chí Minh liên kết ngay với phe Pháp cộng, ký với đại diện Pháp Jean Sainteny Hiệp Ước Sơ Bộ ngày 6/3/1946, mang Pháp về với mục đích để Pháp công nhận, thứ đến Pháp chính thức cai trị Việt Nam bên cạnh chính phủ cộng sản của Hồ Chí Minh, và dùng bàn tay Pháp để tiêu diệt các đảng phái quốc gia chống cộng sản. Lập luận cho rằng Pháp về lúc này để thay thế quân Tưởng là không đúng trên nguyên tắc vì D'argenlieux và phe Tưởng, vào 2/1946, đã ký thoả thuận về ngày quân Tưởng rút khỏi miền Bắc. Cần lưu ý là Quốc Hội của nước Pháp ngay trong giai đoạn ngắn ngủi này do thành phần đảng Xã Hội và Cộng Sản nắm quyền, lãnh đạo của chính phủ lâm thời là Felix Gouin (26//1/1946- 24/6/1946) sau Charles de Gaulle.
From the autumn of 1945 through the autumn of 1946, the United States received a series of communications from Ho Chi Minh ...pleading for U.S. recognition of the independence of the DRV.... But while the U.S. took no action on Ho's requests, it was also unwilling to aid the French (The Pentagon Papers). Từ mùa thu 1945 tới mùa thu 1946, Hoa Kỳ nhận liên tiếp nhiều thông tin từ Hồ Chí Minh cầu xin Hoa Kỳ công nhận sự độc lập của Chính Phủ Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa...Nhưng trong khi Hoa Kỳ không trả lời về những đòi hỏi của Hồ, đồng thời chính phủ cũng không có ý trợ giúp Pháp.
Mùa thu 1946 là giai đoạn Hồ Chí Minh gặp nhiều khó khăn về phương diện ngoại giao: đang bị Hoa Kỳ tiếp tục làm ngơ, còn chính phủ lâm thời Pháp thì đang ở giai đoạn bầu cử và phe cứng rắn chống cộng đã nắm quyền quốc hội.

Đến đây cũng đủ để chứng minh rằng ngay từ ngày quốc tế cộng sản Hồ Chí Minh trở về Vìệt Nam (1941) sau hơn 30 năm ở nước ngoài và một quãng dài ít nhất 25 năm hoạt động trọn thời gian cho quốc tế cộng sản, thế giới đã biết ý đồ của ông khi quay đầu trở lại Việt Nam. Lý luận cho rằng vì Hoa Kỳ không công nhận chính phủ của Hồ Chí Minh nên đường cùng ông phải theo cộng sản là một lập luận rất khập khểnh, không dựa vào những sự kiện xảy ra trong quá khứ. Hơn nữa, rất nhiều sách báo Đảng ca ngợi vai trò quốc tế cộng sản của ông Hồ.

CUỘC CHIẾN TRANH Ý THỨC HỆ

Hiệp Ước Sơ Bộ 6/3/1946, ký giữa 2 phe Pháp ( chính phủ Gouin thân cộng) và Hồ Chí Minh kéo dài đến tháng 5/1946 vẫn chưa đi đến kết quả cụ thể, vì chính phủ Pháp đang thay đổi thành phần lãnh đạo. Ngày 28/5/1946, Phạm Văn Đồng được lệnh hướng dẫn phái đoàn qua Pháp dự hội nghị Fontainebleau để mong chính thức hoá Hiệp Ước Sơ Bộ, nhưng thất bại hoàn toàn vì lập trường chống cộng của chính phủ vừa đắc cử do Georges Bidault lãnh đạo.

Ngay trước khi sang Pháp, 31/5/1946, Hồ Chí Minh viết một lá thư gởi dân miền Nam, trong đó có câu "Tôi xin hứa với đồng bào rằng HỒ CHÍ MINH không phải là người bán nước." Tại sao ông Hồ phải nhắc tới 2 chữ "bán nước"? Thực ra thì Hồ đã bị dân miền Bắc gọi là "Hồ Chí Minh bán nước" sau vụ ký Hiệp Ước Sơ Bộ, nên có thể ông vẫn còn mang mặc cảm về hành động phản quốc này.

Hồ Chí Minh đến Pháp lúc này, nhưng đi riêng. Phái đoàn Phạm Văn Đồng trở về Việt Nam, và ông Hồ đã ở lại Pháp 4 tháng ra công vận động các bạn bè cũ thuộc cánh cộng sản và xã hội.
The night before Ho was to return to Vietnam, Salan said to him - and Ho must have known it was true - "We are going to fight each other, and it will be very difficult." Indeed, Ho had told Sainteny and Marius Moutet, "If we have to fight, we will fight...You will kill ten of us and we will kill one of you, but you will be the ones who grow tired." (Ho Chi Minh, by Pierre Brocheux, page 120) - Đêm trước khi Hồ trở về Việt Nam, Salan nói với ông ta - và Hồ đã biết đó là sự thật - "Chúng ta sẽ đánh nhau, và nó sẽ rất là khó khăn." Thực vậy, Hồ đã nói với Sainteny và Marius Moutet, "Nếu chúng ta phải đánh nhau, chúng ta sẽ đánh....Các ông sẽ giết 10 người của chúng tôi và chúng tôi sẽ giết 1 người của các ông, nhưng các ông sẽ là những người trở nên mệt mỏi."
Mẩu đối thoại này đã đi vào lịch sử để chứng minh thái độ của chính phủ Pháp (Georges Bidault lãnh đạo) đối với cộng sản. Tướng Salan đã thẳng thắn tuyên bố chiến tranh với phe Hồ Chí Minh qua một lý do đơn giản: Hồ Chí Minh là một quốc tế cộng sản, một đe doạ cho nền hoà bình và an ninh của thế giới tự do.

Biết mình bị tấn công, nhưng ông Hồ vẫn còn trong tâm trạng nương níu hy vọng vào một cái gì đó dù rất là mơ hồ. Giờ phút cuối cùng trong 4 tháng vận động, Hồ đã đến nhà ông Moutet vào quá khuya ngày 14/9/1946 để 2 bên ký một tạm ước modus vivendi, nội dung tương tự Hiệp Ước Sơ Bộ gồm 11 điều khoản chia chát quyền lợi hai bên. Moutet một đảng viên Đảng Xã Hội, thân cộng, là Bộ Trưởng Bộ Thuộc Điạ, ông ngượng ép ký văn bản này dù biết không giá trị. Đúng vậy, ngày 22/9/1946 Hồ tiếp tục công tác vận động bằng cách viết một lá thư cho một dân biểu quốc hội Pháp, thân cộng, là bà Sô Dít (cách viết của ông Hồ) yêu cầu bà giúp ông làm thế nào để chính phủ Pháp công nhận "độc lập" của "Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa".

Trong tâm trạng chuẩn bị cuộc chiến tranh khó tránh khỏi giữa Pháp và Việt Minh hay đúng hơn là cộng sản, không phải giữa Pháp và toàn dân Việt Nam, Hồ Chí Minh dùng thủ đoạn tuyên truyền, mục đích gây sục sôi lòng thù hận trong dân chúng để đứng lên chống Pháp. "Lời Kêu Gọi Toàn Quốc Kháng Chiến" của Hồ được tung ra ngay sau khi tuyên chiến xảy ra giữa Pháp và Việt Minh ngày 19/12/1946. Đáng ghi nhận ở đây là một số không ít Việt Minh khi gia nhập vào hàng ngũ chống Pháp vì lòng yêu nước chứ không phải vì cộng sản.

Lời trong thư gửi cho bà Sô Dít đầy tính van xin: Chỉ cần nước Pháp công nhận nền độc lập của chúng tôi thì tức khắc nước Pháp sẽ tranh thủ được trái tim và tình cảm của tất cả người Việt Nam. Và chúng ta sẽ cùng nhau xây dựng khối liên hiệp Pháp, một khối liên hiệp tự do, vững chắc và anh em. Gần 3 tháng sau, khi không được làm bạn với Pháp thì Pháp trở thành kẻ thù, văn phong của ông Hồ trở nên nặng nề, miệt thị: ... có súng thì dùng súng, ai có gươm dùng gươm, không có gươm thì dùng cuốc, thuổng, gậy gộc, ai cũng phải ra sức chống thực dân cưú nước...Ta phải hy sinh đến giọt máu cuối cùng để giữ gìn đất nước.

Lúc còn ở Pháp vào 13/9/1946, tướng Salan tuyên bố Pháp sẽ đánh Việt Minh, ông Hồ không gì hơn là chấp nhận, nhưng trong tư thế của một lãnh đạo cộng sản được huấn luyện thuần thành, mất hết tính quốc gia dân tộc, không còn nhân bản, dùng cứu cánh để biện minh cho phương tiện. Phương tiện đó là áp dụng chiến thuật "biển người' để đạt mục đích là chiến thắng, vũ khí là mạng người dù phải hy sinh hằng triệu. Ông đã nói ra phương cách này trước mặt 2 viên chức cao cấp của Pháp, Sainteny và Moutet- 10 người Việt Nam đổi 1 mạng người Pháp Hồ vẫn quyết tâm chiến đấu tới cùng!

Trong "Why Vietnam" (page 4), tác giả Archimedes Patti, nguyên là trưởng cơ quan OSS, cũng đã ghi nhận tính vô nhân này của ông Hồ:

...that his government's policy would be one of "scorched earth to the end."..that Vietnam from north to south would be reduced to ashes, even if it meant the life of every man, woman, and child...rằng chính sách của ông ta (Hồ) là một loại "tiêu thổ kháng chiến tới cùng."...rằng Việt Nam từ bắc tới nam sẽ bị thiêu tan thành tro bụi, ngay cả kể luôn sự sống của mỗi người đàn ông, đàn bà, trẻ con, v.v..

Thật vậy, có thể nói trong cuộc chiến tranh phân chia lằn ranh quốc cộng từ 1946 -1975, những tang thương, chết chóc, điêu tàn đã chứng minh rõ mồn một về chủ trương của người cộng sản Hồ Chí Minh. Hiện tượng "Mỹ Lai" cũng là kết quả của chính sách "tiêu thổ kháng chiến" của Hồ mà Patti đề cập trên. Cộng sản chọn lựa những nơi như trường học, nhà thờ, nơi làng mạc quy tụ dân cư để đặt căn cứ lôi cuốn đối phương vào chiến trận, mục đích làm chết dân lành vô tội và dùng đó như cái cớ hay vũ khí tuyên truyền.

Ngày đó, người người từ Nam chí Bắc nghe theo ông Hồ vì lòng yêu nước, vì cứ tưởng Pháp trở lại thực dân và xâm lược. Họ đâu biết rằng khi ông Hồ nói "hy sinh đến giọt máu cuối cùng để giữ gìn đất nước" là ý ông muốn nói "đất nước của quốc tế cộng sản do đàn anh lãnh đạo." Để rồi 40 năm sau ngày ông Hồ chết, đàn em vẫn trung thành thi hành theo chủ trương của lãnh tụ. Đàn anh Liên Sô không còn nữa thì còn đàn anh Trung Cộng.

Trong vài năm gần đây, vô số những hiện tượng và sự kiện xảy ra cho thấy Trung Cộng đã cầm quyền kiểm soát Việt Nam: Trung Cộng đã chiếm Hoàng Sa, Trường Sa, đặt cơ sở và dân sự khai thác Bauxit vùng cao nguyên Trung phần, hàng hoá Trung Cộng tràn ngập thị trường Việt Nam, bàn tay Trung Cộng nằm trong các cơ quan truyền thông, báo chí,v.v..Và dĩ nhiên, thỉnh thoảng tổng bí thư Nông Đức Mạnh vẫn phải lên miền Bắc để được tuân thủ lệnh Bắc triều.

Ông Hồ luôn tạo ra hình ảnh Pháp thực dân và xâm lược bằng những bài viết bịa đặt tuyên truyền. Trên báo "Cứu Quốc" và sau này là "Nhân Dân", ngay cả có bài viết của Hồ với những dòng "Đề nghị:-Mỗi ngày nên đăng một cái “bảng vàng,” kể một việc oanh liệt trong cuộc kháng chiến. Mục đích cốt để nâng cao chí kháng chiến của dân, tuy dùng cách 'sùng bái anh hùng.' Chớ nói tếu quá." Vô số những câu chuyện "anh hùng" thêu dệt từ trí tưởng tượng của Hồ Chí Minh và các văn công khác như Trần Huy Liệu, Tố Hữu, Chế Lan Viên... Sau này người ta mới biết Lê Văn Tám, Võ Thị Sáu, Tạ Thị Kiều...là những nhân vật "anh hùng" do các cán bộ văn hóa "sáng tạo".

Khi hô hào toàn dân chống Pháp, và dưới sự cai trị độc tài bưng bít thông tin, những gì xảy ra trên thế giới đều bị che giấu. Hồ Chí Minh đã viết khá chi tiết về năm 1946 cùng những hiện tượng xảy ra trong năm đó, về 4 tháng ở bên Pháp làm gì và gặp gỡ ai, nhưng ông Hồ đã cố tình không nhắc đến vụ Pháp trả độc lập cho Syria và Lebanon 1946, trong khi đó ông lại nhớ ghi ngày Philippines được trả độc lập vào 4/7/1946 và vụ Hoa Kỳ thử bom nguyên tử tại Bikini Atoll vào mùa hè 1946.

Tác giả Brocheux khi ghi nhận "dụng ý" của ông Hồ để người đọc đưa ra những nhận xét chi tiết hơn. Ngay lúc Việt Minh có chiến tranh với Pháp thì trên thế giới lần lượt các nước được thực dân trả lại độc lập. Thế nên nếu Hồ loan tin Pháp đã trả độc lập cho Syria và Lebanon thì dĩ nhiên người ta phải nghĩ Pháp cũng phải trả độc lập cho Việt Nam, đâu cần có cuộc chiến tranh chống Pháp. Hồ Chí Minh ghi ra vụ thử nguyên tử để làm đề tài tuyên truyền Hoa Kỳ chế vũ khí giết người và tạo ra chiến tranh; ngụy tạo hơn nữa, Hồ còn rêu rao là nhờ phong trào chống Pháp giành độc lập của Việt Minh mà Hoa Kỳ đã trao độc lập cho Philippines.

Ý thức của dân chúng, nói chung, về cộng sản độc tài và tự do dân chủ thì non kém, trình độ dân trí còn thấp nên những mê hoặc mà ông Hồ và tập đoàn tạo ra dần dà ăn sâu vào não trạng người dân, nên hầu hết mới không thấy rằng Pháp tiếp tục ở lại tái chiếm Việt Nam để đương đầu với làn sóng cộng sản lan tràn, vì Hồ Chí Minh là một lãnh tụ thuộc khối quốc tế cộng sản, mối đe dọa cho toàn vùng Đông Dương và ngay cả nước Pháp lúc đó. Tài liêu cho thấy Charles de Gaulle nhiều lần "đe dọa" (black mail) Hoa Kỳ hãy nên hỗ trợ mạnh mẽ hơn về việc Pháp tái chiếm Đông Dương, nếu không thì ngay tại nước Pháp sẽ có tai hoạ cộng sản.

Tổng thống Richard Nixon, tác giả No More Vietnams, 1985 (trang 31):
An obsessive fear of associating with European colonial powers blinded successive American administrations to a very simple fact: Communism, not colonialism, was the principal cause of the war in Indochina - Một nỗi lo ám ảnh khi liên kết với quyền lực của thực dân Âu Châu đã làm đui mù chính phủ Mỹ một cách liên tiếp về một sự việc rất là đơn giản: Chủ Nghĩa Cộng Sản, không phải Chủ Nghĩa Thực Dân, là nguyên nhân chính của cuộc chiến tranh tại Đông Dương.
Thật vậy, chính trị gia Nixon hiểu sâu sắc về bản chất cộng sản, những bước đi qua của ông là bài học đáng gía cho tổng thống Reagan những năm sau này. Ông Nixon đã nhìn thấy một Hồ Chí Minh thật, một Hồ với nhiều màu sắc, nhiều bộ mặt, một người cộng sản xem nặng việc phục vụ quyền lợi quốc tế nhiều hơn là quốc gia. Ông đã nhận ra rằng nhiều người còn nhìn Pháp khi đánh nhau với phe cộng sản Hồ Chí Minh là hành động "thực dân". Một sai lầm to lớn mà Nixon nhấn mạnh cần làm sáng tỏ, và nguyên do là những tuyên truyền từ phe cộng đỏ. Cũng vì lý do này đã làm phức tạp thêm sự tiến hành trong cuộc chiến, bởi vì nó đã cho phép những những người cộng sản làm mờ đi vấn đề đang đương đầu.

Nixon nhận xét rằng cuộc chiến tự nó đã khơi nguồn từ trong ước muốn thúc đẩy của Hồ Chí Minh. Đó là ông Hồ muốn có toàn quyền lực độc tài trên đất nước Việt Nam, và chiến tranh kéo dài làm hao tổn vật lực cùng nhân lực. Xảy ra như vậy cũng do Trung Cộng hỗ trợ hùng hậu cho Viêt Minh, đồng thời phe Hồ và Võ Nguyên Giáp dốc toàn lực trong cuộc chiến thiêu thân.
No More Vietnams (trang 32): There is almost nothing in Ho' s biography to indicate that he placed nationalism above communism. -Trong tiểu sử của Hồ hầu như không có gì để cho thấy rằng ông ta đặt chủ nghĩa dân tộc lên trên chủ nghĩa cộng sản.
Cả đời Hồ Chí Minh, tất cả ý chí, nghị lực, việc làm đều nhằm mục đích phụng sự cho quốc tế cộng sản. Ông xem nhẹ dân tộc, nặng tình với chủ nghĩa cộng sản đúng như tổng thống Nixon đã nhận xét trên.


Hình trên (VN Magazine,8,2006): Hồ (center) and General Vo Nguyen Giap (right) receive advice from Communist China during the French - Indochina War (1949-54). On the wall are portraits of Mao Tse tung and Ho. - Hồ (giữa) và Tướng Võ Nguyên Giáp (mặt) nhận chỉ đạo từ Trung Cộng trong cuộc chiến Đông Dương với Pháp (1949-1954). Trên tường là hình của Mao Trạch Đông và Hồ.
Hồ Chí Minh chỉ được Pháp công nhận trong giai đoạn Hiệp Ước Sơ Bộ ký 6/3/1946, nhưng rồi từ 9/1946 trở về sau "chinh phủ" của ông Hồ coi như bị "thả lỏng." Mao Trạch Đông nắm quyền Trung quốc vào cuối 1949, liền sau đó, 1/1950, Mao tuyên bố công nhận "Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa" của Hồ. Ngoài quân sự, Hồ Chí Minh và Võ Nguyên Giáp còn nhận chỉ thị từ cố vấn Trung Cộng như tài liệu ghi trên. Thành phần hy sinh trong chủ trương "biển người" của ông Hồ: (T. Lomperis, From People's War to People's Rule (1996): French dead: 92,707, Viet Minh: 500,000, Civilians: 250,000). Tóm lại, cuộc chiến 1946-1954 bắt nguồn từ tham vọng bành trướng chủ nghĩa cộng sản của Hồ Chí Minh, hay nói cách khác, đó là cuộc chiến tranh ý thức hệ giữa cộng sản độc tài và đa nguyên dân chủ.

Bút Sử
14/12/2009

 -------------------------------------------------------------------------


Nguyễn Minh Triết: Tái Xác Nhận Vai Trò QTCS

 

Trong 3 ngày thăm viếng tại Cuba, 26-28/ 9/2009, ông Nguyễn Minh Triết, Chủ Tịch Nhà Nước Cộng Sản Việt Nam, đã tuyên bố một số lời trong một buổi họp mặt là đề tài cho nhiều người nhận xét – Có người ví von Việt Nam Cuba như Trời Đất sinh ra, một anh ở phía Đông, một anh ở phía Tây. Chúng ta thay nhau canh giữ hoà bình cho thế giới. Cuba thức thì Việt Nam ngủ. Việt Nam gác thì Cuba nghỉ.

 

    Getty Image. Nguyen Minh Triet and President Cuba Raul Castro

 

 Có nhận xét cho là một ông Triết với tư tưởng trống trơn, chỉ còn trong đầu vài ba câu tuyên bố có chút “cường điệu” giữa hai nước cộng sản yếu ớt đang nắm tay nhau. Ông không phải một tên hề, nhưng thật sự đang làm trò cười cho thiên hạ -đang nghèo đói phải đi xin viện trợ cả thế giới mà vỗ ngực tự xưng mình có nhiệm vụ "canh giữ hoà bình thế giới.” Những người khác thì cho rằng chẳng cần nghe ông Triết nói gì, chỉ nhìn vào phong cách hai tay “chém gió” và gương mặt “nhà quê” của ông cũng đủ là đề tài cho thiên hạ chế giễu. Ở đây, chúng ta hãy thử phân tách xung quanh ý nghĩa của những lời nói này với cái nhìn có tính lịch sử.

 

Vào những năm sau thế chiến thứ hai, 1945-1950, mặc dù Hoa Kỳ ngấm ngầm ủng hộ Pháp theo chân Anh trở lại Đông Dương để ngăn làn sóng đỏ cộng sản do Hồ Chí Minh lãnh đạo, nhưng Hoa Kỳ vẫn không tin mấy vào thiện chí của Pháp khi Pháp chưa hoàn toàn trao trả độc lập cho Việt Nam dưới sự lãnh đạo của quốc trưởng Bào Đại. Pháp viện lý do: không thể một ngày một bữa mà giao trọn quyền cho phe cánh quốc gia trong khi phải đương đầu với phe cộng sản càng lúc càng tinh vi thâm độc.

 

Tướng Pháp, Jean de Lattre tuyên bố, Why Vietnam by Archimedes Patti, (trang401):

 

We have no more interest here...We have abandoned all our colonial positions completely. There is little rubber or coal or rice we can any longer obtain. And what does it amount to campare to the blood of our sons we are losing and the three hundred and fifty million francs we spend a day in Indochina? The work we are doing is for the salvation of the Vietnamese people. And the propaganda you Americans make that we are still colonialists is doing us tremendous harm, all of us – the Vietnamese, yourself, and us.

Chúng tôi không còn quyền lợi gì ở đây...Chúng tôi đã hủy bò hoàn toàn những vị trí thực dân. Không còn chút nào cao su, than đá, hay lúa gạo mà chúng tôi có thể nắm giữ. Và cái mức độ nào để so sánh với máu đổ và mất mát của những người con của chúng tôi, và 350 triệu francs chúng tôi tiêu dùng mỗi ngày tại Đông Dương? Những việc chúng tôi đang làm là cho sự cứu vớt dân tộc Việt Nam. Và sự tuyên truyền những người Mỹ làm ra rằng chúng tôi vẫn còn là thực dân đang làm thiệt hại rất lớn cho chúng tôi, tất cả chúng ta – dân Việt Nam, các ông (người Mỹ) và chúng tôi.

 

Ngay khi có lời tuyên bố này của tướng de Lattre vào 12/1950 thì thế giới cũng đang chứng kiến ào ạt làn sóng đỏ lan tràn nhiều nơi, ngay cả tại Hoa Kỳ, khối cộng sản Stalin, Nam Mỹ, và Mao-Hồ Chí Minh ở Á Châu. Lời của tướng de Lattre trên cũng đồng nghĩa với những gì mà tướng de Gaulle nói với lãnh đạo Mỹ trước đó mấy năm khi tổng thống Truman còn do dự không biết có nên ủng hộ việc Pháp trở lại Đông Dương. Cuối cùng thì Hoa Kỳ với giải pháp chấp nhận cho Pháp trở về đương đầu với cộng sản và điều này lịch sử đã cho thấy rõ như vậy.

 

Ngay thời tổng thống Truman, ông đã có “Truman Doctrine.” Why Vietnam, (trang 383):

 

 ...that it must be the policy of the United States to support free people against direct and indirect communist aggression - Thuyết Truman – Đó phải là chính sách của Hoa Kỳ để ủng hộ những người tự do chống lại cộng sản xâm lăng một cách trực tiếp hay gián tiếp.

 

Sau Truman, tổng thống John Kennedy cũng rất cứng rắn qua chính sách đối đầu với cộng sản. Như vậy đủ rõ chính phủ Hoa Kỳ khá nghiêm túc trong việc thấy trước tai hoạ cho nền an ninh và hoà bình thế giới nếu để cộng sản hoành hành. Sau này chúng ta còn biết các tổng thống tài giỏi nữa, nói riêng về phương diện đối ngoại, như Richard Nixon và Ronald Reagan.

 

Ngay sau lúc Hồ Chí Minh thành lập chính phủ lâm thời tại miền Bắc vào 1/1946, sĩ quan tình báo Patti đã được lệnh cung cấp chi tiết về Hồ Chí Minh cho Abbot Low Moffat, trưởng cơ quan “Southeast Asian Affairs.”  Patti viết, (trang 381):

 

It was extensive, particularly his career in the Comintern and his association with the Chinese Communist Party - Rất là sâu rộng, đặc biệt là cái nghề của ông ta trong Đệ Tam Quốc Tế Cộng Sản và sự liên hệ với Đảng Cộng Sản Trung Hoa.

 

Archimedes Patti là trưởng cơ quan tình báo Hoa Kỳ tại Đông Dương đã cung cấp tài liệu về Hồ Chí Minh như thế đã chứng tỏ Hồ Chí Minh không gì hơn là một bộ phận của quốc tế cộng sản, làm việc toàn thời gian cho quốc tế cộng sản (career - nghề toàn thời gian). Tuy nhiên, vấn đề ở đây là Patti lại nhấn mạnh vai trò quốc gia của Hồ Chí Minh là trước và người cộng sản Hồ Chí Minh là thứ hai.

 

Đã có nhận xét cho rằng khi Hồ Chí Minh “thân thiện” với Patti, ông ta còn quá trẻ nên đã bị lôi cuốn bởi cung cách của ông Hồ (sắp sửa thành cha già) mà sau này biết ra Hồ có trên 174 tên họ, bí danh và bút danh để qua mắt thiên hạ. Patti không đưa ra luận cứ khi nhận xét như trên. Có thể nhà tình báo này chưa thông hiểu tường tận về đường lối hoạt động của các lãnh đạo cộng sản?

 

Hồ Chí Minh tại Trung Quốc, nguyên tác Hoa ngữ, tác giả Tưởng Vĩnh Kính đã trình bày về Hồ Chí Minh, (trang 96):

 

Hồ Chí Minh đã rập khuôn theo các giáo điều của Cộng Sản Quốc Tế, đem cuộc vận động cách mạng Việt Nam chia làm hai giai đoạn: giai đoạn một, dùng chủ nghĩa dân tộc làm chiếc áo che ngoài và thiết lập chính quyền dân chủ của giai cấp tư sản; giai đoạn hai, thực sự đi vào cách mạng xã hội chủ nghĩa

 

Đường Kách Mệnh của Hồ Chí Minh ra đời 1927, lúc này ông Patti chỉ khoảng tuổi 14, trong đó Hồ Chí Minh đã ghi rõ “Cuộc vận động cách mạng ở trong mỗi quốc gia phải được kết hợp chặt chẽ với giai cấp vô sản quốc tế, công nhân và quần chúng nông dân phải phân biệt rõ giữa Đệ Tam và Đệ Tứ Quốc Tế.” Điều này chứng tỏ Hồ Chí Minh muốn mọi người dân phải theo Đệ Tam Quốc Tế như ông, nghĩa là liên kết với các quốc gia cộng sản khác trên thế giới, không phục vụ cho quyền lợi của quốc gia mình. Patti đồng thời nhấn mạnh Hoa Kỳ vẫn coi Hồ Chí Minh bành trướng làn sóng đỏ (red tide) không quan tâm Hồ có phải là người quốc gia hay không. Trung tá tình báo Archimedes Patti đã qua đời 4/1998, đã để lại một cuốn sách có giá trị lịch sử, trong đó trình bày nhiều dữ kiện, hiện tượng xảy ra, và ông là một nhân chứng quan trọng.

 

Vấn đề đáng trình bày và đặc biệt hơn Patti, đó là người đã từng nắm chức Bộ Trưởng Bộ Quốc Phòng Hoa Kỳ, 1961-1968, ông Robert McNamara, một nhân vật đi ngược lại đường lối của chính phủ ông sau khi ra khỏi chức vụ và ở tuổi về già. Năm 1995, McNamara cho ra cuốn In Retrospect The Tragedy and Lessons of Vietnam.

 

Kinh nghiệm của McNamara đến sau Patti về Hồ Chí Minh. McNamara cũng cho rằng Hồ là người cộng sản quốc gia, nhưng có luận cứ, không như ông Patti. In Retrospect (trang 33):

 

Why did we fail to consider China and Vietnam in the same light as we did Yugoslavia – a Communist nation independent of Moscow? For several reasons, I believe Tito seemed unique; he and Stalin had openly fallen out. China’s and North Vietnam’s heated rhetoric made us think they sought regional hegemony. And Cuba’s recent tilt toward the Soviet Union seemed illustrative of how ostensibly independent Third World movements quickly placed themseves within the Communist orbit. Thus, we equated Ho Chi Minh not with Marshal Tito but with Fidel Castro.

Tại sao chúng ta đã không xem Trung Cộng và Việt Nam giống như nước Nam Tư - một quốc gia cộng sản độc lập không lệ thuộc Moscow? Bởi nhiều lý do, tôi tin Tito coi như đặc biệt; ông ta và Stalin đã đổ vỡ một cách công khai. Lời huyênh hoang sôi nổi của Trung Cộng và Bắc Việt Nam làm chúng ta nghĩ họ mưu cầu quyền hành bá chủ một vùng. Và Cuba vừa nghiêng hẳn về Liên Sô đã cho thấy bề ngoài là phong trào của khối Thế Giới 3 đã nhanh nhẹn đặt mình vào quỹ đạo cộng sản. Như vậy, chúng ta đã đặt ngang hàng Hồ Chí Minh với Fidel Castro, không phải với Tito.

 

Tựu chung, McNamara tin rằng chính vì Hoa Kỳ nhìn Hồ Chí Minh sai lầm như vậy nên đã dẫn tới sự thất bại trong cuộc chiến. Dù sao đây chỉ là nhận xét cá nhân của McNamara, nhưng đáng ghi nhận ở chỗ ông đã từng nắm chức vụ quan trọng trong nguồn máy chỉnh phủ Hoa Kỳ. Ông còn đổ lỗi cho chính phủ Kennedy và hai Đảng Cộng Hoà và Dân Chủ đã không thấy ra điều đó.

 

Tại sao McNamara lại có lối suy luận lạ đời như thế? Ai cũng biết Tito đã tách rời khối cộng sản quốc tế và ông chỉ biết lo cho riêng quốc gia mình. Năm 1948, Tito đã chấm dứt liên hệ với Liên Sô, không còn tiếp tay với du kích quân cộng sản Hy Lạp, còn Hồ Chí Minh năm 1948 bị Pháp đánh bạt vào rừng và chờ phe đỏ tiếp tay, 2 năm sau khi Hồ qua Pháp ở lại 4 tháng cầu cạnh Pháp về Việt Nam cùng phe Hồ cai trị, nhưng đã bị “phe hữu” trong chính phủ Pháp cứng rắn trừng trị. Năm 1948, Hồ Chí Minh lấy bút danh Trần Dân Tiên để ca ngợi người cộng sản quốc tế với chức danh Hồ Chủ Tịch. Trong lúc này Pháp đang yêu cầu vua Bảo Đại từ Hong Kong trở về chấp chính và thành lập quân chủ lập hiến, cũng là nguyện vọng của người dân miền Nam. Hơn nữa “Giải Pháp Bảo Đại” được Hoa Kỳ hỗ trợ. Hiệp Định Elysée được ký sau đó vào 3/1949 giữa Auriol và Bảo Đại tuyên bố Việt Nam độc lập, hy vọng từ điểm này là cái thế cùng sự ủng hộ của toàn dân sẽ đẩy lùi phe cộng sản Hồ vào bóng tối. Nhưng rồi cuối 1949 Mao nắm quyền, và tiếp theo Mao-Stalin (Sino-Soviet) đã hà hơi tiếp sức cho Hồ Chí Minh để thắng trận Điện Biên Phủ và cuộc chiến ý thức hệ này kéo dài tới 30/4/1975.

 

Lập luận của ông McNamara cho rằng Hồ Chí Minh là người cộng sản quốc gia không thể chấp nhận được. Ông chỉ nhìn vào hiện tượng Tito và giai đoạn Hồ Chí Minh gián đoạn với quốc tế cộng sản, chưa được Stalin công nhận, mà quên đi rằng Hồ Chí Minh đã từng được quốc tế cộng sản huấn luyện phương cách làm thế nào để cướp chính quyền và đi đến đại đồng thế giới như Tưởng Vĩnh Kính đã trình bày. McNamara cũng đã không thấy ra lời tuyên bố của ông Hồ trong Đường Kách Mệnh là người dân phải biết phân biệt  Đệ Tam Quốc Tế (Stalin) và Đệ Tứ, và năm 1927 này ông là thành viên của Đệ Tam được 4 năm. Chính Hồ Chí Minh nhìn nhận ông thuộc khối Đệ Tam và thẳng thắn chống Đệ Tứ Quốc Tế (Trotsky) thì tại sao ông McNamara lại gán cho ông Hồ là giống Tito, một cộng sản quốc gia? Hiển nhiên nhất là nhiều sách báo của Đảng luôn ca ngợi ông Hồ là một quốc tế cộng sản gương mẫu và luôn hô hào toàn dân phải có “nghĩa vụ quốc tế.”

 

Còn Fidel Castro? Đã có nhận định cho rằng sở dĩ Hoa Kỳ mạnh mẽ với Cuba vì đã có hiện tượng năm 1962 Liên Sô đặt vũ khí nguyên tử tại Cuba. Sau đó vũ khí được gỡ đi qua những cuộc thương lượng giữa Hoa Kỳ, Cuba, Liên Hiệp Quốc, nhưng “chiến tranh lạnh” lúc nào cũng như sắp sửa hừng hực kết thúc để thành “nóng” khi Castro và Liên Sô mỗi lúc chặt chẽ thêm, mà cái ngòi tại Cuba chỉ cách biên giới Hoa kỳ 90 miles đường chim bay. Cho đến nay, Hoa Kỳ đối với Cuba vẫn cứng rắn như xưa - cấm vận về kinh tế.

 

Chính vì chính phủ đo lường được đe doạ và hiểm hoạ từ Cuba nên dân Mỹ hiểu ngay không thể “làm bạn” với Castro, còn Hồ Chí Minh thì xa quá nên có thể xem nhẹ ông ta chăng? Hơn nữa, khi còn chiến tranh với Nhật, Hồ đã mang bộ áo quốc gia làm nhân viên liên lạc cho cơ quan tình báo Hoa Kỳ OSS. Sau khi cướp chính quyền, Hồ lại cố công yêu cầu Hoa Kỳ công nhận “chính phủ” vì lúc này Mao chưa nắm quyền, còn Stalin thì bận rộn xâm lấn Âu Châu. Hồ Chí Minh đã viết ít nhất 8 lá thư cho tổng thống Truman để yêu cầu giúp đỡ, nhưng không được trả lời. Hoa Kỳ đã thừa biết Hồ Chí Minh chỉ xanh vỏ đỏ lòng mà chính trưởng tình báo Patti cũng đã công nhận. Dù vậy, một số sách báo ở Hoa Kỳ, nhất là thành phần phản chiến luôn bảo vệ Hồ, cường độ cao thấp khác nhau, bên cạnh những tài liệu sử gia đã ghi ra trong giai đoạn chiến tranh lạnh quốc tế cộng sản đã chi ra 3 tỷ dollars mỗi năm cho công tác tuyên truyền tại Hoa Kỳ

 

McNamara trách rằng Hoa Kỳ đã xem Hồ Chí Minh giống như Fidel Castro, nhưng thật ra lịch sử cho thấy Hồ còn nguy hiểm hơn Castro nhiều. Hồ chẳng những làm tay sai cho Nga mà còn ngoan ngoãn nô lệ Trung Cộng, một nước càng lúc càng lộ ra mối đe doạ cho khối tự do.

 

Cộng sản có truyền thống đi hai hàng để tồn tại. Trong thế thừa thắng xông lên không ngớt ngợi ca đàn anh “Liên Sô vĩ đại,” rồi có lúc thân Tàu hơn thì tỏ tình “hữu nghị đời đời, môi hở răng lạnh”...Sau ngày thành trì Liên Sô sụp đổ thì nảy ra luận điệu cho rằng Hồ Chí Minh phải ngã theo cộng sản vì Hoa Kỳ bỏ rơi không công nhận. Sau lời của McNamara trong sách thì Đảng như lửa được thêm dầu, bất chấp mâu thuẫn. Có thể nói hàng ngàn sách báo viết về cuộc đời làm người cộng sản của Hồ từ khi gia nhập Đảng Cộng Sản Pháp vào 1920, trờ thành quốc tế cộng sản 1924, lãnh lương từ Đảng quốc tế làm công tác do Nga Tàu giao phó.

 

Với vai trò quốc tế cộng sản của Hồ Chí Minh, Đảng hãnh diện đưa ra nhiều tên họ đảng viên quốc tế, báo chí các nước cộng sản có liên hệ mật thiết với Hồ. Trong Một Giờ với Đồng Chí Hồ Chí Minh do nhà xuất bản Thanh Niên, 1975, sách trình bày thư của những “đồng chí”: X. A-Gien-Đê (Chi lê), Báo An-Nát (An-giê-ri), Báo Ánh Điện (Ấn Độ), Bla-Ga Đi-Mi-Trô-Va (Bun-ga-ri), Báo Gơ-Ran-Ma (Cu-ba), Mác-Ta Rô-Giát (Cu-ba), Lép-Sen-Cô (Liên Xô), Báo Lơ-Phi-Ga-Rô (Pháp), v.v..

 

Nếu theo diễn giải của chủ tịch nước cộng sản Nguyễn Minh Triết vừa tuyên bố tại Cuba thì năm 1975 Lê Duẩn hay Tôn Đức Thắng cũng phải hô la là: Trời Đất sinh ra chúng ta, cả khối cộng sản gồm Liên Sô, Hungary, Ba Lan, Đông Đức, Trung Cộng, Bắc Hàn...Chúng ta thay nhau canh giữ hoà bình thế giới. Các nước kia thức thì Việt Nam ngủ. Việt Nam gác thì các nước kia nghỉ! Xét ra cũng có lý. Thời đó hay bây giờ Việt Nam “gác” cũng có nghĩa là làm công cho người khác, thừa lệnh đàn anh cầm súng răn đe, hăm doạ, hay ngay cả tàn sát nếu có “thế lực thù địch” đe dọa. Nhưng mà đàn áp hay tàn sát ai? Không ai hơn là đồng bào ruột thịt của mình, Đảng bắt dân câm miệng, chỉ biết tuân theo Đảng để có “hoà bình thế giới.” Vai trò “gác” của cộng sản Việt Nam được thể hiện qua lời của Đặng Tiểu Bình nói với các nhà báo ở Bắc Kinh: Chúng tôi có thể dung thứ việc Liên Sô có ở Việt Nam 70% ảnh hưởng, miễn là 30% còn lại dành cho Trung Quốc. Cuối cùng thì khi Nguyễn Minh Triết có mặt tại nước anh em Cuba vào cuối tháng 9, 2009, Trung Cộng không còn là 30% ảnh hưởng mà là 100%. Đàn anh Liên Sô đã tan rã, “thế giới” của cộng sản Việt Nam bị thu hẹp, mà theo Triết thì chỉ còn có Cuba và Việt Nam (đàn anh Trung Cộng giao việc) làm chuyện canh gác đối đầu “thế lực thù địch.”

 

Tóm lại, lời tuyên bố của Chủ Tịch Nhà Nước Cộng Sản Việt Nam Nguyễn Minh Triết đã đương nhiên tái xác định vai trò quốc tế của Đảng Cộng Sản Việt Nam, lãnh đạo bởi Hồ Chí Minh. Tuyên bố này phần nào cũng đã vô hiệu hoá thêm nhận định của McNamara khi cho rằng Hồ Chí Minh là người cộng sản quốc gia.

 

Bút Sử

10/2009


 

 

 

 

Xảo Thuật về Hình Ảnh HCM ngày 2/9/1945

Nói về tài trí trá thì không ai hơn những người công sản Việt Nam mà dẫn đầu là Hồ Chí Minh. Trước ngày lên khán đài đọc diễn văn, 2/9/1945, Hồ điều khiển đàn em làm những màn xuống đường “hoan hô phái bộ đồng minh OSS”, nịnh hót Mỹ rất ngoạn mục, nhưng rồi cũng thất bại. Còn trong tâm trạng thấp thỏm lo sợ Mỹ không ra mặt công nhận “chính phủ” vừa ăn cướp và tập đoàn vẫn cố đấm ăn xôi. Tâm trạng thể hiện qua hình thức. Chúng ta hãy thử nhận xét một vài hành động của Hồ trước ngày xuất hiện tại Ba Đình và hình ảnh trên phim được cộng sản quay trong ngày này.

Cái dỏm đáng kể là Hồ Chí Minh đã dùng những câu trong "Tuyên Ngôn Độc Lập" của Hoa Kỳ, 1776, và "Tuyên Ngôn về Nhân Quyền và Dân Quyền" của Pháp, 1791. Có người nhận xét rằng Hồ Chí Minh đã không đủ khả năng viết riêng cho mình một bài diễn văn được gọi là "tuyên ngôn độc lập" đọc trước đám đông, nhất là ngày ông tuyên bố khai mở một giai đoạn mới cho dân tộc Việt Nam. Ngày  29/8/1945, Hồ Chí Minh mời Archimedes Patti, đại diện cơ quan tình báo Hoa Kỳ OSS, đến văn phòng để nhờ xem lại bản văn ông sắp đọc tại quãng trường Ba Đình. Patti viết trong "Why Vietnam" (trang 223): 

I stopped him and turned to Ho in amazement and asked if he really intended to use it in his declaration. I don't know why it nettled me - perhaps a feeling of proprietary right, or something equally inane. Nonetheless, I asked. Ho sat back in his chair, his palms together with fingertips touching his lips ever so lightly, as though meditating. Then with a gentle smile he asked softly, "Should I not use it?" I felt sheepish and embarrassed. Of course, I answered, why should he not? - Tôi ngưng ông kia và quay sang Hồ trong sự kinh ngạc và hỏi nếu ông ta cố ý dùng nó (Tuyên Ngôn Hoa Kỳ) trong tuyên ngôn của ông. Tôi không hiểu tại sao chuyện này kích thích tôi - có thể là một cảm giác về quyền sở hữu, hoặc một cái gì đó đồng nghĩa với sự ngu dốt. Tuy vậy, tôi đã hỏi rồi. Hồ ngồi ngửa ra trên ghế, hai lòng bàn tay bám vào nhau với những ngón tay sờ nhẹ qua lại trên môi, như là đang thiền. Tiếp theo, với nụ cười nhẹ ông  hỏi, "Có thể tôi không nên dùng nó?" Tôi cảm thấy hơi khó chịu và xấu hổ. Dĩ nhiên, tôi trả lời, sao ông ta không dùng được?

Những lời của ông Patti ghi trên, có lẽ người đọc cảm nhận tác giả nghĩ gì về Hồ Chí Minh. Có phải Hồ là một lãnh tụ ngu dốt, và Patti đã phải cảm thấy xấu hổ cho ông Hồ. Theo luật pháp thì ông Hồ không có tội gì cả khi cắp văn của người khác, nhưng ông là một lãnh tụ nên sự nhục nhã càng ở mức độ cao hơn. Ông Charles Fenn, sĩ quan tình báo OSS, cũng đã cho rằng không công bằng, vô lý (unjustified) khi ông Hồ lấy nguyên văn của Tuyên Ngôn Độc Lập của Hoa Kỳ.

Đó là nhận xét về hình thức; tuy nhiên, khi xét về mặt chính trị thì sao? Hồ Chí Minh đã dọn đường để mong Hoa Kỳ công nhận sau khi cướp chính quyền. Việc làm này xảy ra từ 3/1945 khi Hồ gặp Charles Fenn tại Côn Minh. Hồ Chí Minh đã đoán được tình hình thế giới, biết đồng minh sẽ thắng trận, biết chỉ còn Hoa Kỳ là một quốc gia sáng giá, giàu mạnh, không còn ai ngoài Hoa Kỳ là nước duy nhất Hồ dựa vào lợi dụng để thực hiện mục đích nhuộm đỏ Việt Nam. Hồ Chí Minh chỉ cần chính phủ Mỹ ủng hộ mà thôi, nghĩa là đứng ra công nhận khi ông ra mắt trước dân chúng. Ngay lúc này Hồ Chí Minh đã từ chối không nhận mình là cộng sản trước mặt ông Fenn, mặc dù Fenn đã biết Hồ là ai.

Khi hỏi cần gì thì Hồ Chí Minh trả lời trước nhất là cần gặp tướng Claire Chennault của Mỹ, tư lệnh Đông Dương. Fenn đã tạo cơ hội cho Hồ gặp Chennault. Buổi gặp này không gì hơn là Hồ xin Chennault một tấm hình và yêu cầu ông tướng ký tên trên đó. Hồ chạy bộ từ Côn Minh về rừng Pac Bo và treo ngay tấm hình trên thân cây kế bên lá cờ đỏ sao vàng. Hồ được Mỹ mướn làm tình báo lặt vặt chạy qua lại giữa ranh giới Tàu Việt. Nhóm Việt Minh mỗi sáng phải chào cờ và "quốc tế ca" trong khung cảnh hai ý thức, cộng sản và tự do, lộn xộn này. Hồ làm cho mọi người nghĩ Mỹ là "bạn" của Việt Minh. Lúc này Việt Minh là những thanh niên được thu nhận, đa phần ít học, làm sao biết ý thức hệ cộng sản là gì. Họ được OSS huấn luyện cách thảy lựu đạn, cách vật bắt. Một ít súng colt 45 Hồ Chí Minh xin Mỹ chỉ phát cho những nhân vật quan trọng mà thôi.

Không khó hiểu khi dân chúng Hà Nội quý mến người Mỹ trong lúc này. Họ đến Việt Nam sau khi thắng thế chiến. Việt Nam lại trong giai đoạn chết đói trầm trọng. Hồ Chí Minh xuất hiện như một kẻ xa lạ đối với dân chúng, ngay cả những người Pháp chưa ra khỏi Việt Nam phải nhìn qua ống dòm để "điều tra" thêm, còn chính phủ của các nước như Hoa Kỳ, Anh, Pháp thì họ đã biết Hồ Chí Minh rất rõ ràng.

Trong đám đông ngày 2/9/1945, chỉ có một nhóm nhỏ người Mỹ thuộc OSS được coi như có bộ mặt đại diện cho chính phủ Hoa Kỳ, nhưng họ được lệnh đến dự với tư cách quan sát mà thôi.  Ông Grelecki, sĩ quan OSS, kể lại trong một đoạn phim tài liệu: máy quay phim cứ chăm chú vào bốn  người Mỹ, trong đó có ông. Có những biểu ngữ nửa tiếng Anh, nửa tiếng Việt không dấu, nổi bật nhất là "The Doc Lap" thay vì "Ngày Độc Lập." Kế bên biểu ngữ có một cán bộ cầm cờ sao khá to, và ống kính cứ quay đi quay lại hình ảnh này. Vậy trên khán đài ngay chỗ Hồ Chí Minh đọc có treo cờ đỏ hay không mà không thấy người quay phim chú ý?

Trong toàn bộ phim tài liệu người xem chỉ thấy một ngôi sao thật to làm bằng vải dán ngay phần dưới khán đài. Vấn đề hư hư thật thật ở đây làm nhiều người hoang mang, thắc mắc, và nó chỉ có thể được giải nghĩa rõ ràng khi có nhân chứng sống kể lại, phải là người đã chứng kiến và theo dõi từng chi tiết trong ngày này. Phần sau đây xin phân tách vài hình ảnh và so sánh những thay đổi sau đó, cũng như nhận định tại sao tập đoàn Hồ Chí Minh phải làm như vậy.

Vì có những xảo thuật trong hình nên người xem có thể nghi ngờ những gì đã xảy ra tại hiện trường ngày 2/9/1945. Những kỹ thuật sửa đổi này tinh vi đến độ nào tuỳ người nhận xét, nhưng những hình ảnh này đã được sử dụng, ngay cả các nhân vật làm phim người Mỹ thuộc loại "History Channel" - "Ho Chi Minh's Biography" do Don Cambou và Gary Tarpinian thực hiện.

Video có đưa ra hình ảnh tổng quát trên khán đài khi Hồ Chí Minh đứng trước micro. Phía sau có một cái trụ, có lẽ là trụ cờ. Nếu có treo cờ, tại sao người quay phim lại bỏ qua? Giây phút được xem như quan trọng hùng hồn, người lãnh tụ đọc "tuyên ngôn độc lập" với lá cờ đại diện cho quốc gia mình bay phất phới thì còn gì bằng? Nhưng không, người ta chỉ thấy người quay phim chú ý lá cờ sao ở dưới đám đông kế bên biểu ngữ "The Doc Lap" được chiếu nhiều lần.

Phải ghi nhận rằng, vào ngày 26 và 30/8/1945 có hai buổi xuống đường tại Hà Nội, một hoan hô tâng bốc nhân viên tình báo Mỹ để hy vọng ông Archimedes Patti, đaị diện OSS, vận động cho Hoa Kỳ công nhận, và buổi xuống đường lên án Pháp. Thử hỏi: Nếu Hồ Chí Minh muốn Mỹ công nhận thì có dám treo cờ đỏ sao vàng phất phới trên khán đài một cách chính thức? Và nếu Mỹ công nhận thì họ phải đứng cùng với Hồ Chí Minh và tập đoàn, mà ngay lúc này thế giới tự do đang đương đầu với làn sóng đỏ của Stalin ở Âu Châu và có thể Mao Trạch Đông và Hồ Chí Minh tại Á Châu? Hơn nữa, vào 17/3/1945, Charles Fenn gặp Hồ tại Côn Minh đã hỏi ông ta có phải là cộng sản không thì ông Hồ đã chối quanh và trả lời rằng ai chống Pháp cũng đều bị Pháp chụp mũ là cộng sản. Nếu Hồ cho rằng tình báo Mỹ không biết Hồ Chí Minh là quốc tế cộng sản Nguyễn Ái Quốc, thuộc nhóm quốc tế cộng sản (comintern) mặc dù bị giải tán 1943, thì ông ta đã quá khinh thường đối thủ. Một hoạt đầu chính trị như Hồ Chí Minh rất bén nhạy trong phương cách "cắc kè" để đạt mục đích, ông không bỏ qua bất cứ một cơ hội nào, cho dù xem ra tồi bại hay nhỏ nhặt như trò con nít. 

Hình 1, kế bên, được xem trong các phim tài liệu trình chiếu công khai trước nay. Vì kỹ thuật phim ảnh thời đó còn kém nên đường nét không rõ, nhưng vẫn là trung thực.

Cũng cùng vị trí, cùng khung cảnh, nhưng trong hình 2 lại có thêm lá cờ sao bay phất phới. Cảnh mây bay bị tan biến, micro lại bám sát vào miệng Hồ và trông rất không tự nhiên. Trong video "Ho Chi Minh's Biography" dùng hai hình ảnh mâu thuẫn này, và có lẽ họ cũng không biết họ là nạn nhân của một tập đoàn gian xảo, mà ngay cả người Việt Nam chúng ta còn chưa nhận ra hết.

Chưa hết, cộng sản còn tạo ra thêm một hình ảnh ông Hồ với nét có vẽ "lãnh tụ" hơn trước. Trong chế độ kiềm kẹp độc tài, ai có quyền làm những chuyện này, nếu không do lệnh từ các ban tuyên truyền của Đảng. Chỉ có bộ quần áo mặc trong người của Hồ Chí Minh là giống nhau trong 3 hình. Cái micro màu bạc trên hình thứ 3 lại tròn, không vuông và đen như hai hình trước. Dưới bục lại có thêm lá cờ ngôi sao. Cờ không có nền đỏ sao vàng để cho người ta có cảm tưởng đó là hình ảnh của năm 1945 khi chưa có phim màu. Hình 3 này được trình bày nhiều trang trên Google Images, dưới ghi Hồ Chí Minh tại Ba Đình ngày 2/9/1945, và chắc chắn được phổ biến trên nhiều phương tiện khác.  

Một số người khi đã trở thành đảng viên ly khai hay về hưu thì mới can đảm nói và viết ra sự thật. Có quá nhiều điều gian dối đang phủ lên mái nhà Việt Nam, nơi tuổi trẻ bị in vào đầu óc những lịch sử xuyên tạc, ngụy tạo. Ngày đó 19/8/1495, nhạc sĩ Tô Hải vừa cầm cờ vàng ba sọc đỏ (Quẻ Ly) rồi chuyển sang cầm cờ đỏ sao vàng, và ông cũng không cảm thấy có gì khác lạ. Với không khí náo nức, Việt Minh hô la "ủng hộ Việt Minh", tuổi 20 của ông chưa ý thức được đúng sai nên ùa theo làn sóng, và đã không ít người như thế.

Nay ở vào đầu thế kỷ 21, với ý thức tự do dân chủ cao hơn, với khoa học thông tin rộng rãi, giới trẻ sử dụng internet có thể tìm hiểu lịch sử trung thực qua nhiều hình thức - bài viết trên các diễn đàn, radio, sách, báo, audio, tiếng nói bày tỏ quan điểm, v.v..Thế hệ thanh niên có kiến thức là động lực đầu tiên có thể phá tan bức màn đỏ che kín những thông tin mà toàn dân cần biết, nhất là cần phân biệt sự thật và những điều ngụy tạo, và có nên tiếp tục chịu sự cai trị của Đảng và Nhà Nước với chủ trương lừa dối?

Bút Sử

8/2009

 


                                                                                                                                                                                                           

 

Diễn Biến Trước và Sau 19/8/1945

 

Trong khi đồng minh đang trên đà thắng thế  chiến thứ hai, khi thế giới tự do đang bàn về việc ngăn chặn làn sóng đỏ bành trướng tại Âu Châu, họ không thể bỏ qua việc cộng sản cũng đang gây rối tại Đông Dương mà lãnh đạo là Hồ Chí Minh (HCM). Những trình bày sau đây đưa ra những tài liệu lịch sử bởi các nhà nghiên cứu và sử gia có công thu thập.

 

British in Vietnam: prelude to disaster, 1945-6” là tên cuốn sách của tác giả người Anh, ông Peter Neville, xuất bản 2007. Một số diễn biến đáng ghi nhận mà tác giả trình bày trong giai đoạn Nhật đảo chánh Pháp cho tới ngày Việt Minh cướp chính quyền.

 

 Ngày 9/3/1945, Nhật đảo chánh Pháp. Ông Charles Fenn là đai uý tình báo OSS của Hoa Kỳ được gửi về Đông Dương làm việc. Ông Fenn đã có một buổi gặp gỡ thú vị với HCM tại Côn Minh , 17/3/1945. Fenn kể lại (trang 51):

 

It seems he has already met Hall, Blass and de Sibour (all OSS officers in Kunming) but got nowhere with any of them. I asked him what he wanted of them. He said – only recognition of his group (called Viet Minh League). I had vaguely heard of this as being communist and asked him about it. He said the French call all Annamites communists who want independence -  Dường như ông ta (Hồ Chí Minh) đã gặp các ông Hall, Blass và de Sibour (tất cả là sĩ quan tình báo OSS tại Côn Minh) nhưng  những yêu cầu của Hồ không đi tới đâu. Tôi hỏi ông muốn họ làm gì cho ông. Ông ta nói - chỉ cần sự nhìn nhận nhóm của ông ta (tức là Việt Minh). Tôi ngờ ngợ đã nghe về nhóm này, họ là công sản và tôi hỏi ông Hồ về vấn đề đó. Ông ta nói người Pháp gọi tất cả ngưòi Việt là cộng sản, những người muốn độc lập.

 

Ngay lúc này mới vào 3/1945, ý đồ bất chánh đã thấy manh nha. HCM chỉ cần Hoa Kỳ nhìn nhận Việt Minh để chuẩn bị cho ngày cướp chính quyền và thành lập "chính phủ." HCM cũng không dám xác nhận mình là cộng sản khi bị ông Fenn hỏi, rồi nhập nhằng đổ thừa Pháp chụp cho cả khối người Việt đấu tranh đòi độc lập là cộng sản.

 

Khi Fenn hỏi Hồ về vấn đề người Pháp tại Việt Nam thì HCM từ chối việc tổ chức của ông ta chống Pháp. Việt Minh coi vấn đề chống Pháp không là nhu cầu cần thiết lúc bấy giờ; hơn nữa Vua Bảo Đại đã tuyên bố Việt Nam độc lập sau khi Nhật đảo chánh Pháp. Ông Neville còn nhắc lại, ngay cả Trường Chinh tuyên bố (trang 52):

 

...that the Japanese takeover marked the end of 87 years of French colonialism -Người Nhật lật đổ làm dấu hiệu chấm dứt 87 năm thực dân của Pháp,’ và ông Hồ cũng nói, ‘ The French wolf was finally devoured by the Japanese fascist hyena – Con chó sói Pháp đã bị ăn tươi bởi con chó sói fascist Nhật hung tợn hơn.’

 

(nguồn hình "Uncle Ho Uncle Sam")

Một chuyện nhỏ hơi khôi hài mà ông Fenn hay nhắc lại khi nói tới HCM gặp tướng Mỹ Chennault. Hồ yêu cầu ông Chennault cho một tấm hình và ký tên sau tấm hình. Chennault đã tặng hình và ký tên. Sau đó Chennault biết ý đồ của HCM, (trang 52):

 

This tickled Chennault’s vanity, he wasn’t to know that the signed photograph would soon be used to good effect by Ho to persuade skeptical Vietnamese nationalist that he did indeed have American support. Soon was flown to the Chinese border and made his way back to Pac Bo on foot. Chuyện này làm Chennault hơi khó chịu khi xem đó chỉ như là hư danh, ông đã không biết tấm hình có chữ ký đã sớm trở thành công cụ tốt và có ảnh hưởng cho ông Hồ. Hồ dùng nó để chiêu dụ những người Việt quốc gia đang còn lưỡng lự rằng ông ta đã được người Mỹ ủng hộ. Hồ nhanh chân chạy bộ vượt ranh giới Tàu Việt trở lại Pac Bo.

Phim còn cho thấy người Mỹ quay cả hình ảnh mỗi buổi sáng HCM tụ họp cán bộ ca "Quốc Tế Ca", tay giơ cao đầy khí thế bên cạnh hình tướng Chennault và cờ đỏ sao vàng!

 

Trở lại vấn đề của Anh. Vai trò của Anh mà Neville muốn làm sáng tỏ là người Anh không phải cùng Pháp trở lại Việt Nam để thực dân. Nhưng ngay lúc đầy những biến loạn này, chính phủ Mỹ đã có lúc hiểu sai lầm. Người ta cứ nghĩ tổng thống Truman đã không thực hiện đề nghị của cố tổng thống Roosevelt “ép Pháp chấm dứt vai trò thực dân tại Đông Dương,” nhưng thực ra đã có những cuộc đối thọai qua lại để làm sáng tỏ ý định của Pháp và Anh. Neville ghi (trang 55):

 

 On 9 June (1945), Dening reported bleakly that he had ‘gained the impression from talks in Washington that Great Britain is hardly considered a factor in Far Eastern affairs.’ Vào ngày 9/6/ 1945, Dening tường trình rõ rệt là ông đã ‘nhận ra thái độ từ Washington rằng Anh không thể bị coi là một phần tử trong vấn đề Đông Á.’

 

Vấn đề là làn sóng cộng sản đang lan tràn nhiều nơi, mà ngay lúc này Pháp đã quan tâm. Tướng de Gaulle của Pháp đã “dọa” (blackmail) Hoa Kỳ (trang 55):

 

The French leader told the Americans ‘if you are against us in Indochina’, this would cause terrific disappointment in France and might drive France into communist hands.’ We do not want to become communist,’ de Gaulle warned,’ but I hope you do not push us into it.’ Lãnh đạo Pháp đã nói với người Mỹ ‘nếu người Mỹ chống chúng tôi tại Đông Dương,’ việc này có thể gây sự bất mãn trầm trọng tại Pháp và có thể đưa đẩy nước Pháp vào tay những người cộng sản. ‘Chúng tôi không muốn trở thành cộng sản,’ de Gaulle cảnh báo, ‘nhưng tôi hy vọng các ông không đẩy chúng tôi vào chuyện ấy.’

 

 Charles de Gaulle đã quan tâm đúng mức khi lo sợ nước Pháp sẽ lọt vào bàn tay những người cộng sản. Thật vậy, dù chưa bị cộng sản nắm chính quyền hoàn toàn, nước Pháp sau khi bị Đức chiếm đóng, hoàn cảnh xã hội bị thay đổi, chính phủ bị kiệt quệ về nhiều mặt và là cơ hội cho các Đảng Xã Hội và Đảng Cộng Sản hoành hành. Việc này đã xảy ra khi Pháp trở lại Việt Nam tiếp tay với HCM 6/3/1946. Xin trình bày thêm phần sau.

 

Cuối cùng thì chính sách của Mỹ đã chuyển qua giai đoạn mới từ 4 – 7/1945. Mỹ bằng lòng cho quân Pháp còn vị thế tại Nam Việt.

 

Nhưng rồi 8/1945 là giai đoạn rối loạn nhất về mặt chính trị tại Việt Nam. Khối trục của Nhật đã dần dà thua trận và vụ 2 trái bom nguyên tử Mỹ thả tại Hiroshima và Nagasaki . Chính phủ Trần Trong Kim bắt đầu mất đi thế yểm trợ khi Nhật đầu hàng vào ngày 16/8/1945. Vua Bảo Đại nghi ngờ thiện chí ra đi của Pháp và làm ngơ việc ông đã tuyên bố công khai Việt Nam Độc Lập. Trong lúc vua Bảo Đại đánh điện tín đến tổng thống Truman tại Washington  yêu cầu chính phủ Mỹ công nhận Việt Nam Độc Lập như ông đã tuyên bố vào 11/3/1945, nhưng đã quá trễ vì ngay lúc đó Viêt Minh đã tràn ngập thành phố Hà Nội làm việc cướp chính quyền. Đó là ngày 19/8/1945.

 

Hơn 100 ngàn dân tại Huế đã xuống đường yêu cầu vua Bảo Đại đứng ngoài chuyện Việt Minh, nhưng cuối cùng thì Bảo Đại đã phải thoái vị giao quyền lại cho HCM để thành lập “chính phủ liên hiệp” mà sau này nhiều người quốc gia bị lầm kế Hồ khi gia nhập với lòng nhiệt thành yêu nước.

 

Những diễn biến xảy ra từ tháng 4 – 7/1945 giũa Hoa Kỳ và Anh –Pháp, sau đó là nhiệm vụ của Anh tại miền Nam Việt Nam sau hội nghị Potsdam đã cho thấy có một sự sắp xếp cho việc Anh trở lại giải giới tàn quân Nhật và sự trở lại của Pháp.

 

Lúc này HCM phải làm nhanh vấn đề ra mắt trước nhân dân miền Bắc. Chỉ trong vòng 2 tuần lễ của tháng 8, Hồ và tập đoàn đã dàn dựng vài hiện tượng ngoạn mục như sau:

 

Trên tờ “Cứu Quốc” ra ngày 29/8/1945 đã đăng tin:

 

 Đêm 25-8-45 máy truyền thanh vang rạy khắp mọi ngả đường, mọi hang cùng ngõ hẻm thúc dục đồng bào đúng 11 giờ ngày 26 đi biểu tình nghênh tiếp một số uỷ viên trong chính phủ lâm thời và phái bộ điều tra Mỹ mới về Hà Nội. Sôi nổi và thao thức mong đợi....trong chính phủ lâm thời sẽ có thay đổi và mở rộng phạm vị để đón tiếp các vĩ nhân.

 

 Như đã kể trên, HCM đã từng treo hình tướng Mỹ Chennault kế bên cờ đỏ sao vàng trong rừng hang Pac Bo khi Hồ mang tên Lucius làm công tác tình báo cho OSS của Mỹ. HCM cần Mỹ công nhận đến mức độ ráo riết tổ chức 2 buổi mít tinh xuống đường “đón tiếp các vĩ nhân” trước ngày 2/9/1945.

 

Dân chúng nghe lời kêu gọi, nhất là đang hâm mộ Mỹ, một cường quốc đang thắng thế chiến thứ 2, họ kéo nhau ra đường ngày 26/8. Có những biểu ngữ ca ngợi “phái bộ đồng minh OSS”... Ông Archimedes Patti đã đánh tiếng lại yêu cầu Việt Minh gỡ những biểu ngữ đó xuống vì phái đoàn OSS không phải là “đồng minh.”

 

Cuối cùng thì Patti đã không có mặt tại buổi xuống đường đó. Dân chúng thất vọng. Không ngừng thủ đoạn để đạt mục đích, cả nhóm Việt Minh đại diện gồm các ông Võ Nguyên Giáp, Nguyễn Hữu Đang, Nguyễn Lương Bằng kéo cờ và kèn trống đến ngay tư gia của thiếu tá tình báo Patti.

 

Vừa vào gặp Patti thì Việt Minh chụp ngay một tấm hình khi Patti còn mặc đồ thường. Tiếp theo, Việt Minh sửa soạn nghiêm chào cờ Mỹ bắt buộc ông Patti phải mặc lễ phục ra trước nhà chào cờ. 

 

      

(nguồn hình "Why Vietnam" by Archimedes Patti, trang 234)

 

Dưới hình Patti ghi:

 

Ngày 26/8/1945, tại Hà Nội, HCM gửi một phái đoàn dẫn đầu bởi Võ Nguyên Giáp để nghênh đón công tác của OSS Mỹ đến Hà Nội. Trong khi giàn nhạc trổ Quốc Ca Mỹ, Giáp và phái đoàn cùng hưởng ứng với tác giả và toán OSS nghiêm chào cờ Mỹ.

 

Lời của ông Patti đã chứng minh Việt Minh có cuộc xuống đường ngày 26/8/1945 như tờ "Cứu Quốc" đã đăng. Chờ mãi Patti không tới, cả đám đành phải kéo nhau tới tư thất của Patti và có ý ép Patti ra ngoài chào cờ để chụp hình làm bằng chứng Mỹ ủng hộ Việt Minh. Trong nước, 11/2007, cộng sản đem hình ảnh này cho vào một cuốn sách "OSS và HCM", nhưng cắt hình cờ Mỹ.

 

Thêm một buổi xuống đường ngày 30/ 8/1945 cũng trong tinh thần nịnh Mỹ. Lần này thì Việt Minh chống Pháp mà trước đó, 3/1945, HCM trả lời với Fenn là tổ chức ông không chống Pháp. Biểu ngữ có họ Hồ, cờ đỏ sao vàng. Có phải lúc này Hồ đã thấy Pháp theo gót chân Anh trở lại dậm chân tại Việt Nam trừ hậu hoạn cộng sản và chính HCM là một quốc tế cộng sản, một tay sai đắc lực của đệ tam quốc tế?

(nguồn "Why Vietnam, trang 234)

 

Ngày quan trọng 2/9/1945 đã đến. Trên sân khấu, phải chăng có lúc HCM đã mất bình tỉnh? Chỉ có 4 người Mỹ trong nhóm OSS đứng trong đám đông. Họ đứng để quan sát chứ không phải làm vai trò quan khách, nhưng ống kính camera cứ nhắm vào 4 ông Mỹ này, và đoàn duyệt binh cứ qua lại trước mặt họ nhiều lần ( lời kể của đại ý Grelecki trong “Uncle Ho Uncle Sam”).

 

 Đi tìm một thế lực để công nhận rất là quan trọng, nhất là “Chính Phủ Việt Nam Dân Chủ Cộng Hoà” được dựng ra bởi hành động cướp chính quyền, không phải do dân bầu. Mỹ đã không công nhận HCM ngày 2 tháng 9 đó. Ông Hồ  có biết hay không những diễn tiến xảy ra giữa Mỹ và phe Anh-Pháp từ 4 – 7/1945, nhưng việc ông ta làm thì vẫn cứ làm, tận dụng tất cả mọi cơ hội và hoàn cảnh để đạt mục tiêu.

 

Từ 6/1944 – 1/1946, chính phủ lâm thời của Pháp do Charles de Gaulle lãnh đạo. Nhưng đến 1/1946 – 6/1946 thì do Felix Gouin , một đảng viên Đảng Xã Hội thân cộng.

 

HCM đã ký Hiệp Ước Sơ Bộ ngày 6/3/1946 với đại diện Pháp Sainteny trong giai đoạn này. Mục đích để được Pháp công nhận, thứ đến dùng Pháp để tiêu diệt các đảng phái quốc gia. Khi bị đồng bào và các chính đảng lên án “Hồ Chí Minh bán nước” thì ông ta lại cho rằng “mang Pháp về để thay thế quân Tưởng Giới Thạch” (dẹp tàn quân Nhật miền Bắc) là một cái cớ để chạy tội. Thật ra, Hiệp Ước Nga Hoa đã được Pháp và phe Tưởng ký ngày 28/2/1946, bao gồm việc rút quân từ 1 - 15/3/1946. Trước đó, đô đốc D’Argenlieu đã sang Trùng Khánh điều đình từ tháng 10/1945.

 

Vũ đài chính trị Pháp ngả vế phái hữu” là câu ghi trong sách “Đồng Chí Hồ Chí Minh,” (trang 323), của tác giả  E-Cô-bê-lép khi trình bày cuộc họp tại Fontainebleau thất bại. Lúc này lãnh đạo nước Pháp là thủ tướng George Bidault (6/1946 – 11/1946), nhân vật chống cộng sản cứng rắn.  Điều này nói lên nước Pháp đã ra mặt công khai tuyên chiến với HCM, mặc dù ông Hồ cố tình ở lại 4 tháng tại Pháp từ 2/6/1946 - 18/9/1946, để cầu hoà, tìm vận động viên để mong Pháp  trở lại Việt Nam hợp tác với Việt Minh, đúng theo tinh thần của Hiệp Ước Sơ Bộ và hội nghị tại Fontainebleau phe Hồ muốn Pháp chính thức hoá hiệp ước này. Nhân vật chống đối mạnh mẽ nhất phải kể là đô đốc D' Argenlieu và thủ tướng Bidault. Trong Hiệp Ước Sơ Bộ có phần "thống nhất ba kỳ" được hiểu như giao trọn Việt Nam cho phe cộng sản.

 

Khi biết không tránh khỏi chiến tranh, HCM từ thái độ muốn Pháp trở lại “thực dân” quay sang hô la Pháp trở lại Việt Nam “xâm lược” để mong gây trong lòng dân thêm sự thù hận mà ra tay cùng Việt Minh nạp mạng trong cuộc chiến khó tránh. Cuộc chiến tranh ý thức hệ xảy ra từ 12/1946 –5/1954, mà tuyên truyền của cộng sản cho là cuộc chiến "giành độc lập." 19/8/1945 đánh dấu ngày đầu tiên vấn nạn cộng sản độc tài đè nặng trên đất nước và dân tộc Việt Nam, nó lại được tô lên một lớp sơn đỏ với  hai chữ "cách mạng."

 

 Bút Sử

19/8/2009

  


 

 

Ai Là Mẹ của Nông Đức Mạnh?


Khi Nông Đức Mạnh(NĐM) được chọn làm Tổng Bí Thư Ban Chấp hành Trung Ương Đảng CSVN, nhiều lời bàn tán nổi lên nhưng chỉ qui vào thân thế hơn là sự nghiệp của ông ta. Theo đài Á Châu Tự Do (RFA) thì tại một nước mà tự do báo chí không có để tìm kiếm sự thật thì những lời xì xầm đồn đại lan truyền trong dân chúng lâu dần sẽ đương nhiên trở thành được coi như có giá trị. Do đó khi viết về đại hội đại biểu toàn quốc 4/2001 báo chí ngoại quốc đều nhắc đến những lời đồn đãi rằng NĐM là con rơi của Hồ Chí Minh (HCM) cha đẻ của cuộc cách mạng vô sản ở VN. Đại Sứ Australia là bà Sue Boyd - người nổi tiếng là bộc trực- đã hỏi thẳng NĐM có phải là con của Hồ Chí Minh không? NĐM trả lời "Ở Việt Nam ai cũng đều là con của Bác". Câu trả lời vô thưởng vô phạt này có chủ đích lập lờ để không phải xác nhận sự thật mà cũng không bị mang tiếng là chối bỏ một sự thật.

Sau đó cũng gần một năm trên tạp chí Time, ấn bản vùng Á Châu phát hành ngày 23-1-2002 tại Hồng Kông- qua cuộc phỏng vấn của ký giả Kay Johnson- Tổng Bí Thư (TBT) Đảng CSVN lại một lần nữa lên tiếng về thân thế mình, bác bỏ tin đồn trước đây cho rằng ông ta là con rơi của HCM và một phụ nữ sắc tộc là Nông Thị Xuân. Ngày được nâng lên giữ chức TBT, vì quá bất ngờ với câu hỏi của bà Sue Boyd nên câu trả lời của NDM tuy khôn ngoan nhưng ai cũng hiểu đó là một sự tránh né. Có lẽ nhận thấy im lặng quá lâu là mặc nhiên xác nhận tin đồn không tốt cho sự nghiệp chính trị của mình, là "con Vua thì được làm Vua", lần này vì có chuẩn bị trước nên NĐM đã bác bỏ tin đồn một cách mạnh mẽ "Tôi phải lập lại và xác nhận rằng điều đó không đúng sự thật. Tôi có thể nói tên của cha mẹ tôi nhưng họ đã chết" Và NDM cho biết cha mình là Nông Văn Lai và mẹ là Hoàng Thị Nhị. Tổng Bí Thư Dảng CSVN tiếp theo cười cười :
"Nếu có ai nói tôi giống HCM, tôi nghĩ có nhiều người trông giống người "
Người phỏng vấn hình như vẫn chưa hài lòng với câu trả lời nên lại hỏi : "Nên ông không liên hệ gì với HCM ?"
NĐM lập lại : "Tất cả mọi người VN là con của Bác Hồ. Tôi nghĩ toàn thể dân Việt xem HCM là cha tinh thần của họ và tôi cũng thế ".
Nghe đến đây phóng viên tờ Time nhấn mạnh một lần nữa : "Nhưng không phải là cha đẻ của ông?."
NĐM quả quyết : "Chắc chắn là không ".

Viết về HCM thì không thể nào không nhắc đến những huyền thoại không những do đảng CSVN tô son điểm phấn cho ông mà ngay chính bản thân ông cũng tự hào về những dối trá đó. Hình như những suy tôn mà Đảng CS đã dành cho ông vẫn chưa đủ nên chính ông lại tự ca ngợi mình. Quả thật không ai ca ngợi HCM bằng chính ông ta. Trong các tài liệu về HCM cho biết "Bác" Hồ đã có tất cả vừa tên, vừa bí danh và bút danh từ A đến Z sơ khởi là 54 cái tên (VN Đẹp Nhất Có Tên Bác Hồ- trang 114- 122) nhưng lại bỏ sót mất 2 cái tên là Trần Dân Tiên và T. Lan là tác giả của 2 cuốn sách nâng HCM lên như một ông "Thánh sống" đến độ trơ trẽn vì từ trước đến nay có lẽ chỉ mình Bác là kẻ duy nhất tự viết sách để ca tụng mình qua vai trò Trần Dân Tiên và T.Lan, tự khen mình là khiêm tốn, không bao giờ nghĩ đến mình mà chỉ nghĩ đến nhân dân, phong cho mình là "cha già dân tộc", ngạo mạn với các bậc tiền bối, xưng hô là "Bác" với mọi ngườì kể cả các cụ già. Một con người mà có thể hạ bút viết lên những điều như thế thì tất cả những huyền thoại về HCM đều là do ý muốn của ông ta.


Trong những lần dạy dỗ cán bộ đảng viên, HCM thường nhắc đến hai chữ "hủ hoá", nhưng kỳ thực ông ta lại là người lăng nhăng tình cảm với nhiều phụ nữ hơn ai hết. Những tham khảo của các sử gia ngoại quốc cũng như tài liệu từ các quốc gia Pháp Nga cho thấy rõ điều này. Đồng ý, con người sinh ra đều có tình cảm: yêu thương, giận hờn, ghen ghét trong đó tình yêu vợ chồng là tình cảm thiêng liêng không thể thiếu được. Thế nhưng HCM đã dấu hết tình cảm đó, cho mình là một "ông Thánh" hy sinh cả cuộc đời , sống cô độc lo cho dân cho nước. Thậm chí ăn ở với người ta có con, rồi ra lệnh giết người mẹ chỉ vì không muốn nhìn nhận vợ con. Nếu không có lệnh của HCM thì ai dám nhúng tay vào tội ác?. Thế mà HCM lúc nào cũng hãnh diện nhắc nhở cho thanh thiếu niên là "Học gì thì học chứ đừng học tánh hút thuốc và không lấy vợ của Bác nhé!". Do đó nói lên sự thật không có nghĩa là moi móc đời tư mà là đánh đổ huyền thoại của một con người hai mặt nói thì tốt nhưng hành động thì xấu xa. Mồm thì hô hào là "đầy tớ " của nhân dân nhưng lại mơ thấy mình làm vua là "cha" của thiên hạ :

Trong tù khoan khoái giấc ban trưa
Một giấc miên man liền mấy giờ
Mơ thấy cưỡi rồng trên thượng giới

Tỉnh ra trong ngục vẫn nằm trơ

Tiếng Việt của chúng ta thật là phong phú, đa dạng. Khi viết "Mẹ của NĐM là ai?" thì câu hỏi này không có gì đặc biệt - và câu trả lời là mẹ ông ta có thể là bà A, bà B, bà Mít , bà Xoài v. v... Nhưng khi chúng ta đặt chữ Ai ở đầu câu Ai là Mẹ của NĐM ? thì câu hỏi xem ra có phần mạnh mẽ hơn, hậu ý như là giữa những bà có tên là Marie Biere (Pháp), Tăng Tuyết Minh (Tàu), Vera Vasiliéva (Nga), Nguyễn Thị Minh Khai, Đỗ Thị Lạc, Nông Thị Xuân . . ai trong số đó là Mẹ của NĐM?

Dư luận cho rằng người đó là Nông Thị Xuân có lẽ vì bà Xuân cùng là họ Nông và lại cũng sinh cho HCM một đứa con trai. Tuy nhiên nếu xét về thời gian thì giả thuyết này không chấp nhận được. Câu chuyện Nông Thị Xuân đã được ông Nguyễn Minh Cần - đảng viên CS ly khai viết rất rõ ràng. Sau hiệp định Geneve 1954 HCM về Hà Nội làm Chủ Tịch nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà. Năm 1955 Nông Thị Xuân 22 tuổi người Cao Bằng được đưa về Hà Nội để "phục vụ" HCM. Lúc đó "Bác" đã 65 tuổi rồi. Một năm sau, hạ sanh một con trai đặt tên là Nguyễn Tất Trung. Nông Đức Mạnh, theo tài liệu của Đảng, thì sinh năm 1940, còn Nguyễn Tất Trung sinh 1956. Địa thế hang Pắc Bó lại thông ra một con đường kín đáo dẫn sang bên kia biên giới..Cũng tại nơi đây HCM lại có một mối tình mà ít ai để ý đến và ngay những taì liệu trước đây cũng không hề nhắc đến. Nhân chuyện CSVN dâng đất nhường biển cho Trung cộng, các anh chị em trong nhóm "Câu Lạc Bộ Sinh Viên Việt Nam" ngày 24-2-2002 đã viết một bài có tựa đề "Cột Mốc 108 và Một Câu Chuyện Tình" ( Trong Bạch Thư tố cáo Việt cộng hiến đất dâng biển cho Trung Cộng trang 348,349). Mục đích của bài viết muốn nhấn mạnh cột mốc 108 biên giớI Việt Trung để chúng ta có dịp do sánh địa điểm này giữa hai thời điểm 1941 và 1999. Thế nhưng, Cột mốc biên giới đánh số 108 này cũng đã ghi lại dấu vết đầu tiên của HCM khi trở về nước và đã có một cuộc tình với cô gái Nùng họ Nông .

"Vào năm 1941 Nông Thị Ngác - còn có biệt danh là Nông Thị Trưng (tên do "Bác" Hồ đặt cho) là một cô gái tuổi đôi mươi người Tày rất đẹp có duyên nhưng lại mù chữ. Vốn trực thuộc cơ quan chi bộ phái của Trung Hoa Cộng sản Đảng tuyển chọn và huấn luyện để làm giao liên cho HCM, Nông Thị Trưng liên tục được HCM huấn luyện, bồi dưỡng, xoá dần mù chữ và một chuyện tình có thể xảy ra vào những năm tháng này"


Trên tờ Xuân Phụ Nữ năm Đinh Sửu 1997 xuất bản trong nước một bài viết có tựa đề "Cô Học Trò Nhỏ Của Bác Hồ" được tác giả Thiên Lý viết theo lời kể của chính đương sự Nông Thị Trưng đã cho thấy có sự gắn bó rất thắm thiết giữa người con gái Nùng tuổi đôi mươi với người đàn ông 51 tuổi trong cái hang Pác Bó gần cột mốc 108 này. Sau đây là nguyên văn bài viết:

"Tháng 7 năm 1941, được tin Châu Hà Quảng đưa lính cơ tới bắt, ngay đêm ấy tôi trốn ra rừng, rồi được Châu Ủy đem qua Bình Mãng (Trung Quốc) lánh nạn tại nhà một đảng viên đảng Cộng sản Trung Quốc. Một hôm đồng chí Lê Quảng Ba và Vũ Anh đến đón tôi từ Trung Quốc về Pắc Bó gặp Bác.. Về Pắc Bó đã nửa đêm, anh Đại Lâm người giữ trạm đầu nguồn đưa ngay chúng tôi đi gặp "ông Ké".


Lội ngược suối càng đi nước càng sâu, khi đến thác thứ ba, anh Đại Lâm thổi sáo, từ trên thác có thang tre thả xuống. Trèo thang lên, thấy một cái lán dựng ngay trên bờ suối. Trong lán có ông cụ ngồi đọc sách. Tôi chắp tay "Cháu chào cụ ạ" ông cụ nhìn lên hai mắt rất sáng, ân cần bảo: "Cháu đến rồi à, cháu ngồi xuống đây nói chuyện.\" Tôi nhìn xuống sàn, thấy toàn cây to bằng bắp chân. Cụ bảo hai lần tôi mới dám ngồi. Cụ tỉ mỉ hỏi gia cảnh, rồi khuyên tôi: "Từ nay cháu đã có một gia đình lớn là gia đình cách mạng, đừng luyến tiếc gia đình nhỏ nữa. Cháu cặm cụi làm ăn cũng không đủ để nộp sưu thuế đâu. Mình lấy lại được nước rồi từng gia đình sẽ được đàng hoàng. Từ nay ai hỏi thì cháu nói mình là cháu chú Thu, tên Trưng". Bác đặt tên ấy là muốn tôi noi theo gương bà Trưng..

Từ đấy tôi ở lại lán anh Đại Lâm, mỗi ngày vào lán của Bác một giờ để học tập. Bác dạy cho tôi từ chuyện thế giới, chuyện cộng sản chủ nghĩa đến cả những cách ứng xử thường ngày như "Đừng làm một việc gì có thể khiến dân mất lòng tin. Mượn một cái kim, một con dao, một buổi là phải đem trả. Trong ba lô nếu có màn, phải để ở ngoài cửa, hỏi xem chủ nhà có bằng lòng mới đem vào. Cháu là nữ, trước bàn thờ có cái giường để các cụ ngồi ăn cỗ, cháu không được ngồi". Tám tháng được Bác chỉ dạy tôi học được hơn cả mấy chục năm học lý luận tập trung sau này. Bà Nông Thị Trưng ngừng kể để uống nước. Tôi để ý thấy ngôi nhà yên vắng lạ, không có dấu hiệu một người thứ hai ngoài chủ nhân sống ở đây. Đồ vật trong nhà chỉ có chiếc giường, bộ bàn ghế gỗ thường, chiếc xe đạp nam và cái ti vi đen trắng cũ kỹ.

Nhân đang vui chuyện, tôi hỏi về gia đình bà, chồng bà là một cán bộ Việt Minh cùng hoạt động những năm ba mươi, đã mất năm 1986. Được bốn con trai một gái, nay đều ở riêng. Bà sống đơn chiếc, tự "phục vụ" hoàn toàn . Người phụ nữ giàu nghị lực ấy đã trải qua nhiều thời kỳ gian khổ trong kháng chiến, vừa hoạt động, vừa nuôi con. Thậm chí, có lúc quá khó khăn đã phải ngưng công tác. Và cũng chính bác Hồ đưa người nữ cán bộ miền núi ấy trở lại với công tác.

Trong dịp Quốc Hội đầu tiên, sau hoà bình, Bác mời các đại biểu Cao Bằng tới ăn cơm, thăm hỏi mọi cán bộ cơ sở cũ, và không quên cô học trò nhỏ ở Pắc Bó. "Trưng bây giờ làm gì ở đâu?". Khi nghe trả lời: "Thưa Bác, chị Trưng nghỉ ở nhà", Bác đổi sắc mặt, trách "Tại sao trước cách mạng khó khăn thế, nó vẫn hoạt động mà bây giờ lại nghỉ, các chú phải tìm hiểu rõ chứ". Về sau, mỗi khi có dịp, Bác đều cử người gặp trực tiếp bà Trưng hỏi xem bà có gặp khó khăn gì để giúp đỡ.

Bác còn có cả một bài thơ tặng người học trò nhỏ của mình. Bà Trưng kể: "Hồi ấy giữa năm 1943 Bác mới ra khỏi nhà tù Trưởng Giới Thạch, trở về Lũng Cát ở trong một cái lán dưới chân núi. Một hôm Bác cho gọi tôi đến đưa cho một quyển vở và bảo rằng "Bác vừa dịch xong quyển Binh Pháp Tôn Tử, Bác cho cháu". Tôi giở ra, thấy ở bìa trong có bốn câu thơ viết bằng mực tàu:

"Vở này ta tặng cháu yêu ta
Tỏ chút lòng yêu cháu gọi là
Mong cháu ra công mà học tập
Mai sau cháu giúp nước non nhà."

Tiếc thay , trong những năm kháng chiến, không có điều kiện bảo quản, quyển vở quí ấy đã bị mối xông mất .”
-------------
Bài viết chấm dứt nơi đây.

Vừa gặp nhau lần đầu , người con gái Nùng chấp tay "Cháu chào cụ ạ". Có lẽ tiếng "cụ" nghe không "êm ái" nên HCM dặn dò "Từ nay ai hỏi, thì cháu nói mình là cháu chú Thu, tên Trưng". Và bí danh "Già Thu" và "Nông Thị Trưng " được khai sinh ra từ đó. Từ trước đến nay ông Hồ vẫn xưng mình là Bác với tất cả mọi người, riêng đặc biệt chỉ có mỗi một mình Nông thị Ngác là được làm "cháu" của "Chú Thu" mà thôi.

Qua lời kể trên đây thì tình cảm của "Chú Thu" dành cho "cháu Trưng" rất đậm đà thắm thiết "Mỗi ngày một giờ liên tục như thế gần một năm trời từ tháng 9-1941 cho đến 13-8-1942 thì lớp dạy kèm chấm dứt, "Chú Thu" qua Trung Quốc, bị bắt ., ra tù trở về lại Cao Bằng, tìm lại cô học trò xưa tặng nàng một bài thơ viết vài giòng trên quyển "binh thư" và kể từ đó tuy xa nhau nhưng "Chú Thu" vẫn theo dõi tận tình giúp đỡ cho "cô học trò nhỏ" của mình.


Tin từ nhóm "Câu Lạc Bộ Sinh Viên" cho biết thì "Kể từ đó Nông Thị Ngác đã vắng mặt khá lâu tại vùng biên giới này, mười năm sau Nông Thị Ngác bỗng nhiên được ưu đãi đặc biệt trở thành chánh án toà án nhân dân tỉnh Cao Bằng. Người ta đặt câu hỏi việc gì đã xảy ra trong những năm tháng đó, Nông đã đóng góp gì mà chỉ sau mười năm trở thành tỉnh uỷ viên, uỷ viên ban chấp hành trung ương và là người đứng đầu ngành hành pháp tại một tỉnh xung yếu phía Bắc?


Như đã biết, tại Viêt Nam không có tự do báo chí, tất cả nằm trong tay Đảng. Nhà baó Kim Hạnh tổng biên tập của báo Tuổi Trẻ đã bị mất chức chỉ vì đăng tin HCM khi còn trẻ đã có một người vợ kèm theo đăng lá thư HCM gửi cho người vợ này. Vì sự thật đã không được phơi bày cho nên người dân chỉ còn biết đặt nghi vấn, tại sao Nông Thị Trưng lại được ưu đãi như thế? Tại sao tiểu sử Nông Đức Mạnh chỉ ghi: "Con một nhà cách mạng lão thành?” còn cô học trò nhỏ của ''Bác" thì chỉ hé mở chồng mình là "một cán bộ Việt minh cùng hoạt động những năm ba mươi" ?. Tại sao lại phải dấu tên tuổi như vậy?.

Gần đây hơn, đáng tin cậy nhất là William Duiker đã tường thuật lại, trong cuốn sách viết về Hồ Chí Minh (tái bản lần thứ hai) chuyện Nông Đức Mạnh đã tiết lộ với tác giả rằng " MẸ TÔI, THÀNH VIÊN CỦA DÂN TỘC THIỂU SỐ, Đà PHỤC DỊCH CHO ÔNG HỒ VÀO NHỮNG NĂM ĐẦU TIÊN CỦA THẬP NIÊN 40…"

Một con người vốn bản tính lăng nhăng, thời gian ở ngoại quốc đã có tiếng là "anh thanh niên Quốc ăn mặc rất chải chuốt, luôn mang cà vạt màu, rất diện, xức cả nước hoa cực thơm.."(Hồ Chí Minh có mấy vợ- Trần Gia Phụng) mà nay lại đứng trước cảnh tượng "nửa đêm, giờ tý, canh ba" trong một nhà sàn thanh vắng ông "ké" nhìn lên, hai mắt sáng, ân cần bảo: "Cháu đến rồi à, cháu ngồi xuống đây nói chuyện" thì liệu "ông Ké” có làm ngơ được không nhất là khi nhan sắc của "cháu" Nông Thị Ngác lại mặn mà duyên dáng dễ làm say đắm lòng người !

Xem như thế thì câu chuyện Nông Thị Ngác là một nghi vấn có nhiều khả năng xác thật để trả lời cho câu hỏi : AI LÀ MẸ CỦA NÔNG ĐỨC MẠNH vậy.

Nhan SF



Hồn Dân Tộc của Hồ Chí Minh?

 

Với chính sách tuyên truyền trong nước, Hồ Chí Minh được coi như “tuyệt vời,” vừa là người của quốc tế, vừa là người của dân tộc Việt Nam. Được như vậy thì dù Đảng Cộng Sản Việt Nam đi theo chủ thuyết Marx Lenin Mao, thành lập nhà nước theo chế độ xã hội chủ nghĩa độc tài để tiến lên thiên đường cộng sản theo chỉ thị quốc tế cộng sản đề ra, Đảng cũng có thể gieo vào lòng dân một thứ “chính nghĩa” nào đó. Không những Đảng gồm một tập đoàn dày công đánh bóng lãnh tụ một cách tinh vi, mà chính đảng trưởng Hồ Chí Minh cũng tự tâng bốc mình. Trong nhiều bài viết trên các sách báo của Đảng, ngoài những giáo điều học từ các ông tổ cộng sản ở các nước khác, họ lại đệm thêm một số ý niệm về tổ quốc và dân tộc.

 

Tổ quốc của Hồ Chí Minh ở đâu?

 

T. Lan, bút danh của Hồ Chí Minh, trong “Vừa Đi Đường Vừa Kể Chuyện” xuất bản đầu tiên 1963 như sách ghi, và tái xuất bản 1994, 1999, có một chương tựa là “Tổ Quốc Cách Mạng.”

 

Vào đầu tháng 5, 1927, Hồ Chí Minh bị quân Tưởng Giới Thạch ruồng bắt tại Quảng Châu, ông ta phải chạy qua Hương Cảng (Hong Kong). Tại đây Hồ cũng bị mật thám Anh làm khó khăn, ông phải chạy qua Thượng Hải (Shanghai). Tại Thượng Hải ông cũng bị phe Quốc Dân Đảng của Tưởng theo dõi.

 

T. Lan viết (trang 36): “Chỉ còn một cách là chạy về Tổ quốc cách mạng - chạy về Liên Xô.”  Đấy là tâm thức của Hồ Chí Minh. Ông đi làm cách mạng để phụng sự cho tổ quốc và tổ quốc đó chính là Liên Sô.

  

Sau 30 năm bôn ba hoạt động cùng phe quốc tế cộng sản, Hồ Chí Minh trở về Việt Nam. Ngồi tại mảnh đất quê hương, nhưng xúc động của ông dồn về “tổ quốc cách mạng” qua bài thơ:

 

Non xa xa nước xa xa

Nào phải thênh thang mới gọi là

Đây suối Lê Nin, kia núi Mác

Hai tay xây dựng một sơn hà

 

Đang ở tại đất Cao Bằng, nhưng non nước của ông Hồ thì xa xa...( ở tận Liên Sô). Nhưng dù là xôi xôi thênh thang, ông cũng có thể nhớ non nước ấy qua giòng suối tại Việt Nam mà ông đặt tên là Lê Nin, và một núi ông đặt tên là Mác. Dựa vào “hồn thiêng của tổ quốc cách mạng” ông Hồ quyết tâm “xây dựng” một Việt Nam cộng sản và ông hãnh diện trở thành một Lenin hay Stalin của Việt Nam, một Mao của Việt Nam. Đảng Cộng Sản Việt Nam từ thời Hồ Chí Minh còn sống cũng như sau này ví Mao là mặt trời, là cưú tinh, là ngôi sao sáng nhất, là cây đại thụ, là ngọn hải đăng... Đại loại đó là những gì nói lên tâm hướng của Hồ Chí Minh.

 

Phong cách văn hoá của Hồ Chí Minh

 

Người ta thường cho rằng văn là người. Hồ Chí Minh viết rất nhiều, nhất là thể loại kể chuyện. Năm 1960, ông Hồ bỗng nhiên trở thành một nhà thơ hay dựa vào những bài thơ cho rằng ông đã sáng tác trong tù. Năm 1990, Đảng lại cho ông Hồ thêm một danh hiệu mới “ danh nhân văn hoá thế giới”  sau khi UNESCO từ chối không chấp nhận cứu xét đơn đề nghị.  Sau vụ này, một số học giả hải ngoại đã đưa ra nhiều tài liệu chứng minh Hồ Chí Minh không phải là tác giả của Ngục Trung Nhật Ký. Bất chấp sự thật và do thông tin một chiều, Đảng vẫn dựa vào giá trị của tập thơ tù này để đưa  nhân cách ông Hồ lên cao, cố tình hạ thấp thành phần trí thức miền Bắc mà giữa thập niên 50 giai đoạn văn nghệ sĩ bị trù dập nặng nề.

 

Thơ trong Ngục Trung Nhật Ký thể hiện nhân cách của một cá nhân nào đó có tâm linh, không thể là một người cộng sản vô thần suốt đời đeo đuổi đấu tranh vì thù hận. Học giả Lê Hữu Mục đã chứng minh đó là Già Lý, người ở cùng tù với Hồ Chí Minh từ 1931-1933 tại Hong Kong. Có hai tư tưởng, hai nhân cách con người trong tập thơ. Một trong số ít bài thơ thật của ông Hồ:

 

Đau khổ chi bằng mất tự do

Đến buồn đi ỉa cũng không cho

Cửa tù khi mở không đau bụng

Đau bụng thì không mở cửa tù

(Bị hạn chế)

 

Những trang sau của cuốn Ngục Trung Nhật Ký có phần định  nghĩa “văn hóa” của Hồ Chí Minh:


Vì lẽ sinh tồn cũng như mục đích của cuộc sống, loài người mới sáng tạo và phát minh ra ngôn ngữ, chữ viết, đạo đức, pháp luật, khoa học, tôn giáo, văn học, nghệ thuật, những công cụ sinh hoạt hàng ngày về mặc, ăn ở và các phương thức sử dụng. Toàn bộ những sáng tạo và phát minh đó tức là văn hóa. Văn hóa là sự tổng hợp của mọi phương thức sinh hoạt cùng với biểu hiện của nó mà loài người đã sản sinh ra nhằm thích ứng những nhu cầu đời sống và đòi hỏi của sự sinh tồn.

 

Định nghĩa trên đúng hay sai, xin nhường lại cho người đọc, nhưng người viết dựa theo tinh thần này để đưa ra nhận xét về tâm thức của ông Hồ. Theo định nghĩa này, văn hoá là sự tổng hợp của mọi phương thức sinh hoạt...Nhưng tại sao Hồ Chí Minh đưa ra tất cả chỉ thiếu vai trò chính trị trong sinh hoạt của văn hoá?  Như vậy là thế nào?  Nếu ông Hồ cho rằng mọi sinh hoạt đều đóng khung trong văn hoá ngoại trừ "chính trị", như vậy tại sao Đảng chủ trương lãnh đạo cả văn học nghệ thuật miền Bắc, và sau này là trong Nam? Văn nghệ sĩ, thi sĩ, nhà báo đều phải viết theo lệnh Đảng? Tôn giáo cũng bị Đảng nhảy vào lãnh đạo, mà tôn giáo là một bộ mặt quan trọng của văn hoá Việt Nam.

 

Lý do Hồ Chí Minh dị ứng với với hai chữ “chính trị”  khi đề cập tới văn hoá, bởi vì nếu ông bao gồm chính trị thì hoá ra ông là một người vô văn hoá. Cũng có thể nói văn hóa của Hồ là những gì tồi tệ nhất mà nhân loại văn minh loại trừ. Văn hóa của một dân tộc nói chung không có nghĩa là hoàn toàn tốt đẹp, có khi dân tộc này cho là hay mà dân tộc khác lại lên án.

 

Cả đời ông hoạt động chính trị theo chủ thuyết nước ngoài là Marx Lenin Mao, phục vụ theo chỉ thị đàn anh quốc tế cộng sản, nhất nhất chuyện gì ông cũng đều phải nghe theo lệnh của cấp trên. Thừa lệnh của Stalin và Mao, ông Hồ đã ra tay giết hằng trăm ngàn đồng bào miền Bắc trong chiến thuật Cải Cách Ruộng Đất giữa thập niên 1950. Tội giết hàng ngàn đồng bào trong Tết Mậu Thân 1968 khi ông ra lệnh tổng xâm lăng hơn 40 tỉnh với quyết tâm nhuộm đỏ cả miền Nam để dâng cho cộng đảng Nga Tàu càng sớm càng tốt. Đó là chưa kể những hậu quả khốc hại sau khi Hồ phóng ra cuộc chiến tranh tương tàn làm chết hằng triệu đồng bào của ông. Những hành động đó không thể hiện một người Việt Nam có văn hóa, có phong tục Việt Nam hay đạo đức làm người. Di sản của Hồ Chí Minh là Đảng Cộng Sản Việt Nam và ngày nay họ sẵn sàng dâng đất nhượng biển cho Trung Cộng, ngoan ngoãn làm tay sai đắc lực như ông Hồ ngày xưa đã từng làm.

 

Ít nhất hai năm trước khi qua đời, Hồ Chí Minh đã sửa soạn làm lăng tẩm cho chính mình giống như Lenin. Tài liệu đã cho thấy đầy đủ để chứng minh cho ý đồ đó. Tác giả Hoàng Quốc Kỳ, một “cận thần” của Hồ Chí Minh nhiều năm đã tiết lộ bí mật này trong “Ma Đầu Hồ Chí Minh.”  (xin xem thêm tài liệu, search for: KHÔNG NÊN ĐỂ CÁI XÁC KHÔ GIỮA HÀ NỘI, tác giả Nhàn SF) Nhưng Hồ Chí Minh vẫn phải viết di chúc, Đảng phải bị mang tiếng là làm “trái ý” lãnh tụ. 

              

Đến gần chết phong cách một người vong bản vẫn không thay đổi. Hãy nhận xét một cách tổng quát di chúc của Hồ Chí Minh, mặc dù theo Hoàng Quốc Kỳ, di chúc này chỉ là một cách để lừa dân. Có văn hoá Việt Nam không? Ông Hồ đã cố tình vặn vẹo, sửa cách viết của tiếng Việt Nam: D thành Z, PH thành F, v.v.. Gần nhắm mắt xuôi tay ông lại "hữu thần" qua những giòng trong di chúc “... fòng khi tôi sẽ đi gặp cụ Mao Mác, cụ Lenin và các vị cách mạng đàn anh khác...” mà không là Hùng Vương hay Trần Hưng Đạo. Những năm cuối đời, có lẽ Mao ảnh hưởng sâu đậm nhất trong tâm tư của ông Hồ.

                      

Nếu Hồ Chí Minh có ý hướng về tổ quốc, về  quốc gia dân tộc thì những suy nghĩ đó ông ta đặt ở đâu? Trước giờ phút hồn lìa khỏi xác, ông còn yêu cầu được nghe một bản nhạc Tàu và Đảng đã phải mang tới một cô người Tàu hát cho ông nghe.

 

Ông Hồ đã thể hiện rõ rệt bản chất vong bản, vô văn hoá kể từ thời trẻ cho đến lúc sắp lià đời. Nhiều mỹ từ dành cho ông Hồ như: Bình luận về văn học qua tác giả và tác phẩm của Hồ  Chí Minh, Hồ Chí Minh Hồn Dân Tộc, v.v..Những sáo ngữ và kỹ thuật tuyên truyền xét ra không phải Đảng “sáng kiến”  có như vậy cũng theo gương lãnh tụ trước đó.

 

Tóm lại, những đòn phép của Đảng không ngoài mục đích nhồi sọ, ngu dân, tôn thờ lãnh tụ một cách tuyệt đối để Đảng dễ dàng tiếp tục cai trị. Sau ngày cộng sản Đông Âu và Liên Sô sụp đổ, vị trí ông Hồ được điều chỉnh để có thêm "tư tưởng," “hồn dân tộc” và còn nhiều “sáng tạo” ma mãnh xung quanh nhân vật lãnh tụ này. Hồ Chí Minh là sức sống tinh thần của Đảng, là lá bùa, là cái phao để Đảng dựa vào.

 

Bút Sử

8/2009


Một Chuỗi Dài Làm Tay Sai kể từ 19.8.1945

 

Khi thế chiến thứ hai bùng nổ, tình hình chính trị tại Việt Nam thay đổi không ngờ - sự  xuất hiện của Nhật Bản. Nhật đã đến Đông Dương, sau đó đảo chánh lật đổ Pháp rồi ra đi một cách nhanh chóng, để lại một khoảng trống chính trị bất ngờ, tạo cơ hội thuận tiện cho cuộc nổi dậy của Việt Minh và tiếp theo họ cướp chính quyền.

 

Mốc điểm quan trọng 1945

 

Nhật dần dần thất bại trước sức mạnh của phe Đồng Minh đứng đầu gồm Mỹ, Anh, Nga, Pháp. Lo sợ Pháp mở cửa cho quân đội Đồng Minh đổ bộ vào Đông Dương nên Nhật quyết định ra tay trước. Nhật đảo chánh Pháp làm chủ tình hình Đông Dương ngày 9 tháng 3, 1945.

 

 Chính phủ Trần Trọng Kim

 

Ngày hôm sau 10 tháng 3, 1945, cố vấn Nhật là Yokohama đến gặp vua Bảo Đại cho biết người Nhật quyết định trao trả độc lập cho Việt Nam để cùng nhau lập khối Đại Đông Á. Bảo Đại chấp thuận. Ngày 11 tháng 3, 1945 nhà vua xé hoà ước 1884, tuyên bố Việt Nam Độc Lập và gia nhập khối Đại Đông Á. Ngày 19 tháng 3, 1945 toàn thể nhân viên trong chính phủ Nam triều của Phạm Quỳnh từ chức. Bảo Đại kêu gọi nhân tài ra giúp nước. Cụ Trần Trọng Kim được mời  từ Thái Lan về thành lập chính phủ ngày 17 tháng 4, 1945. (Ban Giáo Khoa Sử Địa 12ab, nhà Xuất Bản Trường Thi, Saigon, 1974, trang 70)

 

Chính phủ gồm những nhà trí thức và chuyên viên: Trần Trọng Kim (Thủ Tướng), Trần Văn Chương (Ngọai Giao), Trần Đình Nam (Nội Vụ), Trịnh Đình Thảo (Tư Pháp, sau mới biết phe Việt Minh), Hoàng Xuân Hãn (Giáo Dục), Vũ Văn Hiền (Tài Chánh), Phan Anh (Thanh Niên), Lưu Văn Lang (Công Chánh, ở Saì gòn, không nhận chức), Vũ Ngọc Anh (Y Tế), Hồ Tá Khanh (Kinh Tế), Nguyễn Hữu Trí (Tiếp Tế).

 

Theo tài liệu lịch sử trên, chính phủ Trần Trọng Kim đã sửa đổi phương cách hành chánh để phù hợp với tình hình lúc đó. Ông đã điều chỉnh và hợp nhất hai chính quyền bảo hộ và Nam triều. Ông đã thay thế công chức Pháp bằng công chức Việt, ra lệnh cho dạy tiếng Việt tại các trường trung và tiểu học. Chương trình của chính phủ gồm luôn việc xúc tiến thống nhất pháp luật ba kỳ để tránh lạm quyền về hành chánh và tư pháp, tổ chức những đoàn thanh niên tiền phong, chiến dịch chống nạn đói v.v..

 

Việc làm và kế hoạch đang tiến hành; tuy nhiên chính phủ gặp trở ngại vì Nhật sắp bại trận và việc này ảnh hưởng tới sự điều hành của chính phủ. Nhật đầu hàng Đồng Minh ngày 16 tháng 8, 1945, sau vụ Mỹ thả bom nguyên tử tại Hiroshima ngày 6 tháng 8, 1945 và sau đó 3 ngày tại Nagasaki. Nhật trao phủ Toàn Quyền và các cơ quan hành chánh cho Khâm Sai Phan Kế Toại.

 

                                                                     

Ngày 17 tháng 8, 1945, Tổng Hội Công Chức họp mít tinh đòi Nhật trả độc lập thật sự trước nhà hát lớn ở Hà Nội. Trong khi các diễn giả hô hào dân chúng, các phần tử Việt Minh hạ cờ chính phủ Trần Trọng Kim, kêu gọi dân chúng ủng hộ mặt trận, biểu tình tuần hành. Ngày 19 tháng 8, 1945, cũng tại công trường nhà hát lớn, một cuộc biểu tình vĩ đại được Việt Minh tổ chức. Ngày hôm sau, Việt Minh chiếm cứ các công sở. (Sử Đia 12ab,trang 74)

 

Như vậy đã rõ, ngày 17 tháng 8, 1945, Việt Minh chỉ lai rai một nhóm nhỏ nhào vô bên trong nhà hát lớn hạ cờ vàng ba sọc đỏ (Cớ Quẻ Ly).  Hai ngày sau, 19 tháng 8, Việt Minh huy động dân chúng, hô hào “đuổi Pháp chống Nhật,” nhưng thật ra thì Tổng Hội Công Chức là nhóm tiên phong làm buổi mít tinh, Việt Minh nhảy vào cướp công và cướp luôn chính quyền.

 

Nếu Việt Minh là thành phần quốc gia thật sự muốn đóng góp vào việc xây dựng đất nước thì đã hợp tác với chính phủ Trần Trọng Kim. Việc thành lập chính phủ này là một bước đầu tiên để thay thế thể chế quân chủ sang quân chủ lập hiến, cũng giống như Nhật, Anh, Thái Lan và một số nước khác. Bằng chứng là  từ 1947 đã có Giải Pháp Bảo Đại, cựu hoàng Bảo Đại đã trở thành Quốc Trưởng Bảo Đại 1949, không phải vua Bảo Đại. Pháp lúc này không phải Pháp thực dân mà Pháp đương đầu với làn sóng đỏ của cộng sản.

 

                                                

  (Nguồn hình trên từ "Con Rồng Việt Nam." Dân chúng Saigon mít tinh, 1947, yêu cầu vua Bảo Đại trở lại chấp chinh. Hàng ngàn người với một rừng biểu ngữ qua các hàng chữ: Toàn Dân Việt Nam....Sức Mạnh Quốc Gia...Độc Lập Tự Do...)

 

Vua Bảo Đại đã tuyên bố Việt Nam Độc Lập, đã có chính phủ, hoà ước 1884 giữa Pháp và Việt Nam đã được xé trước quốc dân. Pháp đã ra đi, Nhật đã đầu hàng Đồng Minh cũng đã ra đi. Mọi việc coi như thuận lợi vô cùng cho việc củng cố tình hình chính trị, kinh tế, học đường, v.v...Hơn nữa và không kém quan trọng, sau khi thế chiến thứ hai kết thúc, tổng thống Hoa Kỳ Truman đã theo chính sách của cố tổng thống Roosevelt đề nghị thiết lập tại Đông Dương một chế độ giám hộ quốc tế để đi đến việc trao trả độc lập hoàn toàn cho Việt, Miên, Lào. Vào 1946 thì coi như tất cả các nước trên thế giới bị chính sách thuộc địa của Anh, Pháp, Tây Ban Nha...đã được trả lại độc lập. Chính phủ Pháp lãnh đạo bởi Felix Gouin, thuộc Đảng Xã Hội, trở về Việt Nam qua Hiệp Ước Sơ Bộ ngày 6 tháng 3, 1946 với vai trò tiếp trợ Hồ Chí Minh, không phải thực dân.

 

 Trở lại tháng 3, 1945. Đây là một cơ hội mà hàng trăm năm toàn dân mong muốn, thế nhưng âm mưu cướp chính quyền đã có trong não trạng của tập đoàn cộng sản lãnh đạo bởi Hồ Chí Minh từ ngày ông trở lại Việt Nam sau 30 năm hoạt động trong khối quốc tế cộng sản. Hồ Chí Minh đã được huấn luyện làm thế nào để cưóp chính quyền, phải tạo ra phong trào yêu nước mang nhãn hiệu “quốc gia.” Vấn đề ở đây là đa số người dân khi ủng hộ Việt Minh đã không biết rằng đó là bưóc đầu của một chế độ độc tài sắc máu, khi leo lên lưng cọp rồi thì không dám nhảy xuống. Một số khác thì theo cộng sản vì tin vào chủ thuyết một cách mù quáng, coi đó như lý tưởng. Đại đa số dân chúng lại mù chữ, như  ông Hồ đã từng nói mù chữ đến 95%, thì làm sao biết cộng sản là gì, họ lại bị cuốn theo làn sóng tuyên truyền gieo rắc lòng ganh ghét, thù hận giữa giai cấp giàu và nghèo trong xã hội.

 

Thời nay tâm lý trên không còn nữa. Tâm trạng của mỗi nhóm người đã thay đổi. Nói chung thì tất cả đã biết ra sự thật về tội ác mà Hồ Chí Minh đã làm đối với dân tộc và đất nước, về việc phản bội tổ quốc của tập đoàn trong bộ chính trị. Tuy thế, Đảng vẫn phải cố nặn ra hình tượng Hồ với bao mỹ từ cao đẹp, tôn thờ ông ta một cách tuyệt đối. Dù không nói ra, nhưng ai cũng biết Đảng dùng Hồ Chí Minh như lá bùa hộ mạng, như cái phao. Người ta thấy nhiều phong trào chống đối Đảng và nhà nước, nhưng tại sao chưa có một biến động gì làm thay đổi cuộc diện? Vấn đề này đã và đang có nhiều nhận định và phân tích trước nay.

 

Ngày 19 tháng 8, 1945, là ngày cộng sản miền Bắc từng hô hào là “ngày ta cướp chính quyền” thì ngay việc tuyên bố như vậy đã cho thấy họ không có chính nghĩa và lộ ra những giáo điều căn bản mà Hồ Chí Minh đã thu nhận được từ thuyết Marx Lenin. Bạo động để cướp chính quyền. Bạo động là một trong năm nguyên tắc căn bản của học thuyết cộng sản mà chắc chắn Hồ Chí Minh đã nằm lòng và áp dụng nó một cách triệt để.

 

Violence and force are the only means of achieving basic social change. Marx argued that basic changes in society can be brougtht about only through force and violence, and not through peaceful, constitutional means. (Two Ways of Life- Communist challenge to Democracy- page 95) – Bạo động và vũ lực là phương cách duy nhất cho việc thực hiện sự thay đổi xã hội một cách căn bản. Marx biện luận rằng những thay đổi căn bản trong xã hội có thể xảy ra chỉ bằng vũ lực và bạo động, không phải qua cách thức hòa bình hay lập hiến. Một cuốn sách đã được dùng trong các trường trung học tại Hoa Kỳ trong thời chiến tranh lạnh.

 

Sau khi cướp chính quyền rồi, nước cộng sản đàn em đứng trong vị thế nào? Họ có làm chủ được đất nước mình hay không? Việt Nam có thực sự độc lập không? Cưỡng chiếm bằng vũ lực xong miền Nam 4/1975, không bao lâu, Việt cộng răm rắp thi hành mệnh lệnh từ đàn anh Liên Sô, tấn công Campuchia với mộng nhuộm đỏ luôn Đông Dương. Lãnh đạo Việt cộng đã nướng và chôn hơn 50 ngàn bộ đội miền Nam để dâng cho đàn anh Liên Sô vĩ đại. Thế rồi theo thời gian làn sóng đỏ đã không được lan dần mà còn bị tan rã. Nay còn lại đàn anh môi hở răng lạnh Trung cộng, sống còn như một đảng mafia đỏ, Việt cộng dựa vào đó để nương thân, nuôi mafia đỏ Việt Nam.

 

Sự nô lệ này thật ra cũng nằm trong nguyên tắc của Lenin đã đề ra từ trước. Nó đã là một cái lệ mà Đảng Cộng Sản Việt Nam đã và đang theo một cách đều đặn, dù đi theo đàn anh Nga hay Tàu, Đảng cũng vẫn mang tâm thức đó.

 

He was convinced that workers lacked the capacity to think and act effectively for themselves; therefore they must follow the leadership of a small, elite group, the Communist party. (Two ways of Life, page 95) – Ông ta (Lenin), đã tin tưởng rằng những người hoạt động thiếu hẳn khả năng để suy nghĩ và hành động một cách hiệu quả cho chính họ, do đó họ phải tuân theo lãnh đạo của một nhóm nhỏ, nhóm tối ưu, đó là Đảng Cộng Sản.

 

 Đấy, chính ông thầy vĩ đại của cộng sản đàn em cho rằng những người hoạt động ở cấp dưới như Hồ không đủ khả năng suy nghĩ để làm việc có hiệu quả, nên bắt buộc phải nghe theo đàn anh. Thêm nữa, Stalin cũng đã gọi Hồ Chí Minh là “a communist troglodyte” - một tên cộng sản ngu dốt như người tiền sử. Những người cộng sản lãnh đạo của Hồ xem Hồ chỉ là kẻ thừa hành, chỉ biết thực thi lệnh cấp trên. Hồ Chí Minh và tập đoàn đã từng viết, từng ngạo mạn trong hằng ngàn cuốn sách ở Việt Nam rằng “Lenin là cẩm nang thần kỳ, ánh sáng chiếu rọi, Mao là mặt trời, là cứu tinh, là cây đại thụ, là ngọn hải đăng...” Dù bị khinh thường là kẻ vô tri thức, chỉ biết thừa hành nhưng Hồ Chí Minh và tập đoàn vẫn bằng lòng chấp nhận và sẵn sàng tuân thủ cấp trên.

 

Cấp trên ngày nay chính là Trung Cộng. Chuỗi dài những hiện tượng xảy ra từ ngày cộng sản cướp chính quyền 17 tháng 8, 1945, đến việc chia đôi đất nước, việc thực hiện chiến thuật Cải Cách Ruộng Đất, tạo ra cuộc chiến tranh tương tàn làm hằng triệu dân Việt mất mạng, tổng tấn công năm Mậu Thân, xâm lăng Campuchia, dâng hai đảo Hoàng Sa và Trường Sa cùng đất và biển cho Trung Cộng, đặc quyền kinh tế cho Trung Cộng v.v..., tất cả chỉ là cung cách nô lệ, làm tay sai một cách ngoan ngoãn và đắc lực, thực thi tất cả những gì đàn anh đề ra.

 

Ý thức rồi mới hành động. Nếu tuổi trẻ, lứa tuổi làm thay đổi cuộc diện trong nước, không biết hết sự thật và vẫn bị nhồi nhét những điều tuyên truyền xuyên tạc thì việc trông chờ vẫn còn đó. Tìm hiểu lịch sử một cách trung thực, ghi nhận, ghi lại những biến cố, hiện tượng, ngày tháng xảy ra, tên họ những ai làm gì, đối chiếu với những tài liệu khác, đó có phải là việc làm cần thiết mà thế hệ trung niên nên bắt tay vào. Thời hậu cộng sản, cả một hệ thống sẽ được thay thế. Một chuỗi dài những hành động bán nước hại dân, sẵn sàng làm chuyện phản quốc miễn sao quyền lợi ăn trên ngồi trước được bảo vệ lại được suy tôn là những nhà lãnh đạo, cai trị đất nước mãi sao?

 

Cái nôi Liên Sô sụp đổ sau hơn 70 năm cai trị, cộng sản độc tài tại Việt Nam đã trải qua hơn 34 năm trên toàn cõi đất nước. Ngày ấy sẽ đến, lâu hay mau tùy vào sự vận dụng của toàn dân trong và ngoài nước. 

 

Bút Sử

8/2009


UNESCO và vụ vinh danh HCM

 



UNESCO (United Nations Educational, Scientific, and Cultural Organization,) trụ sở chính tại Paris, Pháp, là một cơ quan của Liên Hiệp Quốc lo về lãnh vực liên hệ tới học vấn, khoa học, và văn hoá. Năm 1987, Cộng Sản Việt Nam , đại diện là cán bộ Võ Đông Giang đệ đơn lên UNESCO xin đề nghị tên tuổi Hồ Chí Minh vào danh sách "Các Danh Nhân Văn Hoá Thế Giới," và xin được làm lễ vinh danh vào ngày sinh nhật 100 tuổi của Hồ Chí Minh, 19/5/1990. UNESCO nhận đơn và định đưa ra một tài khoản cho Hà Nội để tổ chức buổi lễ công bố Hồ Chí Minh vào danh sách nếu xem ra ông Hồ xứng đáng. Nên ghi nhận là trong danh sách 6 người của thế giới thì Hồ Chí Minh là người duy nhất được cộng sản yêu cầu, không phải được mời, nằm trong danh sách. Trong khi bàn luận đi đến quyết định thì UNESCO bị phản ứng mạnh mẽ, nhất là khối người Việt tỵ nạn cộng sản tại Pháp và các nơi trên thế giới bắt đầu từ 1988.

Tại trước trụ sở UNESCO đã có những cuộc biểu tình, có khi lên đến cả ngàn người yêu cầu cơ quan hủy bỏ chương trình đề nghị này. Các tổ chức, hội đoàn, cá nhân khắp nơi đã đưa ra những bằng chứng về tội ác của Hồ Chí Minh: Cải Cách Ruộng Đất, Thảm Sát Mậu Thân v.v....Sau hiện tượng này, tháng 11, 1990, học giả Lê Hữu Mục đã cho ra một cuốn sách tựa "Hồ Chí Minh Không Phải là Tác Giả Ngục Trung Nhật Ký" Tác giả đã chứng minh và phân tích tỉ mỉ để đưa đến kết luận Hồ Chí Minh hoặc nhóm ban biên tập của Đảng đã thủ đoạn đạo thơ của một người Tàu, ông là tác giả thật của Ngục Trung Nhật Ký và cũng một thời bị tù tại Hongkong....

Thời điểm này cũng là lúc thế giới đang nhìn các quốc gia cộng sản đang trên đà nghiêng ngả .. . Hơn nữa, 1987 -1990 là giai đoạn mà thế giới còn đang kinh hoàng về "thảm trạng thuyền nhân" - tại các trại tỵ nạn ở Đông Nam Á, số người bị oan không được thanh lọc để được đi tỵ nạn càng lúc càng nhiều, một số đã tự sát chứ không chịu trở về Việt Nam sống dưới chế độ độc tài. Nói chung có ít nhất hơn nửa triệu mạng người đã chết trên biển đông vì tìm đường tự do, tính từ sau thời điểm 1975, theo tài liệu Liên Hiệp Quốc. Đó cũng để cho cơ quan UNESCO thấy rằng tội ác này do ai gây ra? Chế độ phi nhân này nguyên do chính vẫn là Hồ Chí Minh.

Một tài liệu chắc chắn được các tổ chức và cá nhân trong cộng đồng tỵ nạn đệ trình UNESCO là việc Hồ Chí Minh lấy bút danh Trần Dân Tiên tự ca ngợi cá nhân mình. Năm 1985, văn công (chuyên nghề viết sách đánh bóng ông Hồ và Đảng) Hà Minh Đức viết cuốn “Tác Phẩm Văn của Chủ Tịch Hồ Chí Minh.” Trong đó tác giả Hà Minh Đức đã tiết lộ Trần Dân Tiên, tác giả “Những Mẩu Chuyện Về Đời Hoạt Động của Hồ Chủ Tịch” chính là Hồ Chí Minh. Sách “Những Mẩu Chuyện...” này, xuất bản 1948, đã được dịch ra nhiều thứ tiếng mà ngay cả các nhà viết sử cận đại của thế giới cũng dựa vào. Đó là một điều đáng tiếc vì họ đã không biết thủ đoạn của ông Hồ.

Một hiện tượng rất quan trọng trong giai đoạn này là sự sụp đổ của khối cộng sản Đông Âu và bức tường Bá Linh. Trong nội bộ UNESCO có thành phần theo cánh tả vận động, nhưng cuối cùng thì UNESCO đã quyết định hủy bỏ việc cứu xét Hồ Chí Minh có phải là danh nhân văn hoá thế giới hay không. Ngày 12/5/1990, Toà Đại Sứ Cộng Sản tại Pháp thuê một phòng tại trụ sở UNESCO để tổ chức một buổi lễ trong nội bộ, gồm khoảng 70 "Việt Kiều Yêu Nước" và một số nhân viên Toà Đại Sứ Việt Cộng. Theo tài liệu trong bài viết “ Trả Lại Sự Thật Cho Lịch Sử” của Đại Dương, UNESCO không cho phép nhóm cộng sản này nhắc nhở đến tên “Hồ Chí Minh.” Thiệp mời có in hình Hồ họ phải đi làm lại. Lê Đức Thọ đang dưỡng bệnh tại Paris đến dự buổi họp bỏ tuí này rồi hình được mang về nước khoe là “Bác Hồ” đã được vinh danh là danh nhân văn hoá thế giới.

Không ngừng ở đó, sau vụ thất bại tại Pháp, một cán bộ khác tên Nguyễn Tiến Hữu tổ chức một buổi “vinh danh” tại Đức, cũng cố tuyên truyền cho là Hồ Chí Minh đã được Uỷ Ban về Văn Hoá của Liên Hiệp Quốc vinh danh.

Việc tuyên truyền Hồ Chí Minh là danh nhân văn hoá thế giới tới nay, năm 2009, vẫn còn tiếp diễn tại Việt Nam. Người ta tự hỏi: nếu Hồ Chí Minh được UNESCO vinh danh thì tại sao Đảng và Nhà Nước Cộng Sản không tổ chức lễ tiếp nhận văn bản từ UNESCO, hay làm copy văn bản đó để phổ biến trên mạng lưới toàn cầu, hay in ra trên sách báo cho mọi người cùng thấy? Chuyện gì chứ nếu có văn bản công nhận thật thì chắc chắn Đảng và Nhà Nước làm um sùm lên, từ hang cùng ngõ hẻm ai ai cũng phải biết tới. Chuyện không có làm thành có mà cộng sản còn tuyên truyền suốt ngày huống chi là chuyện có thật.

Bút Sử

Màu Sắc Chính Trị Trong Phim Mê Thảo

Chúng ta chắc đã một lần nghe qua một Trần Dần bị bỏ tù chỉ vì chữ “Người” trong bài thơ “Nhất Định Thắng”: “ ...Ôi ! Xưa nay Người vẫn thiếu tin Người. Người vẫn thường kinh hoảng trước tương lai...”, một Hoàng Cầm với bài “Lá Diêu Bông” không thể hiện nặng mùi châm biếm lại được giới trẻ ưa chuộng như một tâm thức lãng mạn, cả đời đi tìm chiếc lá nhưng không bao giờ gặp. Trong vài thập niên gần đây, chúng ta nghe nhiều đến nhà viết kịch Lưu Quang Vũ và vợ con của ông đã bị nhà nước cộng sản sát hại bằng một tai nạn lưu thông chỉ vì ông đã sáng tác ra “Hồn Trương Ba Da Hàng Thịt.”

 

Nói sơ qua như thế để thấy, sống dưới chế độ hà khắc cộng sản,  người ta không thể giải toả tâm tư của mình một cách chân thật qua lời nói hay trên chữ nghĩa, mà phải dùng một dạng khác qua hình ảnh, đối thoại,  hay bối cảnh v.v..

 

Mê Thảo ra đời không bình thường như bao nhiêu phim khác, và có lẽ nhà đạo diễn nữ Việt Linh đã chọn con đường không bằng phẳng này trước khi dứt nghiệp với hãng phim “SGP” sau rất nhiều năm cộng tác.Bà phải nộp đơn xin nghỉ việc khá lâu trước khi chính thức được "cho phép" nghỉ. Phim ra đời 2002 sau 10 năm dài ra công thực hiện. Nhà nước cộng sản Việt Nam cấm không cho phép phim dự trong các chương trình Liên Quan Phim Quốc Tế và cấm chiếu tại Việt Nam một năm đầu. Có tật giật mình chăng? Sau đó vài năm thì  Mê Thảo được phép cho công chúng xem và  được thế giới ngợi khen, được 2 giải thưởng của Ý và Pháp, cũng như nhiều người nhìn nhận phim có giá trị nghệ thuật cao.

 

Nhận xét là của riêng từng cá nhân khi xem phim, nhưng đã có hiện tượng “Hồn Trương Ba Da Hàng Thịt” xảy ra ở Việt Nam trong chế độ kiềm kẹp nên chúng ta có quyền phân tách nếu thấy rằng phim có những ẩn khuất đằng sau. Hơn nữa, cộng sản nhìn phim với cặp mắt khác thường và nỗi lo sợ nên cấm chiếu. Khi được phép chiếu thì có bị cắt đoạn nào không, và điều đó ra ngoài tầm hiểu biết của chúng ta.

 

Có quan niệm cho rằng đây là phim phóng tác từ tiểu thuyết Chùa Đàn của Nguyễn Tuân mà đã đi quá xa nội dung của tác giả, không thấy chỗ nào trong phim về cái không khí thần bí, quái rợn tại Chùa Đàn. Có người nhận xét Việt Linh đã biến nó thành một chuyện phim tình ái vô duyên. Lại có người thấy ra Mê Thảo ẩn chứa trạng thái tâm linh, triết lý Phật Giáo (nhóm Giao Điểm) v.v.. Người khen kẻ chê đó cũng là chuyện bình thường.

 

Ở đây chúng tôi xin trình bày quan điểm của mình qua khía cạnh lịch sử. Xem qua một lần không thể nhận biết hết những ẩn dụ trong phim mà đạo diễn đã xử dụng như:  năm, biểu tượng, lời nói, bối cảnh. Tất cả hàm chứa đầy màu sắc chính trị. Dĩ nhiên nghệ thuật không thể chứng minh như khoa học một cách hoàn toàn chính xác. Dừng lại ở một điểm nào đó để trình bày hết mọi vấn đề thì cái sáng tạo của con người chắc không còn nữa, mà hết sáng tạo là hết sức sống.

 

 Truyện ngắn Chùa Đàn ra đời năm 1946. Năm 1946 phải nói là năm vô cùng quan trọng trong lịch sử cận đại của đất nước Việt Nam. Hồ Chí Minh đã mang Pháp về hợp tác với mục đích bảo vệ quyền lợi của tập đoàn mà ông là lãnh đạo qua Hiệp Ước Sơ Bộ ngày 6/3/1946.  Sau đó, 9/1946, hai bên trở thành thù địch khi nước Pháp đã không nương tay với  Hồ Chí Minh, một thành viên quan trọng thuộc khối Đệ Tam Quốc Tế Cộng Sản.

 

Nguyễn chủ ấp Mê Thảo khởi đầu phim mặc quần áo kiểu Tây phương, ăn chơi sang trọng. Phim hiện rõ cảnh trẻ em cầm lồng đèn ra đường chứng tỏ vào giai đoạn mùa thu 1946 trùng hợp với sử liệu ghi trên.  Ít ngày sau thì người yêu của Nguyễn chết trên một chiếc xe do Pháp chế tạo nên Nguyễn đăm ra rối loạn và trở nên thù ghét Pháp. Người yêu của Nguyễn có tên là Út mà Nguyễn hay kêu tưởng nhớ rất nhiều lần trong phim. Út là ai? Út chưa bao giờ xuất hiện trong phim dù một cảnh quay cũ hai người có kỷ niệm với nhau. Nguyễn say mê đến độ tượng hình người yêu bằng khúc gỗ để ái ân. Không những hôn khúc gỗ Út mà còn âu yếm cả con chuột bạch đựng trong một hộp đỏ lòm. Ông Nguyễn không thể hiện tâm thức yêu thương chân thật hay bằng tâm hồn lãng mạn, cũng không thấy đam mê rạo rực của tình yêu, mà thấy khí sắc máu, ích kỷ, hận thù, ẩn chứa một cái gì trong nội trạng mà ông chưa giải toả được.

 

Tên thật của Lenin là Vladimir Ilyich Ulyanov. Vậy có phải Út là cách đọc tắc của Ulyanov? Còn con chuột? Nếu từ tiếng Nga Việt Linh cho ra tiếng Việt thì cũng có thể từ tiếng Anh Mouse (chuột) thành tiếng Mao, đảng trưởng Trung Cộng?

 

Ông Tam vì “hoàn cảnh” mà phải theo ông Nguyễn về làm cai quản ở ấp Mê Thảo. Ông chủ ấp Nguyễn hành hạ dân làng, tàn phá tất cả những gì có trước đó kể cả phong tục tập quán ngàn đời của tổ tiên để lại. Ông ra lệnh đốt kinh sách, và tất cả những gì gọi là văn minh. Một bà mẹ đang dệt vải than phiền “ Cơ khổ thế này buôn bán làm sao được, đi tới không muốn chỉ muốn lùi..” Một bà già khác chạy sau lưng các chú người làm của ông Nguyễn la to đòi lại đồ vật thờ cúng “Ối trời ơi, các chú ơi, nhà tôi có mỗi bộ đồ thờ để cúng ông bà...” Một ông cụ nói “Này chú coi, sách này có phải sách Tây Tàu gì đâu...” Một ông đang cuốc đất chôn rượu than: “Cứ nước này chẳng bao lâu nữa, Mê Thảo sẽ trở thành nghĩa địa bao la...Nhiều người đã bỏ đi...Ai đời đang buổi văn minh lại kéo nhau về thời xưa cổ...” Ông Tam: “Nhưng cậu chủ có nỗi niềm riêng!” “Đành thế, nhưng đừng đem nỗi riêng đổ trên vai ngưòi khác...”  Một ông cụ khác than với ông Tam: “Từng này tuổi tôi chưa thấy ai quay ngược bánh xe mà trường tồn được.”

 

Chỉ có chủ nghĩa cộng sản mới chủ trương giật lùi, ngu dân. Dẹp bỏ bàn thờ nằm trong chính sách vô tôn giáo. Đốt hết sách vở có giá trị để thay thế bằng những sách dạy những giáo điều không tưởng, những tư tưởng sáo rỗng. Đi ngược lại hết văn hoá và văn minh nhân loại thì không thể tồn tại lâu dài mà chứng minh hùng hồn nhất là cộng sản Đông Âu và Liên Sô đã sụp đổ.

 

Ông Tam cũng đã phải thét “Ông nhân danh tình yêu mà làm hại biết bao nhiêu ngườiTình yêu của ông Nguyễn ở đây chính là chủ thuyết Lenin mà hằng triệu cuốn sách của Đảng là bằng chứng. Ông Nguyễn này chính là Nguyễn Tất Thành, Nguyễn Ái Quốc và 1946 cũng là Nguyễn với tên giả khác là Hồ Chí Minh. Chỉ có Hồ Chí Minh mới nhân danh chủ nghĩa cộng sản và cài đặt vào đầu vào cổ dân tộc Việt Nam những điều ngoại lai vong bản, nhân danh chủ nghĩa Marx Lenin để tự tung tự tác, độc tài toàn trị . Trong lịch sử gần năm ngàn năm, chưa một nhân vật lãnh đạo nào “nhân danh tình yêu” có phải vậy không? Phim lãng mạn hay ái dục không thể có thứ “ngôn ngữ chính trị” như thế.

 

“Em chưa nhìn được món quà cưới của ta kia mà? Nàng không thể chết!”  Thật vậy, Hồ Chí Minh đang trong khí thế bừng bừng làm bằng mọi giá tiến lên “xã hội chủ nghĩa.” Món quà cưới đó có phải là mảnh đất Việt Nam bị nhuộm đỏ để dâng cho quốc tế cộng sản?  Chủ nghĩa cộng sản không thể chết trong lúc này, sau lưng ông còn cả khối cộng sản Liên Sô và Mao. Sau thế chiến thứ hai, cộng sản và quốc gia tách rời trong thế cộng sản bành trướng càng lúc càng mạnh bạo.

 

Với nét mặt hung tợn, một cách nhanh chóng, Nguyễn vươn súng bắn con búp bê nằm trong đống đồ vật sắp đốt tíc tắc sau khi cô Câm thò tay muốn lấy. Trẻ con khóc la um sùm. Hình ảnh đó cho thấy cái vô cùng ác của ông Nguyễn, con búp bê là món đồ chơi dễ thương mà ông còn nhẫn tâm đến thế. Ông bắt dân làng nộp hết thóc gạo, trâu bò, tất cả những gì có đều mang ra khai báo. Đó là nằm trong những gì mà chủ nghĩa Lenin đề ra khi áp dụng “cách mạng” nghĩa là thay đổi tất cả những gì đã có trước đó, mọi người đều nghèo ngang nhau, đem tài sản, của riêng dâng cho "hợp tác xã." Bởi vậy ông Nguyễn Chí Thiện có thơ rằng “...bàn tay thực dân hoá ra êm ả” khi sống dưới chế độ của “chủ tịch Hồ Chí Minh.”

 

Đến 1946 phải ghi nhận Hồ Chí Minh đã hoạt động theo đường lối cộng sản  hơn 26 năm. Ông đã từng được huấn luyện ở Nga trong trường Đảng và say mê chủ thuyết Marx Lenin, đến nỗi các đồng chí nước ngoài cũng phải cho ông cái danh là “saint” of communism, còn nghĩa đen Stalin gọi Hồ là “a communist troglodyte.” Lúc  này ông thấm nhuần và quyết theo mục tiêu đã đề ra. Ở Pháp vào tháng 9/1946, trước khi về Việt Nam, Hồ Chí Minh đã tuyên bố với Jean Sainteny và Marius Moutet: “Nếu các ông đánh thì chúng tôi chấp nhận đánh, nhưng các ông giết chúng tôi 10, chúng tôi giết các ông 1, và cuối cùng các ông là những người mệt mỏi...” Điều này cho thấy bản chất tàn bạo của ông Hồ. Vì tham vọng điên cuồng của cá nhân ông mà ông đã bất chấp hậu quả, mặc cho dân chúng ta thán, ông sẳn sàng dùng chính đồng bào của mình làm con vật hy sinh dẫn đường cho ông đạt tới mục đích tối hậu. Ông dùng mục đích để biện minh cho phương tiện.

 

Phải nói vai chính bên nữ là nhân vật cô Câm. Câm được nặn ra để nói lên vai trò người dân dưới chế độ cộng sản. Cô Câm nói không được nhưng biết hết những gì ông Nguyễn làm. Cô thường lo lắng săn sóc ông Nguyễn, thầm yêu ông Nguyễn, nhưng ông ta lúc nào cũng Út Út...

 

Chủ ấp Nguyễn còn ra lệnh cho dân chuyên chở cây phượng đỏ từ xa về trồng tại ấp. Việc làm này vô cùng cực nhọc. “Cây mất rễ sống sao được...nghe bảo trước đây mợ chủ rất thích cây này, nhân lễ trăm ngày cậu muốn tỏ lòng thương nhớ..,.” Một người khác tiếp: “Đấy đấy, một người muốn thương, trăm người vất vả...” Phượng đỏ là biểu tượng cộng sản. Gốc cây phượng lại đắp bằng những cánh bèo do dân làng đổ xuống hàm ý chủ nghĩa không thể tồn tại lâu dài. Thật vậy, sau đó cây phượng rụng lá khô dần rồi chết... Ông Nguyễn buồn nãn khi nhìn thấy con chim bồ câu mà ông yêu quý nằm lăn ra chết. Chim bồ câu cũng là biểu tượng cộng sản mà họ hay dùng tuyên truyền các nơi. Cộng sản luôn kêu gọi hoà bình trong tư  thế chiến tranh, đàn áp, khủng bố.

 

Vụ đèn trời trong phim là một bối cảnh lý thú dễ cho người xem thấy ẩn ý của người làm phim. Ông Nguyễn nhất định đốt đèn trời mặc dù những cụ già hiểu phép tắc phong tục khuyên can không nên làm. Các cụ bảo đèn của ông đốt lên mà vội tắt thì vận mệnh ông sẽ bị xui. Cuối cùng thì đèn trời thật to có mảng đỏ vừa đốt lên một chút đã bị rơi xuống liền, trong khi nhiều đèn trời màu xanh khác của dân chúng vẫn tiếp tục bay lên trông rất đẹp. Mảng đỏ chính là cờ đỏ.

 

Cô Câm một ngày nọ lén đánh cắp khúc gỗ tượng hình Út. Cô cột dây lôi đi quăng xuống sông. Câm đã bị ông chủ ấp trừng phạt bằng cách “bỏ rọ trôi sông.” Bỏ rọ trôi sông là hình thức khủng bố và giết người thường xảy ra dưới thời lãnh tụ Hồ Chí Minh mà học giả Hoàng Văn Chí có đề cập trong “Từ Thực Dân đến Cộng Sản.”

 

Đến lúc bệnh hoạn và tinh thần quá suy nhược thì ông Nguyễn lại muốn Tam đưa ông về Nam Định để nghe lại tiếng hát cô ả đào tên Tơ. Nhà cô Tơ nằm ngay giữa giòng sông có một đường ngăn như giữa Nam và Bắc mà cô là người của phía Nam. Ngoài sân có bàn ông Thiên, có con cò trắng. Hình ảnh bàn thờ ông Thiên với nải chuối và con cò trắng người xem cảm nhận ngay khung cảnh miền Nam. Hai bên bờ đá ngăn chia giòng nước, những cánh phượng đỏ rụng rơi tản mác trên sông xuôi chảy về Nam. Có phải ngụ ý giòng sông Bến Hải? Hai em bé là người láng giềng của cô Tơ đang ngồi bên sông. Khi ông Tam nói ông cũng là người cùng xóm thì cô bé nói ngay:" Ông nói điêu, ở đây chỉ có hai nhà thôi."  Có phải hai nhà đây là một bên Bắc, một bên Nam?

 

Ông Nguyễn được khiêng trên một cái võng đỏ đi trên đường rừng núi có lối mòn. Tại sao lúc nào ông cũng kêu tên nàng Út mà gần chết thì lại nhớ tiếng hát cô Tơ? Trước đây ông đã có lần cùng ông Tam và cô Tơ đàn ca ngâm xướng, cũng là nơi mà ông Nguyễn trở thành ngưòi ơn của ông Tam vì một tai nạn mà ông Tam có thể bị Pháp bắt. “Ta thèm nghe cô ấy hát, thèm như bị khát...” Ông Nguyễn thèm như bị khát chớ không phải nhớ! Cái ước muốn vô cùng trước khi chết. Thèm như khát thể hiện cái đòi hỏi của vật chất, không phải là cái ham muốn cuồng nhiệt trong tình yêu trai gái khi muốn gặp cô Tơ. Không ai phủ nhận là Hồ Chí Minh trước khi chết bằng mọi cách phải dốc toàn lực tấn công miền Nam vì ông “thèm” miền Nam lắm. Kết quả của hành động thèm này là có hàng ngàn dân miền Nam đã bị sát hại năm Mậu Thân, nhất là tại Huế.

 

Cô Tơ đã nói với ông Tam (hai ngưòi trước kia là tình nhân) là nếu người nào dùng cây đàn của chồng cô đàn cho cô hát thì sẽ bị hồn thiêng của chồng làm cho chết, nhưng ông Tam bất chấp. Tam cho rằng thà chết bên cô Tơ còn ý nghĩa hơn bên ông Nguyễn. Hát vì ông Nguyễn yêu cầu, nhưng Tơ hướng lòng về  Tam với những giây phút cảm động tuyệt vời. Ông Nguyễn nằm bên trong nghe cô hát với nét mặt đầy suy tư... Cô ngâm những câu thơ tiền chiến gói ghém trọn tâm tình. ..”Anh hãy đi đi... chân cứng đá mềm...” có phải nói lên cái ý chí gì đó? Cuối cùng thì ông Tam gục chết bên cây đàn! Diễn tả thật xuất sắc của Tơ và Tam trong màn chót mà số đông khán giả ngoại quốc ghi nhận.

 

Sau khi Tam chết, trên đường về Mê Thảo, ông Nguyễn thấy dân làng cùng ngưòi Pháp xây đường rầy xe lửa. Họ ca hát nhảy muá. Nguyễn gục chết nơi những bình rượu bốc cháy. Trước khi chết, ông tỏ ra có một chút nhân bản khi nói với số người còn trung thành sát cánh bên ông: “Mọi sự mê muội phải trả giá. Bóng tối làm ra địa ngục. Nhưng ánh sáng cũng không luôn luôn đồng nghĩa với thiên đường.”

 

Một kết thúc có hậu mà một ngưòi đạo diễn giỏi phải như thế. Nhưng cái gì trong vài giây phút chót của phim đọng lại trong tâm trí người xem? Đó là hình ảnh cô Câm đứng với cái nhìn còn đau khổ! Có phải ngày nay sau khi ông Hồ đã chết gần 40 năm, nước Việt Nam vẫn còn có hơn 80 triệu cô Câm? Có phải vẫn còn có những bà mẹ uất ức không làm gì được chỉ biết vả đít con? Có miệng mà như câm, nói không được những điều mình muốn nói.

 

Chuyện phim được hư cấu với những tình tiết để đưa lên những ý nghĩa đằng sau nên về thời gian tính không thể cho thấy một cách mạch lạc được, nhưng dù sao cái mốc chính vẫn là 1946.

 

Phim được giới thiệu ra mắt tại Việt Nam và Đơn Dương đã không được mời tham dự. Có những tin tức cho rằng Đơn Dương bị nhà nước cộng sản ghép vào tội “phản quốc” khi cũng vào năm 2002 “We Were Soldiers” ra đời trong đó Đơn Dương đóng với tài tử Mỹ Mel Gibson. Bị ghép vào tội này vỉ Đơn Dương cầm lá cờ Hoa Kỳ một cách trân trọng. Còn tội của Đơn Dương trong phim Mê Thảo thì sao mà họ không cho Đơn Dương xuất hiện? Sau đó lại cho công an đến chỗ làm của Đơn Dương hạch sách hăm doạ đến nỗi người tài tử này phải nhờ đến Mel Gibson giúp để được bốc ra khỏi Việt Nam cấp tốc 2003. Trong một cuộc phỏng vấn gần đây nhất, Đơn Dương có nói: "Câu chuyện của tôi, trong một lý do nào đó, phía bên Việt Nam kết án tôi, và tôi phải từ bỏ sự nghiệp điện ảnh của tôi."

 

Đơn Dương trong vai Tam giống như người đứng giữa? Tam vì hoàn cảnh mà phải theo ông Nguyễn và phải làm theo lệnh của ông ta. Vai trò Tam có phải ví như ông Nguyễn Tường Tam?  Vào 5/1946 ông Tam được sắp xết cùng Phạm Văn Đồng qua Pháp dự hội nghị tại Fontainebleau, nhưng sau đó rút ra và lẫn trốn không hợp tác với Việt Minh nữa. Về sau ông Tam làm việc với phe quốc gia, nhưng có khi ông còn bị nghi ngờ. Ông nằm trong “chính phủ liên hiệp” (có quốc gia có cộng sản) cũng vì trong cái thế bắt buộc mà thôi.

 

Có thể nói Dũng Nhi trong vai ông Nguyễn đã thể hiện gần như trọn vẹn vai trò vô cảm độc ác, một ước muốn khao khát chưa giải toả được ông Nguyễn đã phải mang về gặp Út  ở cõi âm ty. Giờ chót sắp ra đi ông Hồ viết di chúc “fòng khi tôi sẽ đi gặp cụ Mao, Mac, cụ Lênin...” Ông Hồ yêu các ông tổ cộng sản đó đâu khác gì ông Nguyễn trong Mê Thảo yêu Út (Ulyanov) một cách “cực kỳ” điên loạn.

 

Về đạo diễn Việt Linh. Một người phụ nữ thông minh, tài trí. Khi hiểu sơ qua tiểu sử của bà chúng ta mới nhìn thấy rõ hơn cái thông điệp bà để lại trong phim. Theo tin báo cộng sản trong nước qua các bài phỏng vấn, bà chánh gốc miền Nam. Năm 16 tuổi  mẹ bà bỏ chồng, bà theo cha vào “khu kháng chiến.” Cha bà là một “cán bộ chủ chốt của điện ảnh miền Nam.” Từ 1979-1985 bà du học tại Liên Sô với khoa đạo diễn. Bà có nói rằng lúc nhỏ khi biết mẹ bà bỏ chồng, bà rất oán ghét mẹ, nhưng về sau hiểu ra bà vô cùng ân hận. Tuyên bố này có phải đồng nghĩa với việc cho rằng người cha theo cộng sản nên mẹ bỏ cha là phải.

 

Một điểm đặc biệt nữa đáng nói về Việt Linh là báo chí trong nước nói chung rất tán thưởng ca ngợi bà về tài năng; tuy nhiên, xét về nội dung thì họ hay bình luận cho rằng đa phần những phim bà làm ra hay có “vấn đề,” nhất là tờ “Đoàn Kết” bên Pháp, tờ báo của “Việt kiều yêu nước.” Lên án bà thẳng thắn thì cũng kẹt vì tất cả phim đã kiểm duyệt trước khi ra mắt. Nếu sau đó duyệt lại thấy có “vấn đề” thì hại bà kiểu Lưu Quang Vũ cũng không phải dễ vì bà đi đi về về hai quốc gia Pháp và Việt Nam. Gánh Xiếc Rong, 1988, là chuyện phim châm biếm chế độ và một vài phim khác. Bà cũng hay viết bài đăng trên báo chỉ trích du học sinh con của những đảng viên giàu có, và những bất công trong xã hội Việt Nam ngày nay. Bà từ chối không trả lời phỏng vấn trên các đài truyền thông hải ngoại có lẽ cũng dễ hiểu.

 

Cái kinh dị của Chùa Đàn khác xa cái dị thường trong Mê Thảo, nhưng khi hỏi con trai của Nguyễn Tuân, Nguyễn Xuân Đào, thì ông này lại cho rằng rất đúng ý của Nguyễn Tuân. Được biết  truyện ngắn Chùa Đàn được điều chỉnh vài lần sau này trước khi công chúng tiếp nhận một cách công khai, và trước đó bị cấm tại miền Bắc sau lần in đầu tiên 1946 với lý do “duy tâm phản động.”

  

Bút Sử

7/2009


Cũ Rích Đầy Mâu Thuẫn

Sau ngày DVD “Sự Thật về Hồ Chí Minh” của Phong Trào Quốc Dân Đòi Trả Tên Saigon ra đời, đã có một vài bài viết liên quan tới DVD đăng trên các trang mạng của báo Đảng. Mục đích của bài viết là để đối kháng lại nội dung trong phim; tuy nhiên, sau khi xem qua, người ta không nhận ra điểm đối chiếu nào có tính thuyết phục, bởi vì đó cũng chỉ là những luận điệu suông, không đưa ra dẫn chứng một cách cụ thể.

 

Gần đây nhất là bài của ông Lê Trọng Văn. Thật ra, chỉ một cái tựa “Toàn dân Việt Nam nhớ ơn Bác Hồ đời đời” đã tự đưa ra tính chủ quan và áp đặt. Nếu toàn dân đã có ý như vậy thì hoá ra ông cựu thủ tướng cộng sản Võ Văn Kiệt đã nhận xét cho rằng sau khi cộng sản cướp lấy xong miền Nam thì “hàng triệu người vui cũng có hàng triệu người buồn” là sai lầm sao?  Ông Kiệt đã không dám “mở mắt” thật sự, nhưng chỉ hé ra một chút ánh sáng cho cuộc đời còn lại của ông. Biết đâu cũng vì câu nói để đời đó mà quãng đời cuối của ông đã không được yên thân. Theo tin RFA và SBTN, có nghi vấn là phe đảng miền Bắc đã ngấm ngầm cho tiêm một mũi thuốc khi ông nằm bệnh viện tại Saigon. Sau đó ông được đưa sang Singapore và chết nơi ấy với khám nghiệm trong người có thuốc độc. Có phải ông Kiệt đã mất mạng vì đã đi hơi chuyệch hướng, quên ca bài “nhất trí” và khẩu hiệu “toàn dân.” Ông lại dám phân biệt hai khối người rõ rệt, và đó là kết quả của những gì Hồ Chí Minh đã làm ra.

 

 Không hiểu tại sao ông Văn đề cao "toàn dân" Việt Nam đang bám chặt vào thành trì xã hội chủ nghĩa, "toàn dân" nhớ ơn “Bác” vì “Bác” đã có công dựng nên cái xã hội thiên đường đó, mà ông Văn không ở lại Việt Nam sinh sống với "toàn dân"? Ông phải nên sống ở Việt Nam để chứng nghiệm thực tế cuộc sống “tốt đẹp” do công ơn của “Bác Hồ” dựng nên thì bài viết ca tụng “Bác” có thể giá trị hơn.

 

 Người ta từng nghe lối bày tỏ “tôi chỉ là người Việt Nam bình thường như mọi người Việt Nam khác biết yêu thương quê hương và nòi giống Lạc Hồng. Tôi không phải là đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam hay hội viên của bất cứ tổ chức chính trị nào.” Ông Văn không phải đảng viên cộng sản và đang ở California, Hoa Kỳ, coi như tiểu bang đại diện cho người tỵ nạn cộng sản tại hải ngoại, ông lại tôn thờ lãnh tụ cộng sản Hồ không khác những bồi bút trong nước nhan nhãn trên hàng triệu cuốn sách và hàng trăm tờ báo do Đảng kiểm soát. Luận điệu như vậy có thuyết phục được người đọc không?

 

 Dù ông Văn đang đóng một vai trò gì hay đang thực hành một nhiệm vụ gì đó, ở đây bài này muốn vạch rõ những sơ hở trầm trọng trong bài viết có tính giáo điều, nói suông của ông.  Bài viết của ông là một trong hằng ngàn bài viết có hơi hướng giống nhau, ngôn ngữ giống nhau, luận điều giống nhau mà người dân trong nước đã bị nghe bị đọc dù muốn dù không. Tôi được may mắn không nằm trong “toàn dân” đó nên mới có cơ hội đối phó lại, và mong có những người tìm đến nhau đọc thông tin nhiều chiều trên internet để tự đưa ra cho mình một nhận xét riêng.

 

 Lê Trọng Văn cho rằng lý do ông viết bài trên vì “Hồ Chí Minh không những là lãnh tụ riêng của Việt Nam mà đích thực Hồ Chí Minh là vĩ nhân của thế giới.” Hồ Chí Minh là lãnh tụ của cộng sản Việt Nam thì không sai. Hồ là người của thế giới cũng không sai, và chính cá nhân Hồ đã góp phần vào tội ác mà nhân loại thế giới phải kinh hoàng với con số trên 100 triệu mạng ngưòi chết do cộng sản gây ra. Còn vĩ nhân? Ngoài sách báo cộng sản Việt Nam, chưa ai ca tụng Hồ Chí Minh là vĩ nhân, ngay cả những ông tổ cộng sản của Hồ như Stalin còn đặt cho Hồ một biệt danh “người cộng sản ngu dốt.” Tác giả William Duiker trong "Ho Chi Minh A Life" cho rằng Hồ chưa hề có tư tưởng gì cả so với những chính trị gia thế giới khác.

 

 Càng ngày ngưòi dân trong nước càng hiểu thêm về tội ác của ông Hồ và Đảng nên mới có những vụ bắt bớ những chủ nhân các blogs. Mới đây nhất công an đã ngang nhiên hành hung vợ chồng nhà văn Trần Khải Thanh Thuỷ ngay lúc ban ngày bất chấp dư luận.Thế nhưng Đảng vẫn còn tin vào những thành phần Đảng đang cai trị theo chính sách ngu dân, nên mới có những con người làm công tác “thuộc bài” như Lê Trọng Văn. Xét ra, bài viết của ông Văn có lẽ muốn cho ngưòi đọc thấy ra góc phản chiếu 180 độ đối với những gì trong DVD “Sự Thật về Hồ Chí Minh.” Phim chỉ đưa ra những sự thật về ông Hồ một cách rất khoa học, có dẫn chứng, có tài liệu, có nhân chứng sống...Người xem xong phim tự đánh giá trị con người Hồ Chí Minh. Sử gia, học giả, nhà báo, cựu đảng viên, sinh viên - không ai có một câu áp đặt nào, mà họ chỉ trình bày và đưa ra nhận xét.

 

 Mưa lâu thấm đất, cũng như Hồ Chí Minh đã từng dạy cán bộ: “Các chú cứ nói láo. Nói láo mãi rồi cũng có người tin là như vậy.”  Đảng “giáo dục” dân lúc nào cũng phải nghe theo Đảng. Dù không tin Đảng, nhưng trong hoàn cảnh bị nhồi nhét, bị tẩy não, nhất là kế hoạch làm nhục chí, chỉ biết quay quần với miếng ăn, vui chơi, không quan tâm tới những sinh hoạt chính trị. Vì thế mà có những điều xem ra sơ đẳng ở những xã hội văn minh, nhưng ở Việt Nam có những người dân chưa nhận ra được như quyền làm người, một thứ quyền thiêng liêng mà thượng đế đã ban cho. Đó là quyền được phát biểu, quyền được tự do đi lại, quyền được có đời sống tinh thần, quyền được mưu cầu vật chất, v.v..

 

 Ông Lê Trọng Văn (giống như nhiều bồi bút khác của Đảng) dùng nhiều sáo ngữ hay danh từ dao to búa lớn: “sự nghiệp cách mạng, toàn dân đoàn kết kháng chiến giành độc lập, tiên phong trong công cuộc giải phóng dân tộc...” Cần thiết hay không để giải thích ý nghĩa của những từ này đi đôi với hoàn cảnh đất nước trong giai đoạn đó?

 

Cách mạng. Cách mạng, theo đúng nghĩa, là thay đổi từ tình trạng xấu thành tốt hơn. Người cộng sản hay tự cho mình là có “sự nghiệp cách mạng” để nói lên rằng đó là một cái nghề toàn thời gian chuyên làm chuyện thay đổi, mà cái nghề này là theo cách của Lenin chỉ dạy - chuyên nghiệp (full-time professional revolutionary). Cách mạng của cộng sản thuần tuý là đạp đổ, xoá bỏ hoàn toàn những hệ thống, những gì đã có sẵn dù mang giá trị vĩnh viễn như tôn giáo, phong tục tập quán.

 

 Kháng chiến giành độc lập. Cộng sản muốn nói tới cuộc chiến tranh chống Pháp của Việt Minh và họ xem đó là một lý do nổi cộm nhất để đưa Hồ Chí Minh thành người có công lao với dân tộc Việt Nam. Phân tách kỹ lưỡng về những giai đoạn và hiện tượng xảy ra trong thời gian Việt Minh có chiến tranh với Pháp, chúng ta mới thấy rõ Hồ Chí Minh không có chủ trương chống Pháp mà ngược lại còn yêu cầu Pháp trở lại Việt Nam để cùng phe Hồ cai trị. Chứng minh rõ rệt nhất là Hiệp Ước Sơ Bộ giữa Hồ Chí Minh và đại diện Pháp Jean Sainteny, ký ngày 6/3/1946, đã cho phép 15 ngàn quân Pháp đổ tại Hải Phòng rồi tiến chiếm miền Bắc và sau đó Pháp cùng Việt Minh triệt hạ các đảng phái quốc gia. Lúc này Hồ đã bị dân gian kêu tên là "Hồ Chí Minh bán nước" mà chính Trần Dân Tiên (bút danh của Hồ Chí Minh) đã cố gắng biện hộ trong lập luận yếu ớt, khập khễnh. Nhưng rồi Hiệp Ước này chỉ áp dụng được 3 tháng thì chính trường bên Pháp thay đổi - Đảng Xã Hội và Đảng Cộng Sản Pháp đã không còn nắm quyền quốc hội nữa. Chính phủ Pháp đã tuyên bố chiến tranh với phe Hồ Chí Minh ngay khi Hồ có mặt tại Pháp trong lúc tổ chức hội nghị tại Fontainebleau từ 7-9/ 1946. Lý do của cuộc chiến này không gì hơn là chống lại làn sóng cộng sản mà Hồ Chí Minh là thủ lãnh. Cuộc chiến bùng nổ thật sự 19/12/1946. Ông Hồ trong thế chống đỡ. Từ tư thế van xin được đứng chung với Pháp, muốn Pháp trở về Việt Nam cai trị sang tư thế là kẻ đối thủ, ông kêu gọi toàn dân cùng ông chống Pháp với chiêu bài Pháp “xâm lược.”

 

Mặc dù Pháp đã thua Việt Minh trận Điện Biên Phủ 5/1954, nhưng cuộc chiến tranh ý thức hệ còn tiếp diễn cho tới 30/4/1975. Không thể có cái gọi là “kháng chiến giành độc lập  Hơn nữa, trong năm 1946 này Pháp cũng như các nước Âu Châu có thuộc điạ coi như đã theo chính sách của cố tổng thống Hoa Kỳ F.D. Roosevelt trao trả độc lập cho tất cả các nước bị thuộc địa.

 

 Ông Lê Trọng Văn đã ghi ra 10 cuốn sách viết về Hồ Chí Minh của các tác giả như Pierre Brocheux, Peter A Decaro, William Duiker, Charles Fenn, Jean Lacouture...và có vẻ tỏ ra hiểu sâu rộng vì đã nghiên cứu những sách này. Không biết ông Văn có đọc qua những dòng sau đây của ông Brocheux trong “Biography of Ho Chi Minh”, (trang 122):

 He wrote daily about where he went, what he did, and whom he met (without personal comments about the people, however). He also noted international events that were important to him, like the declaration of independence in the Philippines in July 1946 and the U.S. atomic tests on Bikini Atoll. But was it through ignorance or courtesy that he failed to mention the French evacuation of Lebanon and Syria in 1946, when France was forced to give up his colonialist claims in the Middle East?

Ông ta (Hồ) viết mỗi ngày nơi ông đã đi qua, ông đã làm gì, và những ai ông đã gặp ( tuy nhiên, ông lại không ghi những ý kiến của những người này). Ông ta đồng thời ghi nhận những hiện tượng quan trọng đối với ông, như ngày độc lập của Philippines vào tháng 7/1946 và vụ thử nguyên tử tại Bikini Atoll của Mỹ. Nhưng mà vì ngu dốt hay tế nhị mà ông ta đã không ghi ra việc Pháp rút khỏi Lebanon và Syria vào năm 1946, khi Pháp bị áp lực từ bỏ những quyền lợi thực dân tại Trung Đông?

 Thật vậy, 4 tháng ở Pháp từ 6-9/1946, Hồ Chí Minh đã gặp rất nhiều người, đa số là những bạn bè và thành viên cộng sản để yêu cầu vận động với chính phủ Pháp công nhận ông ta là chủ tịch của “Việt Nam Dân Chủ Cộng Hoà” và bằng lòng về Việt Nam hợp tác với Việt Minh để cùng hưởng lợi, nhưng tất cả đã quay lưng lại với Hồ cùng những lời từ chối thẳng thắn. Quốc hội Pháp do thành phần cứng rắn nắm quyền nên những cá nhân cộng sản này cũng không làm gì được để giúp người lãnh tụ cộng sản Hồ Chí Minh.

 

Như trên, thủ đoạn của Hồ Chí Minh bị Brocheux vạch trần khi nhắc tới vụ Pháp trả độc lập cho Lebanon và Syria vào 1946 mà Hồ cố tình không nhắc tới, bởi vì nếu nêu ra hành động không còn thực dân của Pháp thì lấy cớ gì để kêu gọi toàn dân chống Pháp? Còn hành động thân Pháp cộng trước đó thì Hồ lại lý luận lấp liếm là “cầu hoà” không muốn chiến tranh. Gian manh đến mức nhiều sách báo Đảng và trong bài viết của ông Văn cho rằng chính Hồ Chí Minh là người tiên phong đánh thực dân Pháp nên các nước khác mới được trả độc lập!

 

Lê Trọng Văn đã đọc sách của William Duiker như ông ta đã ghi ra. Vậy, ông Văn có thấy hình ảnh Hồ Chí Minh với gương mặt lo sợ (nói theo văn phong của Đảng là cực kỳ lo sợ) chụp chung với Jean Sainteny tại phi trường bên Pháp trên đường đi vận động liên quan tới hội nghị tại Fontainebleau. Hồ đã đoán biết tình hình chính phủ Pháp đang thay đổi thành phần lãnh đạo, họ sẽ thẳng tay trừng trị cộng sản.

 

Ho Chi Minh A Life by William Duiker, (page 426): In early June 1946, the French representative Jean Sainteny escorted Ho Chi Minh from Biarritz to Paris to attend the peace conference at Fontainebleau. Here Ho and Sainteny await the arrival of their plane at the airport in Paris. Sainteny, in his memoirs, noted that Ho Chi Minh appeared exceptionally nervous on the occasion.

Vào đầu tháng 6, 1946, đại diện Pháp Jean Sainteny hộ tống Hồ Chí Minh từ Biarritz tới Paris để dự hội nghị hoà bình tại Fontainebleau. Tại đây Hồ và Sainteny chờ chuyến bay tại phi trường ở Paris. Sainteny, trong cuốn sách hồi ký, đã ghi nhận rằng Hồ Chí Minh tỏ ra rất lo sợ một cách lạ thường trên những vấn đề đang xảy ra tại hội nghị Fontainebleau.

 

Trong hồi ký của Sainteny, ông diễn tả nét “cực kỳ lo sợ” (exceptionally nervous) của Hồ Chí Minh đi đôi với tấm hình chúng ta thấy ở trên. Như vậy thì xác quyết là cuộc chiến tranh giữa Pháp và phe Việt Minh của Hồ Chí Minh không thể gọi là “kháng chiến” hay “giành độc lập” gì cả. Hồ Chí Minh trong thế bị tấn công bởi vì ông là một lãnh tụ cộng sản, nguy cơ cho nền an ninh của khối tự do. Đơn giản có vậy!

 

Hơn nữa, nói tới “độc lập” theo lối cộng sản thì thật là mỉa mai! Hồ Chí Minh đã là tay sai đắc lực của Nga Tàu kể từ khi là thành viên của cộng sản đệ tam quốc tế. Hệ luỵ ông để lại và di sản là Đảng Cộng Sản Việt Nam độc tài toàn trị, tàn phá đất nước, áp bức dân tộc. Sau hơn 34 năm thống trị toàn cõi lãnh thổ, Đảng lệ thuộc Trung Cộng càng lúc càng nặng nề hơn: Đảng dâng đất nhượng biển, hiến đảo Hoàng Sa-Trường Sa, cho người Tàu vào khai thác Bauxit gây thiệt hại môi trường cũng như lợi thế chính trị của người chiếm giữ, hàng hoá Tàu thì tràn ngập thị trường. Thế nhưng mỗi ngày báo Đảng, đài Đảng, sách Đảng, cộng thêm thành phần "Việt kiều" như Lê Trọng Văn vẫn không ngớt hô la hai chữ “độc lập.”

 

Giải phóng dân tộc (Liberate the people, set free).  Giải phóng dân tộc là giúp người dân của một quốc gia thoát khỏi áp bức để họ được tự do, một nguyên tắc căn bản rất dễ hiểu. Với ngưòi cộng sản thì lại khác, họ hay hãm hiếp ngôn ngữ. Áp đặt vào đầu vào cổ dân một chủ nghĩa vô nhân bản, tước đoạt tất cả quyền làm người của toàn dân thì được gọi là “giải phóng dân tộc.” Độc tài lại đi “giải phóng” tự do?

 

 Để đối phó lại những trình bày tố giác tội ác của Hồ Chí Minh và Đảng đối với đất nước và dân tộc, người cộng sản nghĩ ra phương cách, nhất là nhắm vào tâm lý quần chúng. Bài học là dùng “nhân dân, dân tộc” như một cái cớ. Cái gì cũng gán ghép “nhân dân” vào để che lấp đường lối xem nhân dân là thù địch. Người ta cũng thường nghe những công an mạng hay cán bộ Đảng nói chuyện trên các diễn đàn Paltalk cố tình làm cho người dân trong nước có ác cảm với người Việt hải ngoại: “các người chống dân tộc, chống người dân trong nước...” Đó cũng là luận điệu của Lê Trọng Văn trong bài viết của ông ta.

 

Ông Văn cho rằng người Việt hải ngoại sống với quá khứ cũng là lối áp đặt vô cớ. Thật ra, chính Đảng Cộng Sản mượn quá khứ và hình ảnh cùng thân xác Hồ Chí Minh tại Ba Đình làm bùa hộ mạng, đặt để cho một chuyên viên hành động thành người có tư tưởng. Nhiều huyền thoại quá về Hồ Chí Minh! Một nhà văn nữ trong nước từng là đảng viên gương mẫu, Dương Thu Hương, đã giản dị hoá cho người ta dễ hiểu về mức độ Đảng “say mê” ông Hồ: Đảng làm tình với một xác chết!  Đảng không có chính nghĩa để bám víu. Khô khan và kém cỏi đến nỗi họ chỉ còn dùng vũ lực là hành trang hàng đầu để cai trị dân.

 

Ông Văn viết bài chống lại DVD của nhóm linh mục Nguyễn Hữu Lễ, trong đó có phần trình bày và chứng minh UNESCO chưa hề vinh danh Hồ Chí Minh. Ông đã không đối chứng lại mà viết suông, na ná luận điệu trong hàng ngàn bài viết ca ngợi Hồ trong nước, cho rằng: “UNESCO đã công nhận Hồ Chí Minh là Anh hùng Giải phóng Dân tộc, một nhà Văn hóa lớn vì Người đã làm sáng tỏ khát vọng ý chí của các dân tộc, giải quyết các mối quan hệ bằng phương thức hòa bình vì tương lai của nhân loại

“Khách quan mà nói, cuộc đời và sự nghiệp cách mạng của Chủ tịch Hồ Chí Minh đã trở thành đối tượng nghiên cứu cho khoa học. Đó là tư tưởng Hồ Chí Minh Bạn đọc nào hiểu ý nghĩa của câu này thì cũng nên khai thác thêm những “đỉnh cao trí tuệ” của Đảng.

 

Một bài viết với ngôn ngữ nặng nề, thoá mạ người Việt hải ngoại, lý luận khập khễnh được đăng trân trọng trên hàng đầu của trang báo mạng của Đảng nhiều ngày. Nếu những ngôn ngữ đầy tính giáo điều và áp đặt cùng những luận điệu phản khoa học (không chứng minh) này thuyết phục được trí thức và tuổi trẻ trong nước thì thật đáng buồn thay cho tương lai dân tộc Việt Nam!

 

 Tóm lại, một bài viết của một cá nhân như Cửu Long Lê Trọng Văn, tự xưng đã viết vài cuốn sách mà báo Đảng giới thiệu là “Việt kiều” cũng chỉ là những gì được lập đi lập lại từ những thành phần của Đảng nhiều năm qua. Không có gì mới mẻ, tuy nhiên, người viết vẫn phải khai thác mãi những điều mâu thuẫn của họ để dẫn chứng và nhấn mạnh âm mưu thâm độc. Người viết rất mong tuổi trẻ và đồng bào trong nước nói chung thấy ra được một vài điều mới trong những cái cũ rích mà người ta đã và đang nghe ra rả mỗi ngày. 

 

Bút Sử

10/2009


 

Tu Tuong Cac Ke

Trong tháng 7, 2009 này, một phim tài liệu với tựa “Sự Thật về Hồ Chí Minh” đã được tung ra do nhóm linh mục Nguyễn Hữu Lễ thực hiện. Được biết trong nước một số người đã vào các link và www.youtube.com để xem. Người ta còn download vào máy để làm ra những copy tìm cách phổ biến. Ngoài tài liệu hình ảnh sưu tầm từ mọi nơi, ban thực hiện còn có những phỏng vấn nhiều sử gia, nhà báo, nhà nghiên cứu, lãnh đạo tinh thần, đảng viên ly khai từ các nơi trên thế giới...Đây là một việc làm xứng đáng được hoan nghênh, và đúng ra cộng động tỵ nạn đã nên thực hiện phim như thế từ lâu.

Nhà báo Pháp Oliver Todd, tác giả cuốn "Cruel April," trong phim khi phỏng vấn đã nói đại ý rằng người Việt Nam nói chung hiểu vấn đề qua hình ảnh hơn là các phương tiện khác như sách báo, thế nên việc tuyên truyền bằng hình ảnh rất quan trọng đối với cộng sản. Một Hồ Chí Minh với gương mặt phúc hậu (mặt thật thì nhọn và xương), với râu trắng dài như ông tiên, tai đầy tròn như Phật; sau ngày ông qua đời hình ảnh này được phổ biến mọi nơi, trên những giấy tiền, cộng thêm một hệ thống tuyên truyền ngày ngày rỉ rả thêu dệt huyền thoại để người nghe bị in vào đầu một bóng dáng như toàn thiện.

Phim tài liệu với nhiều chứng minh sự thật về con người lịch sử Hồ Chí Minh này là một đối chọi đáng kể đối với Đảng Cộng Sản trong nước ngày nay. Thật vậy, nhũng gì mà Đảng đang ra công nhồi nhét vào đầu óc mọi người về Hồ Chí Minh đều đi ngược lại những gì trong phim. Không đưa ra hết mọi mặt, nhưng phim đã trình bày đa phần quan trọng về nhân vật họ Hồ.

Những người đàn bà trong đời Hồ Chí Minh, đặt biệt nhất là Nông Thị Xuân. Hình cô Xuân, một phụ nữ rất xinh đẹp vào khoảng tuổi dưới 30 khi ông Hồ lúc 1956 đã trên 66. Vũ Thư Hiên nói rằng chính vì cô Xuân muốn làm vợ “bác Hồ” mà đã bị thủ tiêu, chết vì bị đập đầu nhưng Đảng tạo ra một tai nạn lưu thông để che mắt. Bùi Tín khẳng định Nguyễn Tất Trung chính là con của ông Hồ và cô Xuân hiện đang sống tại Hà Nội mà chính Trung cũng dần dà biết ra mình là con của của người lãnh tụ cộng sản. Trước cô Xuân ông Hồ còn nhiều mối tình khác nữa như Tăng Tuyết Minh, Nguyễn Thị Minh khai...

Phim còn đề cập ông Hồ có rất nhiều bút danh và bí danh, có thể nói trên 50 (có thể chỉ là bút danh) , nhưng người viết đã từng phổ biến là Hồ Chí Minh có gần 200 tên. Đây là tài liệu chính thức của Viện Bảo Tàng Hà Nội khi cho ra đời, 2003, cuốn “Những Tên Gọi, Bí Danh, và Bút Danh của Hồ Chủ Tịch,” trong đó họ đã ghi ra một cách rất chi tiết 174 tên, cộng thêm hơn 30 tên đang nghiên cứu. Tuy nhiên, bút danh Trần Dân Tiên thì không được tiết lộ, mặc dù văn công Hà Minh Đức đã công bố Trần Dân Tiên chính là Hồ Chí Minh trong cuốn “Tác Phẩm Văn của Chủ Tịch Hồ Chí Minh,” xuất bản 1985.

Phim còn nhấn mạnh hiện tượng UNESCO mà Đảng đã cố tình tạo dựng ra một “Hồ Chí Minh là danh nhân văn hoá thế giới” khi chưa hề có chuyện UNESCO tuyên dương như vậy. Còn nhiều chi tiết khác phim đã trình bày, nhưng ở đây người viết muốn khai thác cái gọi là “tư tưởng Hồ Chí Minh.”

Nếu Ngục Trung Nhật Ký là của Hồ Chí Minh thì dĩ nhiên tư tưởng của ông phải ẩn hiện trong đó. Giáo sư Nguyễn Ngọc Bích đưa ra dẫn chứng: Ông Đặng Thai Mai khi nhận công tác dịch thuật cuốn thơ từ chữ Hán ra Việt đã thấy hình bìa in 1932-1933. Khi Đặng Thai Mai hỏi ông Hồ tại sao ông cho rằng Hồ Chí Minh làm những bài thơ này khi bị tù tại Trung Quốc từ 1942-1943? Hồ Chí Minh lặng thinh không trả lời. Những bài thơ nói rất nhiều về chuyện Trung Hoa, chiến tranh chống Nhật, ca tụng Tưởng Giới Thạch v.v..

Thật ra tư tưởng Hồ Chí Minh, như nhà nghiên cứu lịch sử Trần Gia Phụng nói trong phim, là một chế biến để cứu nguy chế độ. Sau ngày cộng sản Đông Âu và Liên Sô sụp đổ thì khẩu hiệu “chủ nghĩa Marx Lenin bách chiến bách thắng” đã không còn hợp thời, nên 1992 Hiến Pháp của Đảng được sửa đổi và trong đó có thêm phần “tư tưởng Hồ Chí Minh.” Nhưng rồi Đảng lại không biết trình bày cái tư tưởng đó như thế nào, ngoài những khẩu hiệu kêu gọi toàn dân nên như thế này, thế kia... Ông Trần Ngọc Thành, quê Nghệ An, một cựu đảng viên, hiện sống tại Ba Lan, cho rằng ông chỉ thấy “tư tưởng Hồ Chí Minh” chỉ là những câu như: cần kiệm, chí công vô tư, chủ nghĩa yêu nước... Ông nói đó là những thứ sáo rỗng.

Jean Lacouture, một nhà giáo người Pháp thân cộng, cũng cho rằng Hồ Chí Minh là một người hành động. Ngay chính ông William Duiker, tác giả cuốn “Ho Chi Minh A Life,” cuốn sách mà Đảng muốn dịch thành tiếng Việt với điều kiện không dịch phần vợ con của ông Hồ, nhận xét rằng ông Hồ không có tư tưởng gì cả so với những lãnh tụ làm chính trị khác trên thế giới. Giáo sư Douglas Pike (không có trong phim) xác định Hồ chỉ là một người giỏi tổ chức, không phải nhà cách mạng (organization man, not revolutionary man,) ông có tài gây ra phong trào (to organize the movement).

Ai cũng nhận thấy rằng không gì hơn là lấy chính lời của ông Hồ để chứng minh ông có tư tưởng hay không. Chính Hồ Chí Minh khi hỏi vê “tư tưởng” ông đã trả lời với nhà báo rằng ông không có tư tưởng gì cả, cái đó đã có ông Mao, ông Marx lo rồi. Đảng trả lời sao đây khi mà hiện nay trong nước càng đẩy mạnh cái gọi là “GiáoTrình Tư Tưởng Hồ Chí Minh” cho thành phần sinh viển đại học và cao đẳng?

Nếu lấy câu “gậy ông đập lưng ông” áp dụng cho chính sách giáo dục trong nước ngày nay thì cũng rất hợp thời. Bởi vì sau khi học và nghiên cứu kỹ lưỡng về những thành tích và hoạt động của ông Hồ trong suốt chiều dài cuộc đời làm chính trị của ông thì có thể sinh viên sẽ đi đến một kết luận về tư tưởng của ông Hồ. Đó không gì hơn là “Tư Tưởng nhiều màu.”

Ông Vũ Ngự Chiêu trong phim “Sự Thật về Hồ Chí Minh” đã đưa ra nhận định rất đáng ghi nhận. Ông cho rằng Hồ Chí Minh hành động với chủ ý của mình theo từng giai đoạn, từng hoàn cảnh và nhu cầu. Hồ dựa vào các thế lực ngay vào thời điểm mà ông ta cần và lúc đó tư tưởng của Hồ là tư tưởng của các thế lực đó.

Giai đoạn 1919, Hồ ca ngợi chủ trương của Tổng Thống Hoa Kỳ Wilson về chính sách thuộc đia, khi ông mới nhuốm nhém là thành viên của Đảng Xã Hội bên Pháp. Ông gia nhập Đảng Cộng Sản Pháp 1920 nên cái gì của Pháp cũng đẹp. Ông qua Nga 1923 thì tìm thấy thần tượng là chủ nghĩa Marx Lenin, một thứ ánh sáng soi đường, là thứ cẩm nang thần kỳ. Trong giai đoạn phải hợp tác với Tưởng Giới Thạch bên Tàu thì lại tôn vinh Tôn Dật Tiên với thuyết Tam Dân. Khi được OSS (cơ quan tình báo của Hoa Kỳ) mướn làm liên lạc viên đem thông tin qua lại giữa ranh giới Tàu và Việt khi đối đầu với Nhật thì Hồ Chí Minh đề cao những người Mỹ là “vĩ nhân.” Trơ trẽn hơn hết là sau khi cướp được chính quyền Trần Trọng Kim, ngày 2/9/1945, Hồ Chí Minh đọc “tuyên ngôn” lại dùng nguyên văn những câu trong Tuyên Ngôn Độc Lập của Hoa Kỳ.

Đó là đại loại tư tưởng của ông Hồ mà ông Vũ Ngự Chiêu gọi là “Tư Tưởng Cắc Kè.”

Đảng Cộng Sản Việt Nam lãnh đạo bởi Hồ Chí Minh, sau ngày ông chết đã nhuộm đỏ luôn miền Nam. Di sản của Hồ để lại vẫn là Đảng Cộng Sản Việt Nam, một bộ phận rất gương mẫu của quốc tế cộng sản, mà trước đó Hồ Chí Minh được thế giới cộng sản xem là dễ sai dễ bảo nhất. Những hành động và tư cách thể hiện cái “không tư tưởng” của Hồ đã làm cho lãnh tụ của ông ta không một chút tôn trọng.

Trong “Ho Chi Minh, A Biography” của Pierre Brocheux, trang 145, ghi: “Khrushchev also wrote that Stalin showed little sympathy for Ho, whom he called “a communist troglodyte” – Khrushchev đồng thời viết rằng Stalin tỏ ra không chút nào thiện cảm với Hồ, người mà ông gọi là “người cộng sản ngu dốt, như dã nhân kém văn minh thời tiền sử.”

Vấn đề ở đây một cách thực tế là đến thế kỷ 21 với thông tin nhanh nhẹn toàn cầu bằng internet, bằng radio, bằng telephone, khó mà có thể che dấu hay thêu dệt huyền thoại như Đảng đã từng làm trong quá khứ. Dù cố gắng ngày đêm ra công vẽ bùa hộ mạng cho chế độ, nhưng nỗ lực đó sẽ tồn tại được bao lâu? Nhà báo Oliver Todd nói rằng chỉ còn hai huyền thoại là Hồ Chí Minh và Che Guevara (cộng sản gốc Argentine), hai nhân vật lãnh đạo cộng sản được đánh bóng để tuyên truyền.

Phim tài liệu “Sự Thật về Hồ Chí Minh” đã góp phần vào việc xoá tan huyền thoại Hồ Chí Minh để đi đến mục đích của Phong Trào Quốc Dân Đòi Trả Tên Saigon. Mong rằng chúng ta sẽ đón nhận thêm về phần phim có tiếng Anh cho giới trẻ hải ngoại.

Bút Sử
7/2009

 

 

 

 

 

Ngục Trung Nhật Ký không phải của HCM

 

 

Theo học giả Lê Hữu Mục, trong quyển sách "Hồ Chí Minh Không Phải Là Tác Giả Ngục Trung Nhật Ký", 1990, ông đã đưa ra đầy đủ bằng chứng để kết luận tập thơ này ra đời dưới sự dàn dựng công phu của ban biên soạn thuộc hệ thống Đảng Cộng Sản Việt Nam.

 

Một bằng chứng hùng hồn nhất là hình bìa nguyên thủy của tập thơ chữ Hán in hình hai bàn tay bị xiềng nắm chặt lại đưa lên, phía trên đề ngày 29-8-1932 đến 10-9-1933, nghĩa là tập thơ được sáng tác trong giai đoạn trên. Nhưng theo cộng sản Việt Nam thì tập thơ được "Bác" sáng tác từ 29-8-1942 đến 10-9-1943,  trong giai đoạn "Bác" bị bắt tại biên giới Trung Việt, bị giam nhà tù của Tưởng Giới Thạch qua nhiều trại từ Tĩnh Tây, Thiên Bảo, Long Tuyền, Điền Đông, Quả Đức, Long An, Đồng Chính, Nam Ninh, Bào Hương, Lai Tân, Liễu Châu. Cứ như thế Hồ Chí Minh bị chuyển đi chuyển lại 30 nhà tù của 13 huyện tỉnh Quảng Tây.

 

Ông Đặng Thai Mai với chức vụ Chủ Tịch Hội Liên Hiệp Văn Học Nghệ Thuật được giao nhiệm vụ hiệu đính cuốn thơ trong thời gian 1959-1960 đã bị Đảng cho là có những câu hỏi "lẩm cẩm."  Ông đã đặt thắc mắc lên Ban Tuyên Giáo để ban này đưa lên Hồ Chí Minh. Câu hỏi : Tại sao hình bìa cuốn thơ có ghi 29-8-1932 đến 10-9-1933 mà khi dịch ra thì phải sửa thành 29-8-1942 đến 10-9-1943? Hồ Chí Minh không trả lời gì cả, giữ mãi thái độ lặng im, lại ve vuốt ông Mai và vội vàng thăng chức cho Đặng Thai Mai làm Viện Trưởng Viện Văn Học, một chức vụ bao trùm mọi sinh hoạt văn học.

 

Nếu Hồ Chí Minh làm ra những bài thơ này vào giai đoạn 1942-1943, tại sao Trần Dân Tiên (bút danh của Hồ Chí Minh) không đề cập tới những sáng tác của ông khi cho ra cuốn "Những Mẩu Chuyện về Đời Hoạt Động của Chủ Tịch Hồ Chí Minh" vào 1948? Đây là một cuốn sách được dịch ra nhiều thứ tiếng trong đó ông Hồ tự viết về mình, tự ca ngợi đánh bóng cá nhân ông ta. Những bài thơ hay như vậy mà ông không nhớ ra để ghi vào sách hay sao?

 

Theo giáo sư Lê Hữu Mục, 1958 sau khi dẹp xong vụ Nhân Văn Giai Phẩm, Đảng thấy cần "sáng tạo" ông Hồ thành một lãnh đạo văn nghệ để ngăn ngừa những vụ nổi dậy sau này.

 

Tập thơ gốc và tập thơ do Đảng tạo ra lại cách nhau khỏang 10 năm. Ban dịch thuật ngụy ra những ngày tháng trong đó cho tương xứng với những ngày Hồ Chí Minh bị giải đi các nhà giam bên Trung Quốc. Hầu hết là thơ chính gốc và một số ít thơ thật của Hồ Chí Minh. Người ta thấy ngay hai cách hành văn, hai tư tưởng, hai hoàn cảnh khác nhau...

 

Nhân vật Già Lý là ai trong "Những Mẩu Chuyện về Đời Hoạt Động của Hồ Chủ Tịch" của Trần Dân Tiên?

 

Trần Dân Tiên viết (trang 87): "Hai người bị bắt làm ông chú ý hơn cả: một em bé học nghề mười ba tuổi....; và một tướng cướp già bị bắt vì bị bạn tố giác. Người này độ sáu mươi tuổi, hoà nhã, mưu trí và gan góc, giỏi chữ Trung-quốc, làm được thơ. Y tự cho mình là một anh hùng và cho ông Nguyễn cũng là một anh hùng. "Tôi là một con sư tử rơi xuống hố. Anh cũng là một con rồng mắc cạn," y vừa nói vừa thở dài. Nhưng y rất lạc quan, nói tiếp thêm: "Sư tử một ngày kia sẽ trở về làm chúa sơn lâm, còn rồng một ngày kia sẽ bay lên trời và làm chúa tể gió mây." Già Lý làm chúa một dãy núi...Lý khá ác với người giàu, nhưng rất tử tế với người nghèo. Vì vậy Lý đưọc nhân dân trong vùng vừa yêu vừa sợ."

 

Trên là một số nét chánh về Già Lý mà Hồ Chí Minh đã tả trong sách khi ở tù chung với Lý tại nhà khám lớn ở Hong Kong từ 1932-1933. Lúc này Già Lý đã 60 tuổi , Hồ Chí Minh chỉ khoảng 42. 

 

Lão phu nguyên bất ái ngâm thi (bài 2, Khai quyển)

 Lão phu hoà lệ tả tù thi (bài 110, Thu dạ).

 

Theo giáo sư Lê Hữu Mục, 60 tuổi thì gọi là kì, 70-80 là điệt, 80-90 là mạo. Như vậy, những bài thơ trong đó tự xưng "lão" chắc chắn là của một người già, không phải ở tuổi 52 của Hồ Chí Minh, nếu cho rằng ông ta làm lúc ở tù tại Trung Quốc 1942. 

 

Bài sau đây chứng tỏ tác giả là một người Trung Hoa (Hán):

 

Anh nói (bài số 7)

Trung thành, ta vốn không thẹn

Lại bị hiềm nghi là Hán gian!

Vốn biết là đời không dễ xử

Đến nay càng khó xử muôn vàn!

 

Hán gian nghĩa là người Trung Hoa mà đi làm tay sai cho giặc. Nếu Hồ Chí Minh bị nghi làm tay sai cho người Trung Hoa thì gọi là Việt gian.

 

Nhà ai hoa kết với đèn chưng

Quốc khánh vui reo cả nước mừng (bài 26)

 

Song Thập là ngày 10 tháng 10,  tức ngày lễ lớn của Trung Hoa. Hồ Chí Minh là người Việt Nam thì hà cứ gì phải vui mừng trong  ngày lễ của nước khác. Hơn nữa, năm 1942, nếu coi như thơ của Hồ thì lúc này bị ở nhà tù Tưởng Giới Thạch thì tại sao lại reo vui với kẻ thù?

 

Một bài thơ nói lên cảnh tù văn minh, không thể là cảnh nhà giam ở Trung Quốc:

 

Nhà Ngục (Nam Ninh)

Phòng giam kiến trúc rất ma-đăng

Đèn điện thâu đêm chiếu sáng trưng

Mỗi bữa chỉ vì duy có cháo

Cho nên cái bụng sợ chằng chằng!

 

Ma-đăng là phiên âm chữ modern của tiếng Anh, nghĩa là hiện đại, văn minh. Chỉ có nhà tù ở Hong Kong mới xây bằng xi măng cốt sắt với kiến trúc tân thời, có đèn điện thâu đêm. Nhà giam ở Quế Lâm, Liễu Châu v.v.., lúc Hồ Chí Minh ở tù 1942 thì làm gì có những tiện nghi như ở Hong Kong. Như vậy thì chắc chắn bài thơ này của Già Lý ở tù 1932. Hơn nữa, trong "Những Mẩu Chuyện..." còn kể về 1942, Hồ Chí Minh đa phần bị xích xiềng, bị dẫn dắt đi từ nhà tù này tới nhà tù nọ trong nhiều tháng. Khi được nghỉ ngơi thì Hồ lại chán, không biết phải làm gì. "Nhưng cụ khổ nhất là mất thì giờ ngồi không. Trong khi Cụ Hồ la lết tấm thân mệt lử từ nhà giam này đến nhà giam khác, có lẽ những việc lớn đang dồn dập trong nước và trên thế giới." (trang 97).

 

Nhiều bài thơ trong Ngục Trung Nhật Ký thể hiện nhân cách một con người thoát tục, có tính siêu nhiên, tuy là một kẻ giang hồ. Một cái nhìn duy tâm của Già Lý trong:

 

Cảnh Chiều

Hồng nở rồi mai hồng lại rụng

Hoa tàn hoa nở những vô tình

Hương hoa bay thấy vào song ngục

Hương đến người tù tố bất bình!

 

Tư tưởng trên không thể là "tư duy" của những người cộng sản theo chủ thuyết duy vật. Khi ta đọc về Hồ Chí Minh của Trần Dân Tiên ta thây thể hiện một con người hoạt động đấu tranh, có tính mưu cầu. Hai nhân vật hoàn toàn khác nhau.

 

Phong cách thật của Hồ Chí Minh trong Ngục Trung Nhật Ký qua một ít bài thơ như:

 

Hạn chế (103)

Đau khổ chi bằng mất tự do

Đến buồn đi ỉa cũng không cho

Cửa tù khi mở, không đau bụng

Đau bụng thì không mở cửa tù!

 

Thiên bảo ngục (31)

Năm mươi ba dặm, một ngày dài

Aó mũ dầm mưa, giày rạc rài

Chỗ ngủ yên thâu đêm chẳng có

Ngồi trên hố xí đợi ngày mai


Cảnh tình này rất đúng trong trường hợp Hồ Chí Minh làm bài thơ trên khi bị tù tại Trung Quốc 1942. Trong "Những Mẩu Chuyện..." (trang 96): "Ăn uống thiếu, không khí thiếu, bẩn thỉu, ở lẫn với những người mắc bệnh giang mai, nghiện thuốc phiện. Nhà tù thường chật ních, người đến sau không có chỗ nằm. Ban đêm Cụ Hồ thường ngồi trên cầu xí ở ngay trong phòng giam. Nhưng cụ vẫn không được yên ổn. Lâu lâu cụ lại phải đứng dậy nhường chỗ cho một người đi ỉa đêm."  Ngôn ngữ và phong cách của hai bài thơ trên và trong sách Trần Dân Tiên hầu như giống nhau hoàn toàn. Cách dùng chữ rất trần trụi (ỉa) mà trong thơ Già Lý thì nhã và kín đáo hơn.

 

Trần Dân Tiên cho đó là phòng giam. Điều này chứng tỏ rằng những "nhà tù" mà Hồ Chí Minh trải qua trong giai đoạn 1942-1943 tại Trung Quốc chỉ là những trại giam với phòng giam chật hẹp, khác hẳn nhà tù lớn ở Victoria Hong Kong. Đa phần những bài thơ của Già Lý nói về nhà tù, nhà lao, không phải phòng giam.

 

Bài viết này chỉ đưa ra một vài điều chứng minh trong rất nhiều chi tiết mà học giả Lê Hữu Mục đã trình bày. Tuổi trẻ tại Việt Nam đến ngày nay vẫn còn phải học cái gọi là "tác phẩm" văn học của Hồ Chí Minh. Một vài sách báo của Mỹ khi viết về ông Hồ trong giai đoạn bị tù 1942 lại dẫn chứng bằng những bài thơ tù trên. Đó là điều đáng tiếc!

 

Bút Sử

 


HCM Có Bao Nhiêu Tên Gọi, Bút Danh, Bí Danh?

                                                                                         

 

SAU ĐÂY LÀ TOÀN BỘ TÀI LIỆU ĐƯỢC TÓM TẮT VÀ TRÍCH RA TỪ SÁCH CỦA CỘNG SẢN VIỆT NAM: "NHỮNG TÊN GỌI, BÍ DANH, BÚT DANH CỦA CHỦ TỊCH HỒ CHÍ MINH" DO VIỆN BẢO TÀNG HỒ CHÍ MINH, NHÀ XUẤT BẢN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA HÀ NỘI, 2003. NGƯỜI VIẾT GHI LẠI TRUNG THỰC TINH THẦN VÀ NỘI DUNG CỦA QUYỂN SÁCH.

1. Nguyễn Sinh Cung, 1890. Đây là tên khai sinh tại làng Hoàng Trù, xã Chung Cự, tổng Lâm Thịnh, huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An, nay thuộc xã Kim Liên, huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An.

2. Nguyễn Sinh Côn. Trong một bài viết của Hồ Chí Minh, năm 1954, Hồ cũng ghi tên còn nhỏ của mình là Nguyễn Sinh Côn.

3. Nguyễn Tất Thành, 1901. Tháng 9, 1901, nhân dịp ông Nguyễn Sinh Sắc, cha Nguyễn Sinh Cung, chuyển về sống ở làng Kim Liên, ông có làm lễ "chào làng" cho hai con trai với tên mới là Nguyễn Tất Đạt (Sinh Khiêm) và Nguyễn Tất Thành (Sinh Cung).

4. Nguyễn Văn Thành

5. Nguyễn Bé Con. Trong tài liệu đề ngày 6 tháng 2, 1920 của Tổng đốc Vinh cung cấp về Nguyễn Sinh Sắc và hai con trai có ghi con trai thứ của Nguyễn Sinh Sắc là Nguyễn Bé Con. Tài liệu mật thám Pháp theo dõi hoạt động của Nguyễn Ái Quốc, bản ghi số 1116, 1931: Nguyễn Ái Quốc hay Nguyễn Tất Thành tức Nguyễn Sinh Côn hay Nguyễn Bé Con tức Lý Thụy...

6. Văn Ba, 1911. Ngày 5-6-1911 Nguyễn Tất Thành rời Việt Nam làm việc trên một chiếc Tàu Pháp. Trong sổ lương của tàu có tên Văn Ba.

7. Paul Tat Thanh, 1912. Ngày 15 tháng 12, 1912, Nguyễn Tất Thành từ New York gửi thư cho khâm sứ Trung Kỳ nhờ tìm địa chỉ của thân phụ là Nguyễn Sinh Huy. Lá thư ký tên Paul Tất Thành.

8. Tất Thành, 1914. Từ nước Anh Nguyễn Tất Thành gửi thư cho Phan Chu Trinh ký tên Tất Thành. Hiện có bốn lá thư được sưu tầm ký tên Tất Thành. Một thư ký Cuồng Điệt Tất Thành, ba thư ký C.Đ Tất Thành.

9. Paul Thanh, 1915. Ngày 16 tháng 4, 1915, Nguyễn Tất Thành viết thư cho toàn quyền Đông Dương qua lãnh sự Anh tại Saigon nhờ tìm địa chỉ cha mình. Thư ký tên Paul Thanh.

10. Nguyễn Ái Quốc, 1919. Tên này có khi Nguyễn Tất Thành ở Pháp cùng sinh hoạt chung với nhóm người gồm các ông Phan Chu Trinh, Phan Văn Trường, Nguyễn Thế Truyền, Nguyễn An Ninh. Nguyễn Tất Thành là người đến gia nhập nhóm sau cùng.

11. Phéc-đi-năng

12. Albert de Pouvourville, 1920. Báo Điện Tín Thuộc Địa có truyền đơn trích đoạn từ nhiều tờ báo có liên quan tới vấn đề Đông Dương. Người đăng ký tên Albert de Pouvourville.

13. Nguyễn A.Q., 1921-1926. Hai bài báo ký tên Nguyễn A.Q. có tựa "Hãy Yêu Mến Nước Pháp, Người Bảo Hộ Các Anh." đăng trên báo Người Tự Do, ngày 7 đến 10, 1921. Nguyễn A.Q. còn được ký dưới tranh biếm hoạ ngày 1 tháng 8, 1926.

14. Culixe, 1922. Nguyễn Ái Quốc ký bút danh Culixe trong một bài viết trên L'Humanité ngày 18 tháng 3, 1922.

15. N.A.Q., 1922. Bút danh này trên báo Le Paria và L'Humanité từ 1922-1930.

16. Ng.A.Q., 1922. Bút danh này trên báo Le Paria từ 1922-1925.

17. Henri Tran, 1922. Henri Tchen là tên ghi trong thẻ đảng viên Đảng Cộng Sản Pháp của Nguyễn Ái Quốc. Số thẻ: 13861.

18. N. 1923. Nguyễn Ái Quốc dùng bút danh N. trong các năm 1923-1928 trên Le Paria.

19. Chen Vang, 1923. Ngày 13 tháng 6, 1923, Nguyễn Ái Quốc bí mật rời Paris đi Liên Sô, Tổ Quốc Cách Mạng. Ngày 16 tháng 6, 1923, Nguyễn Ái Quốc đến nước Đức. Tại đây, Nguyễn được cơ quan đặc mệnh toàn quyền Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghiã Sô Viết Liên Bang tại Berlin cấp cho giấy đi đường số 1829. Trong giấy này Nguyễn Ái Quốc mang tên Chen Vang.

20. Nguyễn, 1923. Bút danh này trong các năm 1923, 1924, 1928 trên Le Paria.

21. Chú Nguyễn, 1923. Thư này Nguyễn Ái Quốc gửi đến các bạn cùng hoạt động tại Pháp trước khi rời Paris đi Liên Sô.

22. Lin, 1924. Nguyễn Ái Quốc dùng tên Lin trong thời gian ở Liên Sô từ 1923-1924 và 1934-1939. Tên Lin xuất hiện lần đầu tiên trong bức điện thư gửi Ban Phương Đông của Quốc Tế Cộng Sản, đề ngày 14 tháng 4, 1924. Tháng 10, 1934, Lin được nhận vào trường Quốc Tế Lenin Liên Sô, năm học 1934-1935. Tên Lin số hiệu 375. Tháng 8, 1935, Lin dự đại hội lần thứ VII của Quốc Tế Cộng Sản.

23. Ái Quốc, 1924. Ái Quốc là tên ghi trong thẻ dự đại hội V Quốc Tế Cộng Sản, tháng 6, 1924. Tháng 8, 1927 Nguyễn Ái Quốc gửi đồng chí Francois Billous tấm bưu ảnh, trong đó ký tên Ái Quốc. Sau này còn một số thư khác với tên Ái Quốc.

24. Un Annamite, 1924. Bút danh Annamite được ký dưới một bài viết trên Le Paria.

25. Loo Shing Yan, 1924. Bài "Thư Từ Trung Quốc, số 1", ngày 12 tháng 11, 1924, Nguyễn Ái Quốc viết về phong trào cách mạng Trung Quốc, sự thức tỉnh, giác ngộ cách mạng cho phụ nữ Trung Quốc, gửi tạp chí Rabotnhitxa. Trong bài này Nguyễn Ái Quốc ký tên Loo Shing Yan, một nữ đảng viên Quốc Dân Đảng. Nguyễn Ái Qúôc gửi thư cho ban biên tập tạp chí, ngày 12 tháng 11, 1924, giải thích: " Khi tôi còn ở Quốc Tế Cộng Sản, tôi rất phấn khởi được đôi lần cộng tác với tờ báo của các đồng chí. Nay muốn tiếp tục sự cộng tác ấy. Nhưng vì tôi ở đây hoạt động bất hợp pháp, cho nên tôi gửi bài cho các đồng chí  dưới hình thức "Những bức thư từ Trung Quốc" và ký tên một phụ nữ. Tôi nghĩ rằng làm như vậy bài viết có tính chất độc đáo hơn và phong phú hơn đối với độc giả, đồng thời cũng đảm bảo giữ được tên thật của tôi."

26. Ông Lu, 1924. Ngày 12 tháng 11, 1924, Nguyễn Ái Quốc viết thư gửi một đồng chí trong Quốc Tế Cộng Sản báo tin ông ta đã đến Quảng Châu, Trung Quốc. Cuối thư đề điạ chỉ liên lạc: Ông Lu, Hãng thông tấn Roxta, Quảng Châu, Trung Quốc. Sau này trong nhiều thư khác Nguyễn Ái Quốc cũng ghi địa chỉ liên lạc là Ông Lu.

27. Lý Thụy, 1924. Nguyễn Ái Quốc dùng bí danh Lý Thụy trong thời gian hoạt động ở Trung Quốc. Ngày 11 tháng 11, 1924, Nguyễn Ái Quốc đến Quảng Châu với các giấy tờ tùy thân mang tên Lý Thụy. Trong bức thư gửi Quốc Tế Cộng Sản, ngày 18 tháng 12, 1924, Nguyễn Ái Quốc ghi ở cuối thư:" Trong lúc này tôi là một người Trung Quốc, chứ không phải là một người An Nam, và tên tôi là Lý Thụy chứ không phải là Nguyễn Ái Quốc."

28. Lý An Nam, 1924-1925. Nguyễn Ái Quốc hoạt động ở Quảng Châu với bí danh Lý Thụy, làm phiên dịch trong văn phòng của Đoàn cố vấn Sô Viết. Lý Thụy cũng có biệt danh là Lý An Nam lúc này.

29. Nilopxki(N.A.Q.), 1924. Cuối năm 1924, Nguyễn Ái Quốc tới Quảng Châu, Trung Quốc, làm việc tại cơ quan của Borodin. Hiện sưu tầm được tất cả 6 lá thư Nguyễn Ái Quốc ký tên Nilopxki.

30. Vương, 1925. Là giảng viên huấn luyện chính trị tại Quảng Châu, Nguyễn Ái Quốc lấy tên là Vương. Vương cũng là bí danh khi ông ta bắt liên lạc với Nguyễn Lương Bằng ở Trung Quốc, 1925.

31. L.T., 1925. Nguyễn Ái Quốc ký tên L.T. gửi thư cho ông H (Thượng Huyền) ngày 9 tháng 4, 1925. Sau ngày Nguyễn Ái Quốc còn viết khoảng 15 bài trên báo Nhân Dân với bút hiệu L.T. từ các năm 1949, 1957, 1958, 1960.

32. Howang T.S., 1925. Ngày 2 tháng 5, 1925, Nguyễn Ái Quốc lấy bút hiệu Howang viết về đại hội công nhân và nông dân.

33. Z.A.C., 1925. Bút hiệu này được đăng trên báo Thanh Niên.

34. Lý Mỗ, 1925. Báo Công Nhân Chi Lộ Đặc Hiệu, số 20, ra ngày 14 tháng 7, 1925, đã đưa tin một người Việt Nam gia nhập đội diễn thuyết và để giữ bí mật, Nguyễn Ái Quốc có tên là Lý Mỗ.

35. Trương Nhược Trừng, 1925.

36. Vương Sơn Nhi, 1925. Viết trên báo Thanh Niên với bút danh Vương Sơn Nhi, Trương Nhược Trừng.

37. Vương Đạt Nhân, 1926. Với bút danh này, Nguyễn Ái Quốc được Đoàn Chủ Tịch Đại Hội đại biểu toàn quốc lần thứ 2 của Quốc Dân Đảng Trung Quốc mới đến dự và phát biểu ý kiến. Ngày họp là 14 tháng 1, 1926.

38. Mộng Liên, 1926. Mộng Liên được ký dưới bài viết "Mục Dành Cho Phụ Nữ" đăng trên báo Thanh Niên, số 40, ngày 4 tháng 4, 1926.

39. X., 1926. Bút danh này dùng trong các năm 1926, 1927. X. viết loạt bài nhan đề "Các Sự Biến Ở Trung Quốc", đăng trên 7 số báo L'Annam.

40. H.T., 1926. Cùng với bút danh Mộng Liên, H.T. là bút danh của Nguyễn Ái Quốc viết bài cho báo Thanh Niên. "Còn một số bút danh khác như Hạ Sĩ, Hương Mộng, Diệu Hương v.v.. có thể cũng là bút danh của Nguyễn Ái Quốc, bởi lúc đó chưa có nhiều người viết bài cho báo Thanh Niên."

41. Tống Thiệu Tổ, 1926. Theo hồi ký của một số người hoạt động ở Quảng Châu, Trung Quốc, Tống Thiệu Tổ là bí danh của Nguyễn Ái Quốc khi ông ta hoạt động ở Qủang Châu, Trung Quốc.

42. X.X., 1926. Nguyễn Ái Quốc ký bút danh này trên một bài đăng trong Inprekorr, số 91, ngày 14 tháng 8, 1926.

43. Wang, 1927. Bài viết dưới bút danh Wang được đăng trên Thư Tín Quốc Tế (Inprekorr).

44. N.K., 1927. Cũng trong Thư Tín Quốc Tế.

45. N. Ái Quốc, 1927.

46. Liwang, 1927. Ngày 16 tháng 12, 1927, từ Berlin Nguyễn Ái Quốc viết thư cho Đoàn Chủ Tịch Quốc Tế Nông Dân, đề nghị giúp đỡ tiền để về nước. Thư viết: "Trong 2 hoặc 3 tuần nữa tôi  sẽ trở về đất nước tôi. Chuyến đi của tôi tốn chừng 500 dollars Mỹ. Vì tôi không có tiền nên tôi mong các đồng chí giúp tôi." Thư ký tên N. Ái Quốc. Trong thư, Nguyễn Ái Quốc đề nghị nếu có tiền xin gửi đến Uỷ Ban Trung Ương của Đảng Cộng Sản Đức, chuyển cho  "Liwang."

47. Ông Lai, 1927. Cũng trong thư gửi Đoàn Chủ Tịch Quốc Tế Nông Dân, ngày 16 tháng 12, 1927, Nguyễn Ái Quốc ghi địa chỉ trả lời thư: M. Lai, chez M. Eckshtein, 21, Halle Chactrasse, Berlin.

48. A.P., 1927. A.P. viết bài "Văn Minh Pháp ở Đông Dương" trên Inprekorr.

49. N.A.K., 1928. Trong thư gửi Quốc Tế Nông Dân đề ngày 3 tháng 2, 1928.

50. Nguyễn Lai, 1928. Với thẻ nhập cảnh mang tên Nguyễn Lai, một Hoa kiều, Nguyễn Ái Quốc đặt chân tới đất Xiêm (Thái Lan).

51. Thọ, 1928

52. Nam Sơn, 1928. Tại Thaí Lan khi họp với người Việt cư  ngụ tại Thái Lan, Nguyễn Ái Quốc tự giới thiệu là Thọ, biệt hiệu Nam Sơn.

53. Chín (Thầu Chín), 1928. Đầu tháng 8, 1928, Nguyễn Ái Quốc tới Udon, Thái Lan, ông lấy tên là Chín. Mọi người gọi là Thầu Chín hay ông già Chín.

54. Victor Lebon, 1930. Victor Lebon, 123 av. de la République, Paris, France là điạ chỉ Nguyễn Ái Quốc ghi để nhận thư của đại diện Đảng Cộng Sản Pháp tại Quốc Tế cộng Sản và các đồng chí trong Đảng Cộng Sản Liên Sô. Ngày 27 tháng 2, 1930, Nguyễn Ái Quốc gủi thư cho đại diện Đảng Cộng Sản Pháp tại Quốc Tế Cộng Sản thông báo về việc Đảng Cộng Sản Việt Nam được thành lập, yêu cầu được cung cấp tài liệu để tuyên truyền và giáo dục, đồng thời đề nghị Đảng Cộng Sản Pháp giúp đỡ v.v.. Nguyễn Ái Quốc ghi điạ chỉ nhận thư của mình như ghi trên.

55. Ông Lý(Lee), 1930. Mr. Lee, The HongKong Shiao Fih Pao, 53, Wyndham Str, HongKong là tên và địa chỉ  để nhận sách báo. Với tên và địa chỉ này Nguyễn Ái Quốc gửi cho đại diện Đảng Cộng Sản Mỹ ngày 27 tháng 2, 1930.

56. Ng. Ái Quốc, 1930.

57. L.M.Vang, 1930. Ngày 27 tháng 2, 1930, Nguyễn Ái Quốc gửi thư cho văn phòng đại diện Đảng Cộng Sản Đức ở Quốc Tế Cộng Sản đề nghị xin cho ông ta một giấy chứng nhận là phóng viên báo Thế Giới. Thư ký tên Ng. Ái Quốc. Trong thư ông viết: " Trong hoàn cảnh tôi sống không hợp pháp, tôi cần có một nghề để nói với người khác. Tội đóng vai phóng viên báo chí. Nhưng cần phải chứng thực danh nghĩa đó của tôi. Trong số tất cả các báo của Đảng chúng ta, tôi thấy chỉ có mỗi một tờ báo không mang cái tên "có tính chất lật đổ" và có thể cấp cho tôi một giấy chứng nhận thuận tiện, đó là báo Thế Giới. Tôi đề nghị các đồng chí xin cho tôi một giấy chứng nhận là phóng viên báo Thế Giới. Tên của tôi sẽ là L.M. Wang."

58. Tiết Nguyệt Lâm, 1930. Cũng trong thư Nguyễn Ái Quốc xin giấy chứng nhận là phóng viên báo Thế Giới, ông ghi địa chỉ để nhận là: Mr. Sit-yet-lum, Wah-jon C, 136 wanchai R, HongKong.

59. Paul, 1930. Ngày 27 tháng 2, 1930, Nguyễn Ái Quốc viết thư gửi đồng chí Sota, liên đoàn chống đế quốc tại Berlin, thông báo về việc Đảng Cộng Sản Việt Nam đã được thành lập. Thư ký tên Paul. Còn một số thư khác cũng được ký tên Paul.

60. T.V. Wang, 1930. Ngày 2 tháng 3, 1930, Nguyễn Ái Quốc viết thư gửi Ban Phương  Đông, Quốc Tế Cộng Sản báo cáo về tình hình Mã Lai, Đông Dương và việc gửi 3 học sinh đi học. Cuối thư đề nghị "có thể mua cho tôi hối phiếu của công ty xe lửa tốc hành Mỹ đề tên T.V.Wang và gửi bưu điện cho tôi."

61. Công Nhân, 1930. Bút danh này trong bài viết "Tranh Thủ Quần Chúng Như Thế Nào?" đăng trên báo Vô Sản, cơ quan ngôn luận của Đảng Cộng Sản Việt Nam, số 1, ra ngày 31 tháng 8, 1930.

62. Victo, 1930. Bí danh Victo trong bức thư đề ngày 29 tháng 9, 1930 gửi Ban Chấp Hành Quốc Tế Cộng Sản báo cáo về cuộc đấu tranh từ ngày 11 đến 17, 1930 của nông dân các tỉnh Thanh Chương, Hưng Nguyên, Nghệ An....

63. V., 1931. Ngày 19 tháng 2, 1931,  với bí danh V., Nguyễn Ái Quốc viết bài "Nghệ Tỉnh Đỏ". V. đồng thời gửi báo cáo cho Ban Phương Đông, ngày 8 tháng 2, 1931, liên quan đến chỉ thị việc tổ chức Đảng Cộng Sản Đông Dương.

64. K., 1931. Nguyễn Ái Quốc viết thư gửi Ban Phương Đông ngày 21 tháng 2, 1931, ký tên K., trong thư báo tin Lý Tự Trọng bắn chết mật thám Legrant và đã bị bắt. Nguyển Ái Quốc đề nghị Ban Phương Đông liên lạc với Đảng Cộng Sản Pháp tổ chức biểu tình đòi thả Lý Tự Trọng.

65. Đông Dương, 1931. Bút hiệu này được đăng trên bài viết "Kỷ Niệm  Một Năm Khởi Nghĩa Yên Bái" đăng trên Tạp Chí Thư Tín Quốc Tế, 1931, số 12.

66. Quac E. Wen, 1931.

67. K.V., 1931. Nguyễn Ái Quốc dùng bí danh K.V. từ 1931. Bí danh này được nhắc đến trong thư gửi Ban Chấp Hành Trung Ương Đảng Cộng Sản Đông Dương. Đầu thư đề ngày 23 tháng 4, cuối thư đề 24 tháng 4. K.V. thông báo những cán bộ được cử về nước theo đường dây liên lạc, nhắc nhở công tác bảo vệ Đảng, giữ gìn bí mật, duy trì chế độ báo cáo giữa Đảng Cộng Sản Đông Dương với Quốc Tế Cộng Sản và đề nghị Trung ương ghi nhận nhiệm vụ của mình đã được Ban Phương Đông xác định. Năm 1959, K.V. trong bài "Người Cháu Nuôi của Bác" đăng trên báo Nhân Dân ngày 27 tháng 12, 1959.

68. Lão Trịnh, 1931. Trong báo cáo của cơ quan an ninh Pháp về hoạt động của Nguyễn Ái Quốc, thời gian trước khi bị bắt ở Hongkong (1918-1931), có một đọan ghi như sau: "ghi chú về vấn đề người cộng sản An Nam Nguyễn Ái Quốc tức Nguyễn Tất Thành, gọi là Lý Thụy, Vương Sơn Nhi, Lão Trịnh, Năm, Lý Phát, Viên, Tống Văn Sơ bị bắt ở phố Cửu Long ngày 6 tháng 6, 1931."

69. Năm, 1931.

70. Lý Phát, 1931.

71. Viên, 1931.

72. Tống Văn Sơ, 1931. Tống Văn Sơ là tên ghi trong thẻ căn cước của Nguyễn Ái Quốc khi ông ta bị bắt ở số 186, phố Tam Lung, Hongkong, ngày 6 tháng 6, 1931. "Một chiến dịch điên cuồng tìm diệt cộng sản được chúng (Pháp và Anh) phát động trên quy mô lớn khắp vùng Đông Nam Á." 

73. New Man, 1933. Bí danh này được gửi cho luật sư Lôdơbi, người đã có công giúp Tống Văn Sơ ra khỏi nhà tù Anh ở Hongkong.

74. Linov, 1934. Tại Viện Nghiên Cứu các vấn đề thuộc địa, năm học 1934-1935.

75. Teng Man Huon, 1935.Tháng 8, 1935, Nguyễn Ái Quốc tham dự đại hội lần thứ 7 Quốc Tế Cộng Sản. Trong bản kê khai để tham dự đại hội ngày 16 tháng 8, ông có ghi: Họ, tên, bí danh trong đảng hiện nay: Teng Man Huon. Họ tên bí danh trong đại hội: Lin. Thẻ mang số 154 ghi tên: Lin, thuộc Đảng CS Đông Dương.

76. Hồ Quang, 1938. Hoạt động ở Trung Quốc cuối 1938. Nhờ quan hệ Liên Sô và Trung Quốc nên Nguyễn Ái Quốc qua Trung Quốc dễ dàng. Tại Lan Châu thủ phủ tỉnh Cam Túc, Tây Bắc Trung Quốc, Nguyễn Ái Quốc mang phù hiệu Bát lộ quân, quân hàm thiếu tá và giấy tờ mang tên Hồ Quang.

77. P.C. Lin (P.C. Line), 1938. Từ Trung Quốc Nguyễn Ái Quốc viết hằng chục bài gửi về nước đăng trên Notre Voix, ký tên P.C. Lin, P.C. Line, Line (đều là của Lin).

78. D.C. Lin, 1939. Bút hiệu D.C. Lin có bài viết trên báo Dân Chúng xuất bản tại Saigon. Báo đăng liên tiếp ba số 46,47,48 ngày 21-28 tháng 8, 1939.

79. Lâm Tam Xuyên, 1939. Từ Quế Lâm, Trung Quốc, Nguyễn Ái Quốc viết thư gửi một  đồng chí ở Ban Phương Đông Quốc Tế Cộng Sản, thư đề ngày 20 tháng 4, 1939. Cuối thư, sau dòng chữ bằng tiếng Pháp là chữ Hán viết tay: Quảng Tây, Quế Lâm, Quế Tây lộ tam thập ngũ hiệu Tân Hoa nhật báo chuyển giao Lâm Tam Xuyên tiên sinh. (Tân Hoa nhật báo , số nhà 35, đường Quế Lâm, Quế Tây, Quảng Tây, chuyển cho ông Lâm Tam Xuyên.)

80. Ông Trần, 1940. Cuối tháng2, 1940, Nguyễn Ái Quốc với bí danh Ông Trần đến hiệu dầu cù là Vĩnh An Đường ở Côn Minh, Vân Nam, Trung Quốc, bắt liên lạc với tổ chức cộng sản Việt Nam ở Vân Nam để từ đó tìm cách trở về nước.

81. Bình Sơn, 1940. Từ 15 tháng 11 đến 18 tháng 12, 1940, với bút hiệu Bình Sơn, Nguyễn Ái Quốc viết 12 bài đăng trên Cứu Vong Nhật Báo (Trung Quốc).

82. Đi Đông. Tên này được Nguyễn Ái Quốc kể lại trong bài báo "Đồng Chí Đi Đông" đăng trên Cứu Quốc.

83. Cúng Sáu Sán, 1941. Ngày 28 tháng 1, 1941, người dân tại Pác Bó gọi Nguyễn Ái Quốc là Cúng Sáu Sán nghĩa là ông già ở rừng.

84. Già Thu, 1941. Tại hang Pac Bo, cán bộ gọi Nguyễn Ái Quốc là Già Thu. ( ghi chú của người viết: Còn "Chú Thu" dành riêng cho nữ cán bộ người Tầy Nông Thị Ngác, "Chú Thu, Cháu Trưng hay Ngác" trong các sách báo khác hay đề cập tới thì sao?)

85. Kim Oanh, 1941. Bút danh của Nguyễn Ái Quốc ký dưới bài thơ "Phụ Nữ" đăng trên báo Việt Nam Độc Lập, số 104, ra ngày 1 tháng 9, 1941.Bài viết nêu những tấm gương anh hùng của phụ nữ Việt Nam từ Bà Trưng, Bà Triệu đến Nguyễn Thị Minh Khai. Kim Oanh kêu gọi chị em phụ nữ cần đòan kết lại  để đấu tranh.

86. Bé Con, 1941. Bút danh Bé Con được ký dưới bài thơ "Trẻ Con" đăng trên Việt Nam Độc Lập, số 106, ngày 21 tháng 9, 1941.

87. Ông Cụ, 1941. Các năm 1940-1945, cán bộ cộng sản đồng hành với Nguyễn Ái Quốc thường gọi ông ta là Ông Cụ.

88. Hoàng Quốc Tuấn, 1941. Tên này được các đồng chí của Nguyễn Ái Quốc tự đặt.

89. Bác, 1941. Tên gọi "Bác" xuất hiện từ dịp họp hội nghị Trung Ương lần thứ 8, tháng 5, 1941 ở Pac Bo, Hà Quảng, Cao Bằng.

90. Thu Sơn, 1942. Tháng 1, 1942, với bí danh Thu Sơn, Nguyễn Ái Quốc chuyển đến nhà Xích Thắng tức Dương Mạc Thạch tại châu Nguyên Bình, Cao Bằng trong một số ngày.

91. Xung Phong, 1942. Bút danh này Nguyễn Ái Quốc ký dưới hai bài thơ "Tặng Thống Chế Pê Tanh" và "Nhóm Lửa" đăng trên Việt Nam Độc Lập, số 131, ngày 11 tháng 7, 1942, số 133 ngày 1 tháng 8, 1942.

92. Hồ Chí Minh, 1942. Để đánh lạc hướng khi hoạt động tại Trung Quốc, Nguyễn Ái Quốc lấy tên mới là Hồ Chí Minh. Ngày 13 tháng 8, 1942, Hồ Chí Minh đi Trung Quốc. Ngày 27 tháng 8, 1942 tại Túc Vinh Hồ Chí Minh bị bắt. Khi kiểm soát giấy tờ thì thấy thẻ hội viên Hồ Chí Minh là "Hội Ký Giả Thanh Niên Trung Quốc." Hồ Chí Minh bị phe Tưởng Giới Thạch nghi ngờ là gián điệp cộng sản và bị bắt giải đi giam qua 13 huyện thị của tỉnh Quảng Tây. Ngày 10 tháng 9, 1943 Hồ Chí Minh được thả.

93. Hy Sinh, 1942. Với bút hiệu Hy Sinh, Hồ Chí Minh làm bài thơ "Chơi Giăng" đăng trên báo Việt Nam Độc Lập, số 134, ngày 21 tháng 8, 1942.

94. Cụ Hoàng, 1945. Cuối tháng 2, 1945, Hồ Chí Minh đi Côn Minh với ý định gặp các cơ quan của Mỹ để tranh thủ sự ủng hộ và giúp đỡ của đồng minh chống phát xít đối với nhóm của Hồ Chí Minh. Khi đến Bixichai, Hồ Chí Minh được giới thiệu là "Cụ Hoàng". Đây cũng là tên công khai của Hồ Chí Minh trên giấy tờ khi đi giao thiệp.

95. C.M.Hồ, 1945. Hồ Chí Minh ký tên C.M. Hồ dưới thư gửi ông Fenn, ông Tam vào tháng 7 và 8, 1945.

96. Chiến Thắng, 1945. Bút danh này Hồ Chí Minh viết bài đăng trên báo Cưú Quốc. Báo này là cơ quan của Tổng bộ Việt Minh, xuất bản số 1 ngày 25 tháng 1, 1942. Sau 19/8/45, báo này được chuyển về Hà Nội, xuất bản công khai từ số 31 ngày 24 tháng 8, 1945. Hồ Chí Minh viết khoảng 400 bài trên báo Cứu Quốc. Bút danh Đ.X. được sử dụng nhiều nhất.

97. Ông Ké, 1945. Chiều cuối tháng 4, 1945, Hồ Chí Minh trong bộ áo chàm người Nùng đến chiếc lán ở Pác Tẻng (chân núi Lam Sơn, Cao Bằng) của gia đình đồng chí Hoàng Đức Triều (An Định). Hồ Chí Minh được giới thiệu là "đồng chí Ông Ké." Với bí danh Ông Ké, Hồ Chí Minh thường họp với Hoàng Quốc Việt, Vũ Anh, Phạm Văn Đồng, Đặng Việt Châu, Dương Đức Hiền, Đặng Văn Cáp.

98. Hồ Chủ Tịch, 1945. Tên này có sau khi tuyên bố có "Chính Phủ Việt Nam Dân Chủ Cộng Hoà."

99. Hồ, 1945. Hồ Chí Minh ký tên Hồ dước các thư gửi các ông Becna và Fenn đề ngày 9 tháng 5, 1945 và 9 tháng 6, 1945, cám ơn về sự giúp đỡ các học viên lớp vô tuyến điện, nhờ ông Fenn liên lạc chuyển giúp gói quà  có lá cờ của đồng minh đến cho Hồ bằng cách nhanh nhất.

100. Q.T., 1945. Với bút hiệu Q.T. , Hồ Chí Minh viết 10 bài đăng trên báo Cứu Quốc trong các năm 1945-1946.

101. Q. Th., 1945. Với bút hiệu này Hồ Chí Minh viết 14 bài đăng trên báo Cưú Quốc trong các năm 1945-1946. Bài đầu tiên ký tên Q.Th. là "Thế Giới với Việt Nam," báo số 130, ngày 31 tháng 12, 1945.

102. Lucius, 1945. Tên mật do tổ chức OSS đặt cho Hồ Chí Minh khi ông ta làm việc cho cơ quan tình báo OSS của Hoa Kỳ.

103. Bác Hồ, 1946. Nhiều thư ký tên "Bác Hồ" gửi cho các thanh thiếu niên, học sinh."Bác Hồ" cũng được quần chúng sử dụng rộng rãi, trong sách báo, học đường.

104. H.C.M., 1946. H.C.M. được ký dưới thư gửi cho đồng chí của Hồ Chí Minh là Morixo Tore, tổng bí thư Đảng Cộng Sản Pháp, năm 1946.

105. Đ.H., 1946. Bút danh này Hồ Chí Minh viết tập "Nhật Ký Hành Trình của Chủ Tịch Hồ Chí Minh Bốn Tháng Sang Pháp", năm 1946.

106. Xuân, 1946. Trên đường di chuyển từ Hà Nội qua Sơn Tây, Phú Thọ, để trở lại chiến khu Việt Bắc trong những ngày đầu có chiến tranh với Pháp, Hồ Chí Minh đã nghỉ lại ở nhà ông Hoàng Văn Nguyên ở xóm Đồi, xã Cổ Tiết, huyện Tam Nông, tỉnh Phú Thọ từ ngày 4 tháng 3, 1947 đến 18 tháng 3, 1947. Thời gian ở đây, Hồ Chí Minh lấy bí danh là Xuân trong các giấy tờ giao dịch.

107. Một Người Việt Nam, 1946. Đây là bút danh của Hồ Chí Minh ký dưới một bài viết "Hoa Việt Thân Thiện", tháng 12, 1946.

108. Tân Sinh, 1947. Bút danh này Hồ Chí Minh dùng trong một số tác phẩm vào các năm 1947-1948, như "Đời Sống Mới", "Nêu Cao và Thực Hành Cần Kiệm Liêm Chính Tức Là Nhen Lửa Cho Đời Sống Mới," "Việt Bắc Anh Dũng."

109. Anh, 1947. Ngày 20 tháng 8, 1947, Hồ Chí Minh gửi thư cho ông Nguyễn Khánh Toàn.

110. X.Y.Z., 1947. Bút danh này được dùng từ 1947-1950 trong các sách "Sửa Đổi Lối Làm Việc", tháng 10, 1947. Sách viết về "xây dựng Đảng" dựa theo cách chỉ dẫn của Lenin. Cũng với bút danh này, Hồ Chí Minh viết bài cho báo Sự Thật vào các năm 1948-1950. Bài "Dân Vận" ,số báo 120, ngày 15 tháng 10, 1949.

111. A., 1947. Mật danh A., 1947 dùng trong bức thư gửi đồng chí Hoàng Hữu Nam.

112. A.G., 1947. Bút danh A.G. Hồ Chí Minh dùng viết bài trong các năm 1947-1050. "Cán Bộ Tốt và Cán Bộ Xoàng" là bài đầu tiên trên báo Sự Thật, số 77, 1947.

113. Z., 1947. Theo cuốn nhật ký của ông Lê Văn Hiến, lúc làm bộ trưởng tài chánh, mật danh Z. là của Hồ Chí Minh dùng trong năm 1947.

114. Lê Quyết Thắng, 1948. "Cần Kiệm Liêm Chính" đăng trên báo Cứu Quốc số ra ngày 30, 31 tháng 5 và 1,2 tháng 6, 1949. Sau đó in thành sách cũng với bút hiệu Lê Quyết Thắng.

115. K.T., 1948. Tháng 2, 1948, bút danh K.T., Hồ Chí Minh dịch hai bài thơ chữ Hán.

116. K.Đ., 1948. Ngày 2 tháng 5, 1948, Hồ Chí Minh dùng bí danh K.Đ. viết thư gửi đồng chí Hoàng Quốc Việt căn dặn về việc ra báo vào tháng 5. Để tuyên truyền, K.Đ. làm bài thơ với danh nghĩa là đội trưởng dân quân du kích Mán và đề nghị đăng bài thơ này chung với thơ của Tố Hữu, Xuân Diệu.

117. G., 1949. G. viết bài mỉa mai bà Tống Mỹ Linh khi qua Mỹ trong bài "Thêu Gấm và Cho Than" đăng trên báo Sự Thật. G. còn các bài viêt khác như "Bệnh Khẩu Hiệu" trên báo Cứu Quốc, ngày 15 tháng 3, 1949, số 1191, nêu lên tầm quan trọng của khẩu hiệu trong công tác tuyên truyền, cổ động, và đồng thời cũng không nên đưa ra quá nhiều khẩu hiệu khó hiểu, daì dòng, không thiết thực.

118. Trần Thắng Lợi, 1949. Hồ Chí Minh dùng bút danh Trần Thắng Lợi viết bài "Đảng Ta" đăng trên tạp chí Sinh Hoạt Nội Bộ số 13, tháng 1, 1949.

119. Trần Lực, 1949. Bút danh Trần Lực được Hồ Chí Minh dùng trong các năm 1949-1958 và 1961. Trần Lực đã viết gần 70 bài báo và các tác phẩm ngắn như "Giấc Ngủ 10 Năm", "Liên Xô Vĩ Đại", "Đạo Đức Cách Mạng"...

120. H.G., 1949. Trên báo Cứu Quốc, Hồ Chí Minh dùng bút hiệu H.G. viết bài "Trở Lại Vấn Đề Thi Đua Ái Quốc", số 14, ngày 8 tháng 7, 1949.

121. Lê Nhân, 1949.  Với bút hiệu này, Hồ Chí Minh viết bài "Thất Bại và Thành Công", đăng trên báo Sự Thật ngày 19 tháng 8, 1949. Bài viết này cho chương mục "Sửa Đổi Lối Làm Việc." 

122. T.T., 1949.  Bút danh này Hồ Chí Minh ký dưới bài viết "Hồ Chủ Tịch và Văn Nghệ."

123. Đanh, 1950. Bút danh này Hồ Chí Minh dùng trong các năm1950, 1953, với các bài "Thư Ký Mặt Trận Liên Việt Địa Phương", ...

124. Đinh, 1950. Bí danh Đinh, Hồ Chí Minh ký dưới thư gửi Thủ Tướng Trung Cộng Chu Ân Lai, tháng 3, 1950. Cũng bí danh Đinh, Hồ Chí Minh gửi thư cho Đặng Đỉnh Siêu bên Trung Cộng, Trần Canh ngày 9 tháng 10, 1950.

125. T.L., 1950. Bút danh T.L., Hồ Chí Minh dùng trong thời gian 1950-1969, qua gần 250 bài báo đăng trên Sự Thật, Nhân Dân.

126. Chí Minh, 1950.  Ngày 9 tháng 11, 1950 khi nghe tin người anh là Nguyễn Sinh Khiêm mất, Hồ Chí Minh viết một điện thư chia buồn dòng họ Nguyễn Sinh. Cuối điện thư, ký tên Chí Minh.

127. CB., 1951. Bút danh này dùng từ 1951-1957 qua gần 700 bài báo đăng trên Nhân Dân. "Người Đảng Viên Lao Động Việt Nam Phải Như Thế Nào",  trên Nhân Dân, số 2, ngày 25 tháng 3,1951. "Liên Sô Vĩ Đại" báo Nhân Dân, số 12, ngày 21 tháng 6, 1951.

128. H., 1951. Hồ Chí Minh gửi thư cho ông Xuphanuvong (Lào) đề ngày 10 tháng 5, 1951, bằng tiếng Pháp, ký tên H.

129. Đ.X., 1951. Bút danh này Hồ Chí Minh dùng từ năm 1951-1955, bài đăng trên báo Cứu Quốc.

130. V.K., 1951. Bút danh V.K., Hồ Chí Minh dùng trong các năm 1951, 1960, 1961. "Bệnh Cá Nhân Địa Vị" đăng trên báo Nhân Dân, ngày 9 tháng 8, 1951. "Về Sự Lục Đục của Mỹ và Diệm" đăng trên Nhân Dân, số 2818, ngày 9 tháng 12, 1961.

131. Nhân Dân, 1951. Bút danh Nhân Dân đăng bài "Chúc Mừng Ngày Kỷ Niệm Lần Thứ 34 Cách Mạng Tháng Mười"  trên báo Nhân Dân , ngày 5 tháng 11, 1951. "Nhân Dân Việt Nam Chúc Mừng Ngày Kỷ Niệm Đảng Cộng Sản Trung Quốc" đăng trên Nhân Dân, ngày 1-3 tháng 7, 1954.

132. N.T., 1951. Với bút danh N.T., Hồ Chí Minh viết bài "Phát Ngôn của Chính Phủ Nhân Tiếp Các Nhà Báo", ngày 22 tháng 12, 1951.

133. Nguyễn Du Kích, 1951. Hồ Chí Minh dùng bút danh Nguyễn Du Kích viết cuốn "Tỉnh Uỷ Bí Mật" dựa vào chuyện của Liên Sô.

134. Nguyên, 1953. Bút danh này dùng trong bài "Thư Từ Việt Nam - Những Con Voi là Những Con Muỗi", 3-1953, gửi đăng báo Temps Nouveax (Thời Mới,Liên Sô). Hồ Chí Minh gửi thư cho chú Thận (Trường Chinh) ký tên Nguyên.

135. Hồng Liên, 1953. Hồ Chí Minh dùng bút danh phụ nữ viết bài "Nhân Dịp Đại Hội Phụ Nữ Quốc Tế" đăng trên báo Cứu Quốc, số 2362, ngày 19 tháng 6, 1953.

136. Nguyễn Thao Lược, 1954. Nguyễn Thao Lược là bút danh Hồ Chí Minh dùng viết bài "Đẩy Mạnh Phong Trào Du Kích", đăng trên báo Nhân Dân, số ra ngày 16-20 tháng 1, 1954. Tác giả khẳng định "biết địch biết ta, trăm trận trăm thắng."

137. Lê, 1954. Hồ Chí Minh lấy bút danh Lê trong bài "Bức Thư Ngỏ Gửi Thủ Tướng Pháp Mangdet Phorangxo", trên báo Nhân Dân, số 284, ngày 9 tháng 12, 1954.

138. Tân Trào, 1954. Bút danh Tân Trào Hồ Chí Minh ký dưới bài "Giải Phóng Đài Loan", đăng trên báo Nhân Dân, số 218, ngày 25 -27 tháng 8, 1954.

139. H.B., 1955. Hồ Chí Minh dùng bút danh H.B. viết bài "Có Phê Bình Phải Biết Tự Phê Bình", đăng trên Nhân Dân, số 488, ngày 4 tháng 7, 1955.

140. Nguyễn Tâm, 1957. Bút danh Nguyễn Tâm viết bài "Quyển Nhật Ký Trong Ngục của Bác." Bài này Hồ Chí Minh viết nhân dịp sinh nhật của ông ta, 19 tháng 5, 1957.

141. K.C., 1957. Bút hiệu này Hồ Chí Minh dùng các năm 1957, 1958 qua 4 bài báo xung quanh việc Mỹ phóng vệ tinh nhân tạo.

142. Chiến Sỹ, 1958.  Từ 1958-1968, Hồ Chí Minh dùng bút hiệu Chiến Sỹ viết hơn 80 bài báo đăng trên Nhân Dân và Quân Đội Nhân Dân. Đa số các bài viết lên án Mỹ và các bài viết ca ngợi như bài "Thanh Niên Anh Hùng Lý Tự Trọng."

143. T., 1958. Bút danh T. Hồ Chí Minh dùng viết bài "Phong Trào Vệ Sinh Yêu Nước Đang Sôi Nổi tại Trung Quốc" đăng trên báo Nhân Dân, ngày 29 tháng 1, 1958.

144.Thu Giang, 1959. Hồ Chí Minh ký bút danh Thu Giang trong bài "Bác Đến Thăm Côn Minh" trên báo Nhân Dân, ngày 12 tháng 4, 1959.

145. Nguyên Hảo Studiant, 1959. Hồ Chí Minh dùng bí danh này viết thư gửi giáo sư Ivan Duycel (Bungari) ngày 10 tháng 4, 1959.

146. Ph.K.A., 1959. Bút danh này Hồ Chí Minh viết bài "Cuộc Nghỉ Hè 2 Vạn 3 Nghìn Cây Số" về chuyến đi thăm và nghỉ hè tại Trung Cộng và Liên Sô, trên báo Nhân Dân, số 2038, ngày 15 tháng 10, 1959.

147. C.K., 1960.  Hồ Chí Minh dùng bút danh C.K. viết bài "Bắt Đầu Hai Chữ" đăng trên báo Nhân Dân, ngày 14 tháng 1, 1960, về hạnh cần kiệm để xây dựng chủ nghĩa xã hội.

148. Tuyết Lan, 1960.

149. Jean Fort, 1960. Hồ Chí Minh dùng bút hiệu Tuyết Lan viết bài "Ba Chai Rượu Sâm Banh" đăng trên báo Nhân Dân, số 2331, ngày 27 tháng 4, 1960. Dưới hình thức dịch lại bức thư của một công nhân tên là Jean Fort, ở Algerie, gửi cho tác giả nói về tình cảm của một người bạn quốc tế đối với Nguyễn Ái Quốc thời ký ở Paris và những năm sau này.

150. Trần Lam, 1960. Trần Lam viết bài "Chuyện Giả Mà Có Thật" đăng trên báo Nhân Dân, số 2242, ngày 9 tháng 5, 1960. Hồ Chí Minh lấy bút hiệu này viết bài về hoạt động của Nguyễn Ái Quốc tại Thái Lan.

151. Một người Việt kiều ở Pháp về, 1960. Hồ Chí Minh ký dưới bài  "Vài Mẩu Chuyện Trong Hồi Bác Sang Thăm Pháp."

152. K.K.T., 1960.  Hồ Chí Minh dùng bút hiệu này viết bài "Tinh Thần Yêu Nước và Tinh Thần Quốc Tế."

153. T.Lan, 1961. Bút danh T. Lan Hồ Chí Minh dùng trong tác phẩm "Vừa Đi Đường Vừa Kể Chuyện Một Mình", đăng nhiều lần trên báo Nhân Dân, tháng 5,7,8, 1961. Một bài báo khác nhan đề "Bác Ăn Tết Với Chúng Tôi" đăng trên Nhân Dân, ngày 14 tháng 2, 1961.

154. Luật sư Th. Lam, 1961. Bút danh này Hồ Chí Minh viết bài "Kính Hỏi Uỷ Ban Quốc Tế Giám Sát và Kiểm Sát" đăng trên báo Nhân Dân, ngày 5 tháng 8, 1961, liên quan về hiệp định Geneve.

155. Ly, 1961. Hố Chí Minh dùng bí danh Ly gửi bức địên đề ngày 13 tháng 12, 1961, đến đồng chí Ai dit, chủ tịch Ban Chấp Hành Trung Ương Đảng Cộng Sản Indonesia.

156. Lê Thanh Long, 1963. Bút danh này viết bài "Nhân Dịp Mừng Đảng 33 tuổi," đăng trên báo Nhân Dân, ngày 4 tháng 2, 1963. Hồ Chí Minh viết bài này về Đảng Lao Động Việt Nam và sự giúp đỡ của các Đảng anh em đối với Đảng Lao Động Việt Nam.

157. CH-KOPP (Alabama), 1963. Bút danh này của Hồ Chí Minh viết bài "Chó Mỹ Da Trắng Cắn Mỹ Da Đen" đăng trên Nhân Dân , ngày 30 tháng 4, 1963.

158. Than Lan, 1963. Bút danh này Hồ Chí Minh dùng viết bài "Đại Hội Phụ Nữ Quốc Tế," đăng trên báo Nhân Dân, số 3377, ngày 26 tháng 6, 1963. Bài viết về buổi họp phụ nữ tại Moscow.

159. Ng. Văn Trung, 1963. Hồ Chí Minh dùng bút danh này viết bài "Phải Chăng Rồng Lấy Nước", tháng 6, 1963.

160. Ngô Tâm, 1963. Ngày 7 tháng 9, 1963, Hồ Chí Minh viết thư gửi Lê Duẩn, ký tên Ngô Tâm.

161. Nguyễn Kim, 1963. Hồ Chí Minh lấy bút danh Nguyễn Kim trong bài "Thư Bạn Đọc" đăng trên báo Nhân Dân,  ngày 7 tháng 12, 1963.

162. Dân Việt, 1964. Hồ Chí Minh lấy bút hiệu Dân Việt viết bài "Thư Ngỏ Gửi Ngài Ngoại Trưởng Anh Cát Lợi" đăng trên báo Nhân Dân, ngày 22 tháng 1, 1964.

163. Đinh Văn Hảo, 1964. Bút danh này Hồ Chí Minh viết thư gửi "chủ bút báo Tân Việt Hoa" ngày 2 tháng 5, 1964.

164. C.S., 1964. Hồ Chí Minh lấy bút hiệu C.S. viết bài "Chó Mỹ" đăng trên Nhân Dân, ngày 10 tháng 9, 1964.

165. Lê Nông, 1964. Bút danh này dùng trong các năm 1964-1966. "Một Mẫu Tây Gặt Được 13 Tấn Thóc", đăng trên Nhân Dân, từ 15-18 tháng 9, 1964.

166. L.K., 1964. Hồ Chí Minh dùng bút danh L.K. viết bài "Báo Chí Anh Lột Trần Âm Mưu của Mỹ ở Việt Nam."

167. K.O., 1965. Hồ Chí Minh ký bút danh K.O. trong bài "Người Mới Việc Mới" đăng trên báo Nhân Dân, ngày 10 tháng 9, 1965. Bài viết về gương người làm việc tốt được "Bác Hồ" thưởng huy hiệu.

168. Lê Ba, 1966. Bút danh Lê Ba Hồ Chí Minh dùng viết thư "Trả Lời Ông Men Xphin Thượng Nghị Sĩ Mỹ" đăng trên Nhân Dân, số 4407, ngày 30 tháng 4, 1966. Bài viết kêu gọi Hoa Kỳ ngưng chiến tại Việt Nam.

169. La Lập, 1966. Hồ Chí Minh dùng bút danh La Lập viết bài "Tổng Giôn Phạm Tội Ác Tày Trời" đăng trên Nhân Dân, số 4508, ngày 10 tháng 8, 1966.

170. Nói Thật, 1966. Hồ Chí Minh dùng bút danh này viết 4 bài báo đăng trong báo Nhân Dân năm 1966.

171. Chiến Đấu, 1967.Trong thời gian Hồ Chí Minh chữa bệnh tại Trung Cộng, ông viết 2 bài báo với bút danh Chiến Đấu.  Một bài có tựa "Lại Thêm Một Thắng Lợi To Lớn của Trung Quốc Anh Em", đăng trên Nhân Dân, số 4823, ngày 24 tháng 6, 1967.

172. B., 1968. Ngày 10 tháng 3, 1968, Hồ Chí Minh gửi thư cho Lê Duẩn, ký tên B. Nội dung thư liên hệ về việc Hồ Chí Minh đi thăm miền Nam. Trong những năm 60, bí danh B. cũng được dùng để gửi thư các đồng chí trong bộ chính trị.

173. Việt Hồng, 1968. Hồ Chí Minh ký bút danh Việt Hồng viết bài "Vừa Đi Đường Vừa Kể Chuyện Về Cac Mac" đăng trên Nhân Dân, số 5137, ngày 5 tháng 5, 1968.

174. Đinh Nhất, 1968. Tháng 5, 1964, Hồ Chí Minh đi Côn Minh dùng bí danh này. Hồ Chí Minh gửi thư Chu Ân Lai và Đặng Dĩnh Siêu, ngày 25 tháng 5, 1968, cũng dùng bí danh Đinh Nhất.

Còn hơn 30 tên gọi, bí danh, bút danh đang được Bảo Tàng Hồ Chí Minh nghiên cứu trước khi đưa lên danh sách, theo như sách này ghi trong lời nói đầu. Sách xuất bản năm 2003, đến nay là 2007, không hiểu sao bút danh Trần Dân Tiên của Hồ Chí Minh không thấy trong số 174 nêu trên. Tuy nhiên, chúng tôi nghe nói tại Hà Nội Trần Dân Tiên đã được công bố chính là bút danh của Hồ Chí Minh trên một số báo Đảng. Đặc biệt nhất là Hà Minh Đức, một cây viết có rất nhiều bài về Hồ Chí Minh, trong cuốn "Những Tác Phẩm Văn của Hồ Chủ Tịch," xuất bản 1985, đã chính thức tuyên bố trong đó bút danh Trần Dân Tiên chính là của Hồ Chí Minh.

Bút Sử ghi lại


Hồ Chí Minh Có Chống Pháp Không?

 

Ngoài ngày 2/9 mỗi năm Đảng Cộng Sản Việt Nam làm lễ đánh bóng, ca ngợi lãnh tụ Hồ Chí Minh, mỗi ngày tuổi trẻ tại Việt Nam hiện nay phải học "đạo đức" của ông Hồ, học  công "đánh Pháp giành độc lập" và "tư tưởng Hồ Chí Minh" v.v...Về nhân vật Hồ Chí Minh, nói chung, ít ai có thể trình bày hoàn toàn một cách sâu rộng để nói lên hết bản chất thực về con người này. Hồ được ví như một đại kịch sĩ. Ông ta có hơn 170 tên họ, bút danh, bí danh dùng để hoạt động, viết bài, qua mặt người khác, cộng thêm một hệ thống tuyên truyền tinh vi của Đảng, tạo dựng ra một hình ảnh vượt xa hẳn sự sống và cuộc đời của một con người bằng xương bằng thịt. 

Tôi được biết không ít người ở Việt Nam vẫn còn tin ông Hồ có công đánh Pháp giành độc lập. Đó được coi như lý do nổi cộm nhất để đưa nhân vật họ Hồ thành một "anh hùng dân tộc." Vậy thực sự Hồ Chí Minh có phải là anh hùng chống Pháp không? Và chống như thế nào? Nếu ông là phe cánh của Pháp thì như thế nào? Bài viết xin trình bày và phân tích những diễn biến trước và sau ngày 2/9/1945, ngày Hồ Chí Minh ra mắt tại quảng trường Ba Đình đọc "Tuyên Ngôn Độc Lập."

Trên tờ "Cứu Quốc" của Việt Minh ra ngày 29/8/1945, có đăng bản tin: "Đêm 25-8-45, máy truyền thanh vang rạy khắp mọi phố, mọi ngả đường, mọi hang cùng, ngõ hẻm dục đồng bào đúng 11 giờ ngày 26 đi biểu tình nghênh tiếp một số ủy viên trong chính phủ lâm thời và phái bộ điều tra Mỹ mới về Hà Nội. Sôi nổi và thao thức mong đợi...,Anh Võ Nguyên Giáp bằng một giọng đanh thép, vạch rõ bổn phận của quốc dân trong lúc này là phải gấp đoàn kết, gạt bỏ hẳn tư tưởng đảng phái, tôn giáo, giai cấp, mau gây một tinh thần chiến đấu hùng hậu để đối phó với mọi tình thế gay go nghiêm trọng rất có thể sẩy ra..."...Võ Nguyên Giáp:" chúng ta phải đoàn kết và thề quyết hy sinh đến giọt máu cuối cùng để thực hiện sự đoàn kết đó, trong chính phủ lâm thời sẽ có thay đổi và mở rộng phạm vi để đón tiếp các vĩ nhân..."

 

Tại sao có sự cần thiết phải cấp tốc thực hiện ngay một cuộc biểu tình nghênh tiếp phái bộ Mỹ OSS (Office of Strategic Services) dẫn đầu là thiếu tá Archimedes Patti?

 

Hồ Chí Minh và tập đoàn cướp chính quyền Trần Trọng Kim ngày 19/8/1945, sau lúc Nhật bị hai trái bom nguyên tử của Mỹ bỏ tại Hiroshima và Nagasaki. Như bản tin trên, Việt Minh đang thành lập "chính phủ lâm thời." Trước khi tuyên bố chính phủ một cách chính thức, phái đoàn Việt Minh vận động ráo riết để tìm phe ủng hộ. Không ai hơn là Hoa Kỳ. Thế nên, ngày 25/8/1945,trên các làn sóng, báo chí Việt Minh kêu gọi thúc giục dân ra đường ngày hôm sau, 26/8/1945, để nghênh tiếp phái bộ Mỹ OSS cùng phái đoàn Việt Minh.

 

Chính phủ không do dân bầu ra thì ít nhất cũng phái có một quốc gia nào khác công nhận. Nếu không thì, không hơn không kém, cũng giống như một đảng cướp từ trong rừng ra thành dùng vũ lực cướp bóc rồi tự thành lập chính phủ cho mình. Do vậy mà "tình thế gay go nghiêm trọng rất có thể sẩy ra" như lời Võ Nguyên Giáp nói. Đó có phải là vấn đề đối phó với các thành phần không cộng sản, các đảng phái quốc gia. Những khối này chắc chắn không thể chấp nhận một nhà nước độc tài khi họ đã có một thời gian dài tranh đấu chống thực dân Pháp cho quyền tự do làm người. Bởi thế mà nỗi lo của Võ Nguyên Giáp rất là hợp lý. Vậy thì tương kế tựu kế để "thay đổi và mở rộng phạm vi," phải bắt tay với kẻ thù, lèo lái công cuộc đi đến mục đích. Thế nên về sau mới biết có nhiều người bị trúng kế, ân hận đã trễ, hay lỡ leo lưng cọp thì leo luôn là vậy. "Chính Phủ Liên Hiệp" ra đời cần thiết trong giai đọan cũng với mục đích là Việt Minh nắm chính quyền, dù là liên hiệp, rồi sau đó lộ hẳn đường lối cộng sản.

 

Cuộc biểu tình ngày 26/8/1945 để chuẩn bị cho ngày 2/9/1945 kết quả như thế nào? Phái đoàn Mỹ đã không có mặt tại cuộc biểu tình. Chắc chắn ông Patti được lệnh từ Washington khi biết Hồ Chí Minh chính là Nguyễn Ái Quốc, một tên quốc tế cộng sản đang hoạt động tại Đông Dương. Liền đó, Hồ lập tức cho Võ Nguyên Giáp hướng dẫn một phái đoàn đến ngay chỗ cư ngụ của Patti tại Hà Nội. Xin trích nguyên văn đoạn sau đây trong sách "Why Vietnam" của Patti, in dưới một tấm hình, sau trang 234 : "26 August 1945, Hanoi. Ho Chi Minh sends an official delegation headed by Vo Nguyen Giap to welcome the American OSS mission to Hanoi. While the band plays the American National Anthem, Giap and his delegation join the author and the OSS team in saluting the American flag." Đoạn này được dịch: "Hồ Chí Minh gửi một phái đoàn dẫn đầu bởi Võ Nguyên Giáp để nghênh tiếp nhân viên tình báo OSS của Mỹ tại Hà Nội. Trong khi giàn nhạc đánh bài Quốc Ca Hoa Kỳ, ông Giáp và phái đoàn của ông ta đứng cùng với người viết sách này (Patti) và đoàn OSS nghiêm chào cờ Mỹ."

                                                                          

Như vậy thì quá rõ là phái đoàn Võ Nguyên Giáp đích thân mang cờ Hoa Kỳ, kèn trống từ chỗ biểu tình tới ngay trước cửa nhà thiếu tá Patti để làm lễ "nghênh tiếp một số uỷ viên trong chính phủ lâm thời và phái bộ điều tra Mỹ mới về Hà Nội" ngoài dự đoán của ông Patti.

 

 

Còn một tấm hình được chụp trong nhà trước khi Patti mặc lễ phục ra ngoài sân dự lễ chào cờ. Ông Patti trong bộ đồ thường (casual) đứng chung với phái đoàn của Võ Nguyên Giáp. Hình này được chụp từ một bài viết của một tổ chức có tựa "Hồ Chí Minh Dàn Cảnh: Tiếp Đón Phái Bộ Đồng Minh!" Dưới hình ghi "Trong ảnh: Võ Nguyên Giáp (cà vạt sọc), Nguyễn Hữu Đang (nón trằng), Nguyễn Lương Bằng (phía sau) kéo tới tư thất thiếu tá Patti, yêu cầu ông và nhân viên ra đứng trước cửa để đoàn biểu tình hoan hô phái bộ Đồng minh." Chúng ta có thể nhìn hai tấm hình để so sánh và nhận ra thủ đoạn của tập đoàn Hồ Chí Minh. Trong hai tấm hình, phe Việt Minh cũng là những gương mặt đó, cũng những bộ đồ trắng đó, nhưng ông Patti thì mặc hai bộ khác nhau, một đồ thường và một lễ phục. Bởi vì khi vừa kéo tới nhà ông Patti, phái đoàn Việt Minh đã yêu cầu Patti ra ngay trước nhà chụp hình (sau lưng Nguyễn Hữu Đang là cánh cửa gỗ trước nhà, không phải ngoài sân) nên Patti mặc quần áo như thường. Sau đó vì ban nhạc ngoài sân trổ quốc ca Hoa Kỳ buộc lòng Patti phải thay lễ phục ra nghiêm chào.

 

 

Đối với cộng sản, tuyên truyền bằng hình ảnh rất là lợi hại. Chính Hồ Chí Minh khi gặp tướng Mỹ Chennault cũng yêu cầu Chennault cho một tấm hình và ký tên trong đó. Để chi vậy?  Hồ đem khoe với mọi người là người Mỹ đã ủng hộ ông ta. Sau này khi nhắc tới tấm hình, sĩ quan tình báo Mỹ, ông Charles Fenn (trong Uncle Ho, Uncle Sam video) cười mỉa mai và nhấn mạnh rằng người Mỹ ký tên tặng hình cho một người nào là điều bình thường, nhưng đối với Hồ Chí Minh tấm hình đó lại mang tính cách rất đặc biệt. Thế thì phái đoàn Việt Minh có ít nhất hai tấm hình để làm bằng chứng Mỹ ủng hộ, mặc dù Mỹ không hề đặt chân tham dự cuộc biểu tình nghênh đón.

                                                                                           

Để đánh động thêm lòng hâm mộ Hoa Kỳ, mong rằng phái bộ OSS sẽ hiện diện một cách trịnh trọng trong ngày 2/9/1945 cùng với Hồ Chí Minh, 4 ngày sau, 30/8/1945, Việt Minh lại tổ chức thêm một cuộc biểu tình khác ngay tại Hà Nội để chống Pháp. Biểu ngữ có họ Hồ, cờ đỏ sao vàng, hình vẽ người dân bị Pháp hành hạ...Hình sau đây trong "Why Vietnam", sau trang 234:

Đến đây người đọc sẽ viễn tượng ra ngày 2/9/1945 thế nào rồi! Trong khí thế chống đối lên án người Pháp, người dân đang náo nức chờ xem "đồng minh Hoa Kỳ" tỏ lộ như thế nào trong ngày quan trọng này, nhưng cuối cùng thì không có sự hiện diện của người Mỹ trên  sân khấu Ba Đình! Chỉ có một nhóm nhỏ đứng trong đám đông dưới khí hậu nóng bức của mùa thu Hà Nội, trong đó có thiếu tá Patti và đại úy Grelecki. Tài liệu video ghi lại cảnh ống kính camera cứ chăm chú vào mấy người Mỹ này mà quay phim, đoàn diễn hành trong lễ phục cứ đi qua đi lại nhiều lần trước mặt những sĩ quan tình bào này. Nhân chứng Grelecki cười to và kể lại như thế trong đoạn phim tài liệu. Người ta còn thấy nhiều biểu ngữ tiếng Anh hoan hô Hoa Kỳ, ngay cả biểu ngữ thật to quanh kháng đài "The Độc Lập", nửa Anh nửa Việt.

 

Đến đây trong sự suy luận tầm thường thôi cũng biết rằng người Mỹ đã không đến dự ngày 26/8/1945 thì chẳng lẽ lại đến tham dự ra mắt với ông Hồ trên kháng đài ngày 2/9/1945. Hồ Chí Minh bối rối lắm, ngay lúc đứng trên sân đài đọc diễn văn, chắc chắn là vậy. Công trình cực khổ cả mấy tuần trước để chỉ mong Mỹ đứng chung với Hồ tuyên bố công nhận "chính phủ", hoá ra chỉ có vài ba người Mỹ đứng dưới đám đông quan sát mà thôi. Võ Nguyên Giáp cũng đoán được tình hình nên lời kêu gọi được đăng trên báo "Cứu Quốc" cũng rất thiết tha. Đoàn kết để cứu vãn tình thế, phải dấu thật kín hai chữ "cộng sản" để dễ hợp tác với các thành phần quốc gia, "mở rộng phạm vi" là vậy.

 

Thất bại ngay ngày 2/9/1945, Hồ Chí Minh tính sang một thủ đoạn khác, một kế sách khác: Đi đêm với viên đại diện Pháp, Jean Sainteny, mong Pháp quay đầu trở lại Việt Nam.

 

Sainteny lại là đảng viên Đảng Xã Hội nên việc giúp Hồ, một thủ lãnh Đảng Cộng Sản Việt Nam, cũng không có gì vô lý. Hơn nữa, và quan trọng không kém, tại Pháp hiện trong giai đoạn này Đảng Xã Hội đang nắm quyền quốc hội, đứng đầu bởi thủ tướng Felix Gouin (1/1946 - 6/1946). Đảng Xã Hội và Đảng Cộng Sản sau sát nhập như một. " Ngày 16/2/1946, hai bên đi đến chỗ chấp nhận nguyên tắc sơ lược: Việt Nam độc lập trong liên hiệp Pháp" (Sử Địa 12ab, nhà xuất bản Trường Thi, Saigon,1974.) Cũng theo sử liệu này, Hồ Chí Minh bị nhiều phản đối trong nội bộ Việt Minh và các khối chính đảng. Hồ phải thành lập và điều chỉnh "Chính Phủ Liên Hiệp" để câu thời gian vận chuyển tình hình.

 

Ngay lúc đang thảo luận thì tàu Pháp ra Bắc. Ngày 6/3/1946, tàu Pháp theo sông cửa Cấm vào Hải Phòng, nhưng bị quân Trung Hoa chận lại và đánh vào tàu Pháp. Cuộc chạm súng ngắn ngủi. Pháp thoát lui chờ đợi. Được tin này, Sainteny và Hồ Chí Minh ký ngay Hiệp Ước Sơ Bộ.

 

Hiệp Ước Sơ Bộ 6/3/1946 nhấn mạnh sự công nhận của chính phủ Pháp đối với nước "Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa" do Hồ Chí Minh lãnh đaọ, và gồm một số điều khoản chia chát quyền lợi hai bên, cho phép Pháp được ở lại Việt Nam 5 năm, rồi sau đó điều đình tiếp.Việc Pháp về thay thế quân Tưởng để thu dẹp tàn quân Nhật chỉ được ghi ra trong hiệp ước mà thôi, hay nói đúng hơn, đó chỉ là cái cớ để tuyên truyền lý do tại sao Hồ mang Pháp trở lại lần hai để cai trị.

 

Ngay ngày hôm sau, taị Hà Nội, Việt Minh tổ chức lễ Pháp tuyên bố công nhận chính phủ của Hồ Chí Minh. "An Encyclopedia of World History, List of Events, 1945-1946," có ghi:"Mar. 7, France recognized the Vietnam Republic as a free state but retained the right to defend it. French troops moved into this area of Indo-China March 8 without meeting resistance from the Annamese." Nếu đã có hiện tượng Pháp trở lại Việt Nam để thay thế quân Tưởng (có sách cộng sản ghi Việt Minh đẩy lùi 20 ngàn quân Tưởng ra khỏi Việt Nam) thì quyển tự điển thế giới này đã ghi ra rồi.

 

Hiệp Ước Sơ Bộ có những điều khoản mà thống đốc D'argenlieu chống đối. D'argenlieu, không muốn thống nhất ba kỳ mà đòi Nam Kỳ tự trị. Việc bàn luận nội dung hiêp ước chưa đi đến kết quả gì chắc chắn. Vả lại, vì  hiệp ước là sơ bộ nên không có gì ràng buộc nên phải gặp quốc hội để có tính pháp lý. Được biết khi D'argenlieu tới Hà Nội để gặp Hồ Chí Minh về vụ Hiệp Ước Sơ  Bộ thì để đánh phủ đầu ông thống đốc, Hồ ra lệnh treo cờ, hoa giăng, biểu ngữ đầy đường coi như mừng ngày sinh nhật của ông ta. Có phải ông Hồ làm ra hiện tượng này để cho D'argenlieu thấy rằng dân chúng đang ủng hộ ông ta thì D'argenlieu nên chấp nhận cái hiệp định ấy đi. Đó là ngày 19 tháng 5, 1946, mà sau này Đảng dùng làm ngày sinh của ông Hồ một cách chính thức.

 

Ngày 28/5/1946 phái đoàn Việt Minh do Phạm Văn Đồng dẫn đầu tới Pháp dự hội nghị tại Fontainebleau. Hồ Chí Minh cũng sang Pháp, nhưng đi riêng. Như vậy là thế nào? Hồ đã đoán được Phạm Văn Đồng thất bại nên phải làm một kế sách khác để cứu vãn tình hình.

 

Thật vậy, Hồ Chí Minh đã đoán đúng. Phái đòan Phạm Văn Đồng lủi thủi ra về trước sự hờ hững của quốc hội Pháp. Tại sao? Xin trích lại nguyên văn một đoạn sau đây trong "Đồng chí Hồ Chí Minh", tác giả cộng sản E-Cô-bê-lép, trang 323:

 

"Những người cộng sản Pháp đã làm hết sức mình để buộc hội đồng chính phủ phải chú ý đến ý kiến của đoàn đại biểu nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hoà. Tiếc rằng, Đảng cộng sản Pháp không chiếm được ưu thế trong nội các. Mùa thu 1946, những kẻ tán thành đường lối cứng rắn đối với nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hoà chiếm ưu thế trong các giới chính phủ Pháp. Chính vào lúc này vũ đài chính trị Pháp ngả về phe hữu. Trong cuộc bầu cử ngày 2 tháng 6, Đảng cộng sản và Đảng xã hội Pháp mất đa số trong quốc hội lập hiến và ủy ban hiến pháp, còn người đứng đầu chính phủ không phải là đảng viên xã hội như trước đây nữa mà là Bi-đôn, thủ lãnh Đảng phong trào cộng hoà bình dân thuộc phái tăng lữ."

 

Giáo sư William Duiker trong sách "Ho Chi Minh A Life" cũng đã đưa ra hình ảnh và những chứng minh khoa học về hiện tượng Fontainebleau này (Ho Chi Minh, William Duiker, trang 426).

 

Dich: Vào đầu tháng 6, 1946, đại diện nước Pháp, ông Jean Sainteny đưa Hồ Chí Minh đi từ thành phố Biarritz đến Paris để dự hội nghị hoà bình tại Fontainebleau. Tại đây, ông Hồ và Sainteny chờ đợi máy bay đến khi đang ngồi trong phi trường tại Paris. Sainteny, trong hồi ký của ông, đã ghi lại là Hồ Chí Minh tỏ ra lo sợ một cách lạ lùng trên vấn đề hội họp tại Fontainebleau.

 

Thật vậy, chẳng những ông Duiker diễn tả ông Hồ tỏ ra lo sợ một cách lạ lùng còn cho người đọc thấy hình ảnh Hồ chụp với Sainteny tại phi trường Paris với gương mặt vô cùng bất bình thường.

 

Thêm một chứng minh hùng hồn khác trong sách "Hỏi và Đáp về Cuộc Đời và Sự Nghiệp của Chủ Tịch Hồ Chí Minh, Viện Bảo Tàng HCM, nxb Trẻ, 1999." " Hỏi: Tạm ước 14-9-1946 do ai ký? Nhằm mục đích gì? Đáp: Tạm ước 14-9-1946 do Chủ Tịch Hồ Chí Minh thay mặt Chính phủ nước Việt Nam Dân Chủ Cộng hòa với Chính phủ Pháp. Đây là một sách lược ngọai giao tài tình của Chủ tịch Hồ Chí Minh nhằm làm cho nhân dân ta có thêm thời gian để chuẩn bị tòan quốc kháng chiến lâu dài chống thực dân Pháp xâm lược." 

 

Rõ ràng, quốc hội Pháp nay không còn lãnh đạo bởi phe Đảng Xã Hội và Cộng Sản nữa nên việc "liên hiệp Pháp" của Hồ Chí Minh coi như không thể thực hiện một cách lâu dài như dự tính trong Hiệp Ước Sơ Bộ. Con đường cùng, Hồ tìm đến gặp Bộ Trưởng Thuộc Địa, ông Marius Moutet, cũng là đảng viên Xã Hội. Hồ Chí Minh gõ cửa nhà Moutet lúc 2 giờ sáng, 14/9/1946, để hai bên ký một "tạm ước", có tên "Modus Vivendi", trong đó gồm 11 điều khoản có lợi hai bên. Tuy nhiên, tạm ước này không có giá trị gì cả, bởi Moutet không phải là đại diện của quốc hội Pháp, ông chỉ là một viên chức của bộ thuộc địa mà thôi, cũng là phe cánh của Hồ Chí Minh thời gian Hồ còn bên Pháp hoạt động trong Đảng Cộng Sản.

 

Đảng giải thích trong sách giáo khoa cho rằng Hồ Chí Minh có "sách lược ngọai giao tài tình" để "có thêm thời gian" chuẩn bị thật quả đúng không sai chút nào. Đi nài nỉ không thành công, biết mình đã bị bỏ rơi, bị "phe hữu" lên nắm quyền chống lại "phe tả" (tức cộng sản) nên Hồ đăm ra bối rối, và trong cơn túng quẩn phải làm một cách vá víu là tìm gặp Moutet ký tạm ước vô giá trị này để "câu giờ." Nhiều sách báo của cộng sản cũng hay đề cập tới 4 tháng ông Hồ ở bên Pháp để vận động. Sách ghi khá chi tiết về những nhân vật Hồ Chí Minh gặp. Họ không ai khác hơn là các thành phần của Đảng Xã Hội và Đảng Cộng Sản Pháp. Ngay cả lúc trở  về Việt Nam, ngày 22 tháng 9, 1946, ông Hồ còn nương níu một lần chót bằng cách viết thư cho một "đồng chí" người Pháp là bà Sô-Dít (không biết tên thật đánh vần thế nào, đây là cách viết tên người Pháp của ông Hồ) để mong bà ta giúp đỡ làm cách nào để Pháp hợp tác với "Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa."

 

Tiếp theo là cuộc xung đột xảy ra giữa hai phe: Pháp và Việt Cộng. Ngày tuyên chiến đầu tiên 19/12/1946.

 

Hồ Chí Minh bấy giờ bắt đầu đổi chiến thuật tuyên truyền: hô hào toàn dân chống Pháp với chiêu bài Pháp trở lại xâm lược. Nhưng người ta tự hỏi: tại sao mới ngày nào đây từ 6/3/1946, tức trong vòng 8 tháng nay phe Việt Minh và Pháp là một, thậm chí Việt Minh còn mượn tay Pháp sát hại các đảng phái quốc gia, tiêu diệt đến tận cội rễ, nay sao lại tuyên chiến là thù địch? Trong dân gian thành Hà Nội thời đó có truyền nhau câu ca dao:" Mộ Quỳnh cỏ mọc còn xanh. Hỏi ai bán nước: ấy anh già Hồ." Phạm Quỳnh bị lên án thân Pháp và bị sát hại ngày 6/9/1945, nhưng rồi mộ chôn ông còn mới, cỏ mọc còn xanh tươi, thì chính người lên án và ra lệnh giết Phạm Quỳnh với tội thân Pháp lại mang Pháp về. Hồ cùng phe với Pháp một thời gian, sau đó lại quay sang chống Pháp. Lý do của sự thay đổi như trở bàn tay của Hồ Chí Minh trong giai đoạn này đã được trình bày trên.  

 

Chiêu bài "chống Pháp xâm lược" của Hồ Chí Minh mà cũng có hàng triệu triệu người tin và nghe theo. Nếu chịu suy  nghĩ một chút thì thấy ngay sự lường gạt của ông Hồ, nhưng thời đó đại đa số chống Pháp như truyền thống, không biết rằng Pháp của thời thực dân trước 1945 và Pháp sau thế chiến thứ 2 hoàn toàn khác nhau. Bắt đầu năm 1946, Pháp cũng như tất cả các nước có thuộc địa như Pháp, Tây Ban Nha, Anh...đều bị ràng buộc bởi quốc tế và ký trả lại độc lập cho những nước thuộc địa, trong đó có Philippines, Ấn Độ, Lebanon, Syria, v.v...Còn Việt Nam thì Pháp đã ra sau khi Nhật đảo chánh Pháp và chính vua Bảo Đại đã tuyên bố Việt Nam độc lập ngày 11/3/1945. Vua Bảo Đại đã xé hòa ước 1884 giữa Pháp và Việt Nam. Thế giới tự do sau thế chiến thứ 2 phải đương đầu với sự bành trướng của làn sóng cộng sản, nhất là ở Âu Châu, và sau đó là Á Châu mà Hồ Chí Minh là một lãnh đạo sừng sỏ có thành tích hoạt động cho quốc tế cộng sản hơn 30 năm.

 

Hồ hô hào Pháp trở lại "thực dân" và "xâm lược" khi không trả lời được sự mâu thuẫn. Chính Hồ Chí Minh đã ở Pháp 4 tháng (từ 5/1946 - 9/1946) để vận động kêu gọi các đồng chí của ông ta giúp làm mọi cách để Pháp chấp  nhận "chính phủ" của Hồ, làm mọi cách để thực hiện Hiệp Uớc Sơ Bộ 6/3/1946, để hai bên Pháp và Việt Minh cùng hưởng lợi. Nếu Pháp có ý đồ thực dân hay xâm lược thì dĩ nhiên nên chấp nhận cái Hịêp Uớc Sơ Bộ đó ngay, không phải bị mang tiếng như trước đây, vì Pháp được "mời" về cai trị tiếp. Nhưng không, vào tháng 6/1946, khi chính phủ mới của Pháp, dẫn đầu là thủ tướng Georges Bidault (6/1946 - 11/1946), đã công khai chống Hồ Chi Minh với lý do Hồ là cộng sản. Dẫn chứng được trình bày rõ mà E-Cô-bê-lép đã ghi trong sách được trích ở trên.

 

Việt Minh không hẳn tất cả là những người cộng sản. Một số đông là những thành phần yêu nước thật sự. Họ tham gia chống Pháp coi như là bổn phận, nhưng rồi sau đó có thể lầm lẫn nghe theo cộng sản, hoặc bị lôi cuốn vào quỹ đạo với thời gian và hoàn cảnh. Đáng ghi nhận hơn hết trận chiến đầu tiên phân ranh quốc cộng phải là trận chiến này. Chiến tranh kéo dài từ 12/1946 đến 5/1954, kết thúc tại Điện Biên Phủ.

 

Cộng sản thường huyênh hoang chiến tranh 1946-1954 có mục đích giành độc lập, giành lại chủ quyền từ tay người Pháp. Phần trình bày trên đã chứng minh Hồ Chí Minh bắt buộc phải đương đầu với Pháp vì Pháp đã tuyên chiến trước. Pháp đánh Hồ Chí Minh vì Hồ là cộng sản, là đe dọa cho hoà bình thế giới. Đó không phải là cuộc chiến tranh giành độc lập, một cách hiển nhiên là như thế.

 

Thật ra, trận Điện Biên Phủ không phải là sự thành công hoàn toàn của phe cộng sản Việt Nam. Nhiều tài liệu cho thấy Hồ Chí Minh, Võ Nguyên Giáp đã nhận chỉ thị từ Trung Cộng; thêm vào, Trung Cộng tiếp tế súng đạn và nhân sự cho trận chiến. Sự chiến thắng đó xem ra cũng chưa hẳn vẻ vang khi đã thiêu đốt hằng ngàn thân xác một cách vô thương tiếc với chủ trương "biển người" (human wave) của cộng sản. " Thề quyết hy sinh đến giọt máu cuối cùng" mà Võ Nguyên Giáp đã nêu lên trong lời kêu gọi là vậy.

 

Trở lại lúc Hồ Chí Minh tại Pháp năm 1946, khi vận động tìm phe ủng hộ. Hồ đã gặp ông tướng Salan. Ông Salan đã nói:" We are going to fight each other, and it will be very difficult - Chúng ta sắp đánh nhau, và nó sẽ rất là khó khăn." "Indeed, Ho had told Sainteny and Marius Moutet, "If we have to fight, we will fight...You will kill ten of us and we will kill one of you, but you will be the ones who grow tired. - Hơn nữa, Hồ đã nói với Sainteny và Marius Moutet là "Nếu chúng tôi đánh, chúng tôi sẽ đánh...Các ông giết chúng tôi 10 người và chúng tôi chỉ giết 1 người của phe ông, nhưng các ông sẽ là những người trở nên mệt mỏi..."" (trang 120, Ho Chi Minh, Pierre Brocheux). Điều này chứng tỏ ông Hồ đã có trong đầu chủ trương "tiêu thổ kháng chiến" và "biển người" từ lâu. Thân phận người Việt Nam trong cuộc chiến chỉ là con vật hy sinh để Hồ bước lên địa vị lãnh đạo Đảng Cộng Sản Việt Nam và làm theo lệnh quốc tế cộng sản.

 

Có người đặt câu hỏi: khi nói Hồ Chí Minh chống Pháp thì phải hỏi là Pháp nào? Pháp cộng sản hay Pháp quốc gia? Thật vậy, những gì người viết trình bày trên đã cho thấy gian hùng Hồ Chí Minh và tập đoàn đã lộ hẳn bộ mặt vong bản, sẵn sàng làm nô lệ cho bất cứ ai miễn sao bảo đảm được quyền lợi thống trị của Đảng. Chủ trương của cộng sản biến thái từng giai đoạn, đu giây để được tồn tại. Một mặt thì hô hào tiêu diệt kẻ thù, mặt khác thì xin xỏ được làm bạn với chính kẻ thù đó, như trường hợp Hồ Chí Minh đối với Hoa Kỳ và Pháp. Hồ theo Pháp mang Pháp về cai trị vì Pháp đó là Pháp cộng sản, Pháp của Đảng Xã Hội. Hồ chống Pháp vì quốc hội Pháp chuyển sang thành phần "phe hữu" chống cộng sản.

 

Tóm lại, trận chiến 1946-1954 là trận chiến đầu tiên phân ranh quốc cộng; và cho đến hôm nay cuộc chiến quốc cộng vẫn còn đang tiếp diễn. Bổn phận người dân có trách nhiệm với quốc gia dân tộc, nhất là những ai còn mù mờ tin theo cộng sản, xin hãy tìm hiểu sự thật để có hành động thích đáng trước tình cảnh đất nước hiện tại. Không thể tôn vinh những điều sai trái, ngụy biện. Hành động bán nước hại dân lại được đặt tôn là vì đất nước dân tộc. Hơn trên tất cả, chủ nghĩa cộng sản lỗi thời, cộng thêm tính vô nhân bản, mà Hồ Chí Minh mang vào áp đặt bằng bạo lực lên dân tộc Việt Nam, không một kẻ có lương tâm lương tri nào chấp nhận được. Chiêu bài Hồ Chí Minh có công đánh đuổi Pháp để giành lại quyền độc lập có đủ để tha thứ cho những cái tội quá lớn không? 

 

Bút Sử

8/2007


Nhung Nguoi Dan Ba cua HCM va Me cua Nong Duc Manh la ai?




  Sau ngày cộng sản Liên Sô và Đông Âu sụp đổ, nhiều tài liệu và tin tức được phổ biến về sự thật con người Hồ Chí Minh(HCM), cũng như về cuộc đời riêng tư của người lãnh tụ Đảng Cộng Sản Việt Nam.

Mối tình với cô gái người Nùng tên Nông Thị Xuân được bạch hoá rõ ràng nhất qua nhiều nhân chứng còn sống viết và kể lại. Tại Hà Nội, cô Xuân được lệnh ở nhà riêng số 66 Hàng Bông Nhuộm, nhưng vẫn phải đến "gặp" bác Hồ. Năm 1956, Nông Thị Xuân sinh cho HCM một người con trai đặt tên Nguyễn Tất Trung. Sau đó Xuân có ý muốn chính thức hoá cuộc hôn nhân với "Hồ Chủ Tịch". Ngày 11 tháng 2, 1957, vào khoảng 7 giờ tối, Xuân được ô tô đón sang gặp HCM. Sáng hôm sau, ngày 12 tháng 2, 1957, công an báo tin cho cô Vàng (em cô Xuân) là Xuân đã chết vì tai nạn ô tô. Liền sau đó cô Vàng đến thăm xác chị ở nhà thương Phủ Doãn và chứng kiến biên bản khám nghiệm tử thi của bác sĩ. Bác sĩ cho biết nạn nhân không chết vì tai nạn ô tô, vì khám toàn cơ thể không có dấu hiệu gì cả ngoại trừ vết nứt trên sọ đầu, và bác sĩ đã tuyên bố, có thể nạn nhân bị trùm chăn trên đầu rồi bị đập bằng búa.

Cô Vàng vội chạy về báo tin ngay cho người chồng sắp cưới là một bộ đội đang bị thương tật sống ở tỉnh Cao Bằng. Vàng biết chắc rằng cô cũng sẽ bị thủ tiêu vì cô chứng kiến sự thật chị của cô do HCM âm mưu sát hại.Thật vậy, ngày 2 tháng 11, 1957, cô Vàng bị giết chết và xác được tìm thấy trên sông Bằng Giang, đến ngày 5 tháng 11 xác mới nổi lên ở cầu Hoàng Bồ.

Tin này được phổ biến rộng rãi hơn nhờ lá thư của anh bộ đội này đệ lên Nguyễn Hữu Thọ, chủ tịch Quốc Hội CHXHCN VN, vào ngày 29 tháng 7, 1983, trước khi anh qua đời sau cơn bạo bệnh. Trong lá thư anh bộ đội đã kể đầy đủ chi tiết những gì cô Vàng đã kể cho anh nghe, cả việc bộ trưởng Công An Trần Quốc Hoàn được HCM giao phó trông coi cô Xuân. Trong thư kể lại hình ảnh Trần Quốc Hoàn đã hãm hiếp cô Xuân rất tàn nhẫn trước đó một tuần khi được lệnh giết cô Xuân. Hơn nữa, anh bộ đội còn cho rằng Nguyễn Tất Trung có thể bị thủ tiêu nếu bị tiết lộ tông tích. Do đó đến ngày hôm nay người ta chưa biết Nguyễn Tất Trung làm gì và ở đâu. Tuy nhiên, năm 2007, nhà văn đấu tranh trong nước, bà Trần Khải Thanh Thủy, đã tìm hiểu về tông tích của Trung và chính bà đã tìm gặp anh ta. Qua việc kể lại của Trần Khải Thanh Thủy người ta không ngần ngại gì nữa khi cho rằng Nguyễn Tất Trung chính là con của HCM. Được biết anh ta hiện đang được Đảng "nuôi" đàng hòang trong khu nhà khá sang trọng tại Hà Nội.

Toàn bộ lá thư của anh bộ đội được đăng trong cuốn "Công Lý Đòi Hỏi" của cựu đảng viên Nguyễn Minh Cần, xuất bản 1997. Ông hiện tỵ nạn chính trị tại Nga. Ngoài ra, câu chuyện cô Xuân này cũng được nhắc tới trong cuốn "Đêm Giữa Ban Ngày" của Vũ Thư Hiên, cũng một cựu đảng viên.

Nói chung về những người đàn bà trong đời HCM thì nhiều lắm. Người ta đã khám phá qua những tài liệu trong các văn khố bên Nga, bên Pháp, và các nơi. Sau hơn 20 năm sưu tầm nghiên cứu về con người HCM, ông William Duiker, mặc dù hâm mộ họ Hồ vì nghĩ rằng ông ta có lòng yêu nước (ông đã đọc những sách tuyên truyền của cộng sản?) cũng đã khám phá ra cái bản chất mưu mô của người cộng sản này, đồng thời tác giả còn đề cập đến những người phụ nữ đã đi qua trong đời Hồ.

Một cách vắn tắt, trước tiên phải nói đến Tăng Tuyết Minh, người vợ Hồ cưới đầu tiên tại Canton,Trung quốc. Hai người có đám cưới hẳn hoi. Không nắm rõ hai người làm đám cưới ngày tháng nào, nhưng vào tháng 4, 1927, Hồ bỏ Tuyết Minh đi hoạt động ở các khu vực khác theo chỉ thị của quốc tế cộng sản. Hơn nữa trong lúc này phe Tưởng Giới Thạch đang ruồng bắt các tổ chức cộng sản nên Hồ tìm đường tẩu thóat cũng là lý do đáng kể.

Sau đó thì phải nói tới mối tình được nhiều người bàn tán là giữa HCM và Nguyễn Thị Minh Khai vào đầu Xuân 1931. Theo Bùi Tín, một cựu đảng viên, lý lịch của Minh Khai được ghi trong tài liệu quốc tế cộng sản . Minh Khai ghi rõ ràng chồng là Lin (bí danh Nguyễn Ái Quốc tức HCM). Đã có lần ông Hồ đệ đơn lên cưới Minh Khai nhưng bị cấp trên Đảng Cộng Sản Quốc Tế bên Nga chưa cho phép. Minh Khai còn có bí danh là Trần Thai Lan, Phan Lan, nên sau khi HCM lấy bút hiệu T. Lan viết sách "Vừa Đi Đường Vừa Kể Chuyên..." tự ca ngợi mình thì người ta cho rằng có thể Hồ lấy bút hiệu đó để tưởng nhớ đến Minh Khai, người nữ cán bộ cộng sản trẻ tuổi đã bị Pháp xử tử. 

Trong "Ho Chi Minh" tác giả William Duiker có ghi một phụ nữ trẻ khác tên Lý Ưng Thuận (Lý Sâm), lúc đó là vợ của Hồ Tùng Mậu, đồng chí của HCM. Lý Sâm và HCM đã bị cảnh sát Hongkong bắt tại một phòng hotel khi hai người đang trong phòng ngủ, lúc 2 giờ sáng ngày 6, tháng 6, 1931.
Sau khi bị tù tại Hongkong, Hồ có tên mới là Tống Văn Sơ. Sau khi rời khỏi HongKong, HCM đổi nhiều tên họ khác nhau để tiếp tục hoạt động. Có những nguồn tin cho biết khi ông trở về lại Nga, đàn anh cũng đã tìm cho Hồ một người phụ nữ Nga để làm vợ...Trong cuốn "Con Rồng Việt Nam" tác giả cựu hòang Bảo Đại ghi "Hồ Chí Minh có một người vợ Nga và có chung một người con gái, nhưng ông ta không bao giờ nhắc đến" ( trang 205). Sở dĩ cựu hoàng Bảo Đại biết chuyện này nhờ những dịp đi "công tác" với Võ Nguyên Giáp vào 1945. Sau khi cựu hoàng Bảo Đại biết rõ HCM là tên quốc tế cộng sản nên tìm đường lưu vong.

Một trong những người phụ nữ Tây Phương có cô Marie Bière. Thành Tín tức Bùi Tín ghi trong "Về Ba Ông Thánh", xuất bản 5/1995, (trang 149): " Theo tài liệu Pháp, khi trẻ tuổi, làm thợ ảnh, ông Hồ có quan hệ với một cô đầm tên là Marie Biere nào đó.." Cũng theo Bùi Tín nói về tài liệu tham khảo của Sophie Judge, một nữ sử học gia Hoa Kỳ rành tiếng Việt đã bỏ nhiều năm nghiên cứu, sưu tầm tài liệu về ông Hồ, nhất là 2 năm tại Moscow. Ông Hồ có người tình tên Vera Vasilieva. Vera có con gái riêng, và cô này kể cho bà Sophie nghe. "Về Ba Ông Thánh", (trang 151): "Vào dịp đại hội 7 của quốc tế cộng sản, cô ta mới 10 tuổi, nhưng còn nhớ ông Hồ thường ghé chơi nhà mẹ cô ta và một số lần ngủ lại trên ghế dài vào năm 1934..."

Theo tài liệu của bà Sophie Judge, Bùi Tín, cùng sách trên (trang 153): "Anh thanh niên Quốc ăn mặc rất chải chuốt , luôn mang cà vạt màu rất diện, xức cả nước hoa cực thơm. Ông còn để lại khi về nước một va-ly áo quần ông sắm cho vợ ông tòan là lọai sang, cô bé Nga này lấy ra dùng bao nhiêu năm mới hết!" HCM còn "yêu" cả vợ của Chu Ân Lai là bà Đặng Dĩnh Siêu. 

Ông Hồ cặp tay đi dạo với một cô gái Tây phương trong một hình được phổ biến rộng rãi ngoài đời và internet cũng không lấy làm lạ.(hình từ nguồn của Sở Mật Thám của Pháp). Lúc này ông Hồ đã khá già, có lẽ trên 70.

Đàn ông hay đàn bà thay chồng đổi vợ cũng là lẽ thường. Cái đám cưới chính thức với Tăng Tuyết Minh đã có nhiều tài liệu để lại, nhưng HCM và Đảng chưa bao giờ tuyên bố Hồ có vợ con, đừng nói chi bao mối tình khác diễn ra sau đó. Đàn ông độc thân dẫn bạn gái đi dạo là chuyện rất thường, hoặc nhiều vợ nhiều con có khi cũng được thế gian thông cảm. Nhưng khác thường là HCM đã tự tạo cho mình thành một huyền thoại khi vào năm 1948, chính HCM lấy bút hiệu Trần Dân Tiên viết "Những Mẩu Chuyện về Đời Hoạt Động của Hồ Chủ Tịch" tự ca ngợi mình, cho mình còn độc thân, cả đời chỉ biết lo cho dân cho nước.

Ghi nhận quan trọng là sau khi trở lại Việt Nam vào đầu thập niên 40, HCM hoạt động trong hang Pac Bo để mưu toan cướp chính quyền vua Bảo Đại và chính phủ Trần Trọng Kim, Hồ đã có những cuộc tình nghĩ rằng không ai khám phá nhưng dưới ánh sáng mặt trời mọi chuyện cũng đều bị vỡ tung. Ngục sĩ Nguyễn Chí Thiện khi nhắc tới những cuộc tình của HCM cũng có đề cập một người phụ nữ tên Đỗ Thị Lạc ngoài những người tình nổi tiếng khác của Hồ. Bà này đã sinh cho HCM một người con gái, nhưng sau đó thì hai mẹ con đều mất tích.

Thêm nữa, trong sách "Năng Động Hồ Chí Minh," tác giả Thép Mới (cộng sản) cũng đã ghi (trang 143): "Bác giới thiệu với bản làng người nữ cán bộ hôm qua cùng về với Bác: -Đây đồng chí Lạc thay cháu Nông Thị Trưng về đây ở với đồng bào..."



Nông Thị Trưng là ai?

Đặc biệt hơn hết là môt phụ nữ cũng người sắc tộc thiểu số, Tầy, khá xinh đẹp tên Nông Thị Ngác (không ngạc nhiên vì vùng rừng núi Cao Bằng làm sao có gái Việt Nam chính thống). Lý do câu chuyện tình đặc sắc này được nổi bật những năm sau này là do cuộc phỏng vấn của tờ báo Xuân trong nước vào khoảng năm 1997. Nhà báo có phỏng vấn bà Nông Thị Ngác, một chứng nhân sống nói về "Bác Hồ". Bà Ngác đã không dấu diếm chi cả những gì đã xảy ra trong thời gian HCM tại hang Pac Bo vào đầu thập niên 40. Bà kể hằng ngày Ngác đến "học tập" với HCM ròng rã cả năm. Hồ căn dặn Ngác không nên gọi Hồ bằng "Bác" mà hãy gọi là "Chú Thu" và xưng "Cháu". Thế thì sau đó chú cháu tiê'p tục học tập...

Được biết sau thời gian rời Pac Bo, HCM cướp chính quyền thành công, trở thành người lãnh tụ chính thức của Đảng Cộng Sản Việt Nam, người nữ cán bộ gương mẫu mà Hồ yêu quý, tức Nông Thị Ngác, lại được cất chức làm Chánh Án Toà Án Nhân Dân tỉnh Cao Bằng...Ông Hồ yêu quý Ngác đến độ đặt cho người nữ cán bộ này một tên nữa là Nông Thị Trưng, ý giống như Trưng Trắc, Trưng Nhị vậy. Tin Nông Thị Ngác là ai cũng đã được người dân trong nước bàn tán. "Chú Thu" và "Cháu Trưng" cũng đã được nhắc tới trong các sách tuyên truyền của cộng sản, nhất là các tác giả Trần Khuê, Thép Mới...

Thép Mới kể lại trong "Năng Động Hồ Chí Minh" (trang 48) rằng sau 20 năm ngày rời Pac Bo, ông HCM trở lại, 1961, lúc này coi như sự nghiệp khá thành công, ông có thời giờ về thăm lại người cũ, cảnh xưa. Khi vào nhà thăm gia đình bà Ngác, HCM tiếp xúc với ông Dương Đại Lâm, người mà trước đây HCM đã gởi gắm Ngác vào gia đình (không nhắc Ngác đang ở đâu), các cháu vây quanh HCM thân mật. Tác giả còn nhấn mạnh một trong các cháu đã trở thành "thanh niên tuấn tú" góp phần xây dựng đất nước.

Cùng sách trên, Thép Mới ghi (trang 43): "Bác trực tiếp hỏi chuyện, nghe kể về hoàn cảnh gia đình và bản làng đau khổ, rất thương, nhận làm cháu nuôi, đặt cho bí danh là Trưng, Nông Thị Trưng. Trưng ở với vợ chồng Đại Lâm, tên tục là Sù, hàng ngày được đến lán Bác một giờ để Bác chỉ bảo."...Như vậy rất rõ, Nông Thị Ngác có bí danh là Nông Thị Trưng.

Vào tháng 4, 2001, Nông Đức Mạnh từ một người chưa thâm niên về chính trị lại được đưa lên làm Tổng Bí Thư Đảng. Tin cho rằng Nông Đức Mạnh là con của HCM lan rộng khắp nơi, từ trong nước ra đến hải ngoại. Khi có lời đồn này dĩ nhiên phải có sự bắt nguồn nào đó đi ra. Được tin này báo ngoại quốc Time đã làm cuộc phỏng vấn hỏi Nông Đức Mạnh có phải là con của HCM? Ông Mạnh không trả lời xác quyết là phải hay không, nhưng nói là tại Việt Nam ai cũng là con cháu của Bác Hồ. Câu trả lời sau chót "chắc chắn ông ta không phải cha ruột của tôi" cũng không đủ tin Nông Đức Mạnh nói bằng sự thât.

Từ câu trả lời trên và thái độ dấu diếm thân thế gia đình, cùng với vai trò lãnh đạo tối cao một cách đi ngang, quần chúng dường như ai nấy đều ngầm nghi vấn Mạnh có phải là con của HCM? Vậy thì làm sao biết Mẹ của Nông Đức Mạnh là bà nào? May mắn thay cho những ai muốn tìm hiểu Nông Đức Mạnh là ai, vì chưa bao giờ Đảng Cộng Sản Việt Nam hay Nông Đức Mạnh tiết lộ với báo chí hay bất cứ ai biết về tên họ cha mẹ của Mạnh một cách rõ ràng, qua tài liệu sau đây.

Trong "Ho Chi Minh", tác giả William Duiker, trang 575, viết: "In April 2001, the ralatively unknown government official Nong Duc Manh, widely rumored to be the illegitimate son of Ho Chi Minh, was elected general secretary of the VCP (Vietnamese Communist Party)- 14"

Số 14 để người đọc lật ra sau cuốn sách đọc tiếp footnote 14: "Nong Duc Manh has denied these rumors, but he concedes that his mother, a member of the Tay ethnic minority, served as Ho's servant after the latter's return to Vietnam during the early 1940s..."

Dịch:
Vào tháng 4, 2001, người vô danh tên Nông Đức Mạnh chính thức nhậm chức trong cơ quan chính quyền, dư luận xôn xao bàn tán rộng rãi cho rằng Mạnh là con trai rơi của Hồ Chí Minh, và ông ta đã được chọn làm Bí Thư Đảng Cộng Sản Việt Nam.

Nông Đức Mạnh phủ nhận những tin đồn này, nhưng ông ta lại công nhận rằng mẹ ông, một thành viên của dân tộc thiểu số Tầy, bà là người phục vụ ông Hồ sau khi ông Hồ trở về Việt Nam vào đầu thập niên 1940.

Nông Đức Mạnh sinh vào đầu thập niên 40. Báo Time phỏng vấn Mạnh vào 2002 và ghi ông ta được 61 tuổi. Như vậy thì ông Mạnh phải ra đời vào cuối 1941 hoặc 1942 . Sau ngày sách của Duiker xuất bản, 2000, và cuộc phỏng vấn của báo Time, trang web "Đảng CSVN" sửa tiểu sử Nông Đức Mạnh lung tung...Vào 2001, chính người viết có lần vào trang này thấy ghi rõ Nông Đức Mạnh con của "nhà cách mạng Nông Văn Lai và bà Hoàng Thị Nhị", nhưng sau đó thì trống trơn không ghi gì cả . Biết đâu nhân vật Nông Văn Lai và Hoàng Thị Nhị này cũng giống như Lê Văn Tám mà Trần Huy Liệu đã nặn ra để lừa gạt mọi người trong nhiều thập niên qua? Hay Tạ Thị Kiều, một đặc công gái tưởng tượng, mà Xuân Vũ cũng một thời ca ngợi khi ông còn ở miền Bắc?

Rõ ràng câu trả lời của Nông Đức Mạnh trong sách của giáo sư Duiker và báo Time đã phần nào cho người đọc một kết luận về thân thế của ông ta. Mạnh đã trả lời mẹ là người Tầy, dân tộc thiểu số, phục vụ cho HCM trong thời gian Hồ trở về VN vào đầu thập niên 40.

Dư luận so sánh những câu chuyện kể của "Cháu Trưng" và "Chú Thu" khi Hồ ở hang Pac Bo cùng những tài liệu vừa trình bày trên để có những kết luận về cuộc đời tình ái của HCM và kẻ nối gót chính trị là ông Nông Đức Manh. HCM đã từng bị dân gian nêu danh là "bán nước hại dận". Nay kẻ thừa kế tiếp tục con đường Hồ đã đi qua, tiếp tục làm tay sai cho đàn anh Tàu cộng, bán rẻ linh hồn cho quỷ đỏ, dâng đất nhượng biển, rước hàng chục ngàn dân Tàu cộng vào chiếm cứ miền Bắc và Trung hiện nay...

Bút Sử
Mùa Quốc Hận 30/4/2009
34 năm CS cưỡng chiếm miền Nam

----------------------------

Sau đây là phỏng vấn giữa báo Time và Nông Đức Mạnh
Jan 22, 2002

We Don't Want to Keep Secrets Anymore
TIME talks exclusively to Vietnam's new leader, Nong Duc Manh
By Kay Johnson
Richard Vogel/ap
Party leader Manh champions the rule of law, but dissent is still frowned upon.

Nong Duc Manh, 61, has been called Vietnam's most cosmopolitan Communist Party leader—and his willingness to grant a rare interview shows he's more open than his predecessor. But when he sat down in Hanoi with TIME correspondent Kay Johnson, it was clear he is no firebrand reformer, but a loyal party man. Manh began the session by reading a pages-long formal statement, but then agreed to answer questions on a range of topics, He was genial, laughed frequently, and spoke frankly on a range of topics, including the rumor that Ho Chi Minh was his real father.

Edited excerpts:

TIME: Does the Communist Party's history as a revolutionary movement make
it difficult to establish an open and transparent economic system?

Manh: During the revolution, we had to keep secrets to ensure the success and victory of the cause, to gain independence and unification. Now the party has won a leading role...I think everything should be governed by law. We don't want to keep secrets anymore.

TIME: The Communist Party of Vietnam is the sole party of the country. Do you think that within the next 10 or 20 years, or ever, it will be desirable to have other political parties in Vietnam made legal?

Manh: The party's leadership role is recognition of the revolutionary struggle of the party over half a decade. The party is the vanguard for the working class. What is in the Constitution is the burning desire and aspiration of all the people of Vietnam. So for the moment, we don't think about opposition parties.

TIME: Vietnam has been accused of violating human rights, and several opponents of the government have been jailed in the past year. What is your view of what constitutes the crime of undermining social unity?

Manh: Individual rights always go along with the interests of the society. I want to add that in Vietnam we have no political prisoners. No one is arrested or jailed for his or her speech or point of view. They are put in jail because they violated the law. We are willing to discuss human rights issues with other countries based on mutual understanding and respect for fundamental principles of international law. But we do not accept the imposition of views from outside.

TIME: Catholic priest Father Nguyen Van Ly is now in prison for 13 years for "disrupting the national unity" after writing to the U.S. Congress about religious freedom in Vietnam. Is writing a letter such a threat to the security of Vietnam?

Manh: He was not put in jail because of writing a letter to the U.S. Congress. We have evidence that he took actions that violated the law. He has been convicted as a citizen of Vietnam, not as a priest.

TIME: What law did he violate?

Manh: I am not a judge, so I can't tell you all the details. But the trial was conducted in public and in accordance with the law.

TIME: The government has set a goal of at least 7% annual growth in GDP over the next several years, but to do this, it has to implement many reforms from restructuring state-owned enterprises to bringing more transparency to its financial systems. These reforms were slowed down for several years and investment has slowed. What is the government now doing to revive these reforms?

Manh: Foreign investment is an important component of our economy. It helps move our economic structure toward industrialization and modernization, and accelerates our ongoing renovation [doi moi] process. In the past few years we have made a number of policy adjustments to attract foreign investment. And in the future, we will do more to improve the investment environment for investors. So by combining our internal strength and our external investment, we hope that we will be able to maintain the growth rate of 7% in 2002.
TIME: Would you agree that greater transparency is a common theme running
through many of the reforms that Vietnam is pursuing? In the past, many investors were frustrated about what they saw as a secretive society?

Manh: Since the implementation of doi moi, we have nothing hidden or secret in our economy or society. Since 1998 we have introduced grassroots democracy under the motto/principle: "People knowing, people discussing, people doing and people examining".

TIME: What is your opinion of the U.S.-led military operation in Afghanistan, and how is it different from U.S. military action in Vietnam in the 1960s and 70s?

Manh: We shouldn't make such a comparison. What I want to make clear though is that we oppose terrorism in any form. However, any operation against terrorism should be under the framework of the United Nations and follow the fundamental principles of international laws. The war against terrorism should not be used to interfere with an independent, sovereign state. We need to identify concrete terrorist targets and do no harm to civilians.

TIME: Some countries, Vietnam in particular, have accused America of giving shelter to groups that launch terrorism against the government of Vietnam. What should the United States do about groups based in California, for instance, who vow to bomb Vietnamese targets?

Manh: We do not agree with any policy that nurtures and allows counterrevolutionary forces to carry out activities against Vietnam. We want the U.S. to cooperate with us. As you know we just ratified a trade agreement between the two countries. On the principle of non-interference and respect for national independence and sovereignty, there is no reason for the U.S. to allow or to nurture such groups to carry out activities against Vietnam. We are ready to discuss any of these issues.

TIME: Throughout your political career there have been many rumors. In the interest of openness and transparency, will you tell us clearly: Was Ho Chi Minh your biological father?

Manh: (Chuckles) I must repeat and confirm that it is not true. I can tell you the name of my parents, but they are dead already. Each March I go back to my home village to tend their graves. My sister and brother still live there. I don't know why the rumor persisted for so long.

TIME: Even after the Party Congress, your answer was vague enough to leave room for doubt. So what is the name of your natural father?

Manh: My father's name is Nong Van Lai and my mother's is Hoang Thi Nhi. This information is not difficult to confirm. Visit my home village and the people there will tell you the same thing. If people say that I bear resemblance to Ho Chi Minh, well I think there are many people who look alike (laughs).

TIME: So you are in no way related to Ho Chi Minh?

Manh: All Vietnamese people are the children of Uncle Ho. I think the entire people of Vietnam regard Ho chi Minh as their spiritual father, and I do too.

TIME: But not your natural father?

Manh: Surely not my natural father.

 

 

 


Ai Là Mẹ của Nông Đức Mạnh?

Tác giả: Nhàn SF

    Khi Nông Đức Mạnh (NĐM) được chọn làm Tổng Bí Thư Ban Chấp hành Trung Ương Đảng CSVN, nhiều lời bàn tán nổi lên nhưng chỉ qui vào thân thế hơn là sự nghiệp của ông ta. Theo đài Á Châu Tự Do (RFA) thì tại một nước mà tự do báo chí không có để tìm kiếm sự thật thì những lời xì xầm đồn đại lan truyền trong dân chúng lâu dần sẽ đương nhiên trở thành được coi như có giá trị. Do đó khi viết về đại hội đại biểu toàn quốc 4/2001 báo chí ngoại quốc đều nhắc đến những lời đồn đãi rằng NĐM là con rơi của Hồ Chí Minh (HCM) cha đẻ của cuộc cách mạng vô sản ở VN. Đại Sứ Australia là bà Sue Boyd - người nổi tiếng là bộc trực- đã hỏi thẳng NĐM có phải là con của Hồ Chí Minh không? NĐM trả lời "Ở Việt Nam ai cũng đều là con của Bác". Câu trả lời vô thưởng vô phạt này có chủ đích lập lờ để không phải xác nhận sự thật mà cũng không bị mang tiếng là chối bỏ một sự thật.
    Sau đó cũng gần một năm trên tạp chí Time, ấn bản vùng Á Châu phát hành ngày 23-1-2002 tại Hồng Kông- qua cuộc phỏng vấn của ký giả Kay Johnson- Tổng Bí Thư (TBT) Đảng CSVN lại một lần nữa lên tiếng về thân thế mình, bác bỏ tin đồn trước đây cho rằng ông ta là con rơi của HCM và một phụ nữ sắc tộc là Nông Thị Xuân. Ngày được nâng lên giữ chức TBT, vì quá bất ngờ với câu hỏi của bà Sue Boyd nên câu trả lời của NĐM tuy khôn ngoan nhưng ai cũng hiểu đó là một sự tránh né. Có lẽ nhận thấy im lặng quá lâu là mặc nhiên xác nhận tin đồn không tốt cho sự nghiệp chính trị của mình, là "con Vua thì được làm Vua", lần này vì có chuẩn bị trước nên NĐM đã bác bỏ tin đồn một cách mạnh mẽ "Tôi phải lập lại và xác nhận rằng điều đó không đúng sự thật. Tôi có thể nói tên của cha mẹ tôi nhưng họ đã chết" Và NDM cho biết cha mình là Nông Văn Lai và mẹ là Hoàng Thị Nhị. Tổng Bí Thư Dảng CSVN tiếp theo cười cười: "Nếu có ai nói tôi giống HCM, tôi nghĩ có nhiều người trông giống người "
    Người phỏng vấn hình như vẫn chưa hài lòng với câu trả lời nên lại hỏi : "Nên ông không liên hệ gì với HCM ?"
    NĐM lập lại : "Tất cả mọi người VN là con của Bác Hồ. Tôi nghĩ toàn thể dân Việt xem HCM là cha tinh thần của họ và tôi cũng thế ".
    Nghe đến đây phóng viên tờ Time nhấn mạnh một lần nữa : "Nhưng không phải là cha đẻ của ông?."
    NĐM quả quyết : "Chắc chắn là không ".
    Viết về HCM thì không thể nào không nhắc đến những huyền thoại không những do đảng CSVN tô son điểm phấn cho ông mà ngay chính bản thân ông cũng tự hào về những dối trá đó. Hình như những suy tôn mà Đảng CS đã dành cho ông vẫn chưa đủ nên chính ông lại tự ca ngợi mình. Quả thật không ai ca ngợi HCM bằng chính ông ta. Trong các tài liệu về HCM cho biết "Bác" Hồ đã có tất cả vừa tên, vừa bí danh và bút danh từ A đến Z sơ khởi là 54 cái tên (VN Đẹp Nhất Có Tên Bác Hồ- trang 114- 122) nhưng lại bỏ sót mất 2 cái tên là Trần Dân Tiên và T. Lan là tác giả của 2 cuốn sách nâng HCM lên như một ông "Thánh sống" đến độ trơ trẽn vì từ trước đến nay có lẽ chỉ mình Bác là kẻ duy nhất tự viết sách để ca tụng mình qua vai trò Trần Dân Tiên và T.Lan, tự khen mình là khiêm tốn, không bao giờ nghĩ đến mình mà chỉ nghĩ đến nhân dân, phong cho mình là "cha già dân tộc", ngạo mạn với các bậc tiền bối, xưng hô là "Bác" với mọi ngườì kể cả các cụ già. Một con người mà có thể hạ bút viết lên những điều như thế thì tất cả những huyền thoại về HCM đều là do ý muốn của ông ta.
    Trong những lần dạy dỗ cán bộ đảng viên, HCM thường nhắc đến hai chữ "hủ hoá", nhưng kỳ thực ông ta lại là người lăng nhăng tình cảm với nhiều phụ nữ hơn ai hết. Những tham khảo của các sử gia ngoại quốc cũng như tài liệu từ các quốc gia Pháp Nga cho thấy rõ điều này. Bùi Tín (BT) cho rằng "HCM cũng rất "người" ở chỗ không thể nào sống như một ông Thánh." ( Hoa Xuyên Tuyết trang 112) Với Bùi Tín thì những chuyện "lăng nhăng" với phụ nữ "là chuyện riêng tư của cá nhân, không mấy quan trọng mà nó còn thấy HCM cũng là con người như mọi người".
    Đồng ý, con người sinh ra đều có tình cảm: yêu thương, giận hờn, ghen ghét trong đó tình yêu vợ chồng là tình cảm thiêng liêng không thể thiếu được. Thế nhưng HCM đã dấu hết tình cảm đó, cho mình là một "ông Thánh" hy sinh cả cuộc đời , sống cô độc lo cho dân cho nước. Thậm chí ăn ở với người ta có con, rồi ra lệnh giết người mẹ chỉ vì không muốn nhìn nhận vợ con. Nếu không có lệnh của HCM thì ai dám nhúng tay vào tội ác?. Thế mà HCM lúc nào cũng hãnh diện nhắc nhở cho thanh thiếu niên là "Học gì thì học chứ đừng học tánh hút thuốc và không lấy vợ của Bác nhé!". Do đó nói lên sự thật không có nghĩa là moi móc đời tư mà là đánh đổ huyền thoại của một con người hai mặt nói thì tốt nhưng hành động thì xấu xa. Mồm thì hô hào là "đầy tớ " của nhân dân nhưng lại mơ thấy mình làm vua là "cha" của thiên hạ:
Trong tù khoan khoái giấc ban trưa
Một giấc miên man liền mấy giờ
Mơ thấy cưỡi rồng trên thượng giới
Tỉnh ra trong ngục vẫn nằm trơ
(Nhật Ký Trong Tù-1943)
    Danh sách những phụ nữ có dính dáng đến cuộc đời của HCM thì nhiều, Pháp Nga Tàu Việt không thiếu. Quả thật "Bác là con người của nhân loại" " trong lãnh vực "giao du tình cảm" cũng như trong lãnh vực "thuổng văn" mà Chế Lan Viên đã hết lòng biện hộ cho "Bác" về chuyện sao y câu của bản tuyên ngôn độc lập Hoa Kỳ.
    Nhân ngày sinh nhật thứ 114 của HCM chúng ta hãy hỏi tội "hủ hoá" của "Bác" với câu hỏi đặt ra là: - AI LÀ MẸ CỦA NÔNG ĐỨC MẠNH ?
    Tiếng Việt của chúng ta thật là phong phú, đa dạng. Khi viết "Mẹ của NĐM là ai?" thì câu hỏi này không có gì đặc biệt - và câu trả lời là mẹ ông ta có thể là bà A, bà B, bà Mít , bà Xoài v. v... Nhưng khi chúng ta đặt chữ Ai ở đầu câu Ai là Mẹ của NĐM ? thì câu hỏi xem ra có phần mạnh mẽ hơn, hậu ý như là giữa những bà có tên là Marie Biere (Pháp), Tăng Tuyết Minh (Tàu), Vera Vasiliéva (Nga), Nguyễn Thị Minh Khai, Đỗ Thị Lạc, Nông Thị Xuân . . ai trong số đó là Mẹ của NĐM?
    Dư luận cho rằng người đó là Nông Thị Xuân có lẽ vì bà Xuân cùng là họ Nông và lại cũng sinh cho HCM một đứa con trai. Tuy nhiên nếu xét về thời gian thì giả thuyết này không chấp nhận được. Câu chuyện Nông Thị Xuân đã được ông Nguyễn Minh Cần - đảng viên CS ly khai viết rất rõ ràng. Sau hiệp định Geneve 1954 HCM về Hà Nội làm Chủ Tịch nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà. Năm 1955 Nông Thị Xuân 22 tuổi người Cao Bằng được đưa về Hà Nội để "phục vụ" HCM. Lúc đó "Bác" đã 65 tuổi rồi. Một năm sau, hạ sanh một con trai đặt tên là Nguyễn Tất Trung, cô Xuân ngỏ ý với "Bác" xin được hợp thức hoá hôn nhân để dọn về ở chung. "Bác" gật gù khen "ý kiến hợp tình hợp lý nhưng phải bàn với Bộ Chính Trị" đã. Sau đó cô Xuân bị giết, cả hai người em là cô Vàng và cô Nguyệt đến ở chung để trông cháu cho cô Xuân rảnh rang đi "phục vụ" "Bác", cùng với bạn của cô Vàng là những người biết chuyện, đều lần lượt bị giết lây. Có tin sau khi câu chuyện này được tung ra hải ngoại thì mộ cô Xuân đã bị san bằng không còn dấu tích.
    Nông Đức Mạnh, theo tài liệu của Đảng, thì sinh năm 1940, còn Nguyễn Tất Trung, con cô Nông Thị Xuân thì sinh năm 1956, sự sai biệt quá cao dù rằng tên tuổi của người CS đôi khi không mấy đúng với lý lịch thật. Do đó nếu Nông Đức Mạnh là con HCM thì mẹ ông ta phải là người liên hệ với HCM vào khoảng thời gian HCM về nước ở Cao Bằng.
    Theo tài liệu CS, thì HCM về nước vào ngày 8-2-1941 qua cột mốc 108 biên giới Việt Trung, đến ở tại hang Pắc Bó tỉnh Cao Bằng. Chung quanh hang có một con suối và một ngọn núi. Vừa đặt chân đến nơi HCM nghĩ ngay đến việc đặt tên là núi Karl Marx và suối Lenin. Trong hang, kế vách là một tháp đá thiên nhiên cao hơn đầu người đã được HCM vài ngày sau đó tạc thành tượng Karl Marx. Cũng tại nơi đây HCM đã dịch "Lịch Sử Đảng CS Liên Sô” ra tiếng Việt. Coi các lãnh tụ Liên sô là trên hết, HCM đã khóc lóc thảm thiết khi nghe tin Stalin chết. Cho nên bảo rằng HCM bị Stalin áp dụng kỷ luật vì "không biểu lộ tinh thần giai cấp và đặc tính thích đáng của tầng lớp vô sản quốc tế " mà Bùi Tín đã trích dẫn từ tài liệu của Mạc Tư Khoa qua bài viết đăng trên tờ Time cuối tháng 8-1999 (Hà Nhân VN Nhật Báo 28-8-1999) thì quả thật là oan cho "Bác" quá đi mất thôi!
    Địa thế hang Pắc Bó lại thông ra một con đường kín đáo dẫn sang bên kia biên giới... Cũng tại nơi đây HCM lại có một mối tình mà ít ai để ý đến và ngay những taì liệu trước đây cũng không hề nhắc đến. Nhân chuyện CSVN dâng đất nhường biển cho Trung cộng, các anh chị em trong nhóm "Câu Lạc Bộ Sinh Viên Việt Nam" ngày 24-2-2002 đã viết một bài có tựa đề "Cột Mốc 108 và Một Câu Chuyện Tình" (Trong Bạch Thư tố cáo Việt cộng hiến đất dâng biển cho Trung Cộng trang 348,349). Mục đích của bài viết muốn nhấn mạnh cột mốc 108 biên giới Việt Trung để chúng ta có dịp do sánh địa điểm này giữa hai thời điểm 1941 và 1999. Thế nhưng, Cột mốc biên giới đánh số 108 này cũng đã ghi lại dấu vết đầu tiên của HCM khi trở về nước và đã có một cuộc tình với cô gái Nùng họ Nông .
    "Vào năm 1941 Nông Thị Ngát - còn có biệt danh là Nông Thị Trưng (tên do "Bác" Hồ đặt cho) là một cô gái tuổi đôi mươi người Tày rất đẹp có duyên nhưng lại mù chữ. Vốn trực thuộc cơ quan chi bộ phái của Trung Hoa Cộng sản Đảng tuyển chọn và huấn luyện để làm giao liên cho HCM, Nông Thị Trưng liên tục được HCM huấn luyện, bồi dưỡng, xoá dần mù chữ và một chuyện tình có thể xảy ra vào những năm tháng này"
    Trên tờ Xuân Phụ Nữ năm Đinh Sửu 1997 xuất bản trong nước một bài viết có tựa đề "Cô Học Trò Nhỏ Của Bác Hồ" được tác giả Thiên Lý viết theo lời kể của chính đương sự Nông Thị Trưng đã cho thấy có sự gắn bó rất thắm thiết giữa người con gái Nùng tuổi đôi mươi với người đàn ông 51 tuổi trong cái hang Pác Bó gần cột mốc 108 này.
    Sau đây là nguyên văn bài viết:
    "Tháng 7 năm 1941, được tin Châu Hà Quảng đưa lính cơ tới bắt, ngay đêm ấy tôi trốn ra rừng, rồi được Châu Ủy đem qua Bình Mãng (Trung Quốc) lánh nạn tại nhà một đảng viên đảng Cộng sản Trung Quốc. Một hôm đồng chí Lê Quảng Ba và Vũ Anh đến đón tôi từ Trung Quốc về Pắc Bó gặp Bác.. Về Pắc Bó đã nửa đêm, anh Đại Lâm người giữ trạm đầu nguồn đưa ngay chúng tôi đi gặp "ông Ké".
    Lội ngược suối càng đi nước càng sâu, khi đến thác thứ ba, anh Đại Lâm thổi sáo, từ trên thác có thang tre thả xuống. Trèo thang lên, thấy một cái lán dựng ngay trên bờ suối. Trong lán có ông cụ ngồi đọc sách. Tôi chắp tay "Cháu chào cụ ạ" ông cụ nhìn lên hai mắt rất sáng, ân cần bảo: "Cháu đến rồi à, cháu ngồi xuống đây nói chuyện." Tôi nhìn xuống sàn, thấy toàn cây to bằng bắp chân. Cụ bảo hai lần tôi mới dám ngồi. Cụ tỉ mỉ hỏi gia cảnh, rồi khuyên tôi: "Từ nay cháu đã có một gia đình lớn là gia đình cách mạng, đừng luyến tiếc gia đình nhỏ nữa. Cháu cặm cụi làm ăn cũng không đủ để nộp sưu thuế đâu. Mình lấy lại được nước rồi từng gia đình sẽ được đàng hoàng. Từ nay ai hỏi thì cháu nói mình là cháu chú Thu, tên Trưng". Bác đặt tên ấy là muốn tôi noi theo gương bà Trưng.
    Từ đấy tôi ở lại lán anh Đại Lâm, mỗi ngày vào lán của Bác một giờ để học tập. Bác dạy cho tôi từ chuyện thế giới, chuyện cộng sản chủ nghĩa đến cả những cách ứng xử thường ngày như "Đừng làm một việc gì có thể khiến dân mất lòng tin. Mượn một cái kim, một con dao, một buổi là phải đem trả. Trong ba lô nếu có màn, phải để ở ngoài cửa, hỏi xem chủ nhà có bằng lòng mới đem vào. Cháu là nữ, trước bàn thờ có cái giường để các cụ ngồi ăn cỗ, cháu không được ngồi". Tám tháng được Bác chỉ dạy tôi học được hơn cả mấy chục năm học lý luận tập trung sau này. Bà Nông Thị Trưng ngừng kể để uống nước. Tôi để ý thấy ngôi nhà yên vắng lạ, không có dấu hiệu một người thứ hai ngoài chủ nhân sống ở đây. Đồ vật trong nhà chỉ có chiếc giường, bộ bàn ghế gỗ thường, chiếc xe đạp nam và cái ti vi đen trắng cũ kỹ.
Nhân đang vui chuyện, tôi hỏi về gia đình bà, chồng bà là một cán bộ Việt Minh cùng hoạt động những năm ba mươi, đã mất năm 1986. Được bốn con trai một gái, nay đều ở riêng. Bà sống đơn chiếc, tự "phục vụ" hoàn toàn . Người phụ nữ giàu nghị lực ấy đã trải qua nhiều thời kỳ gian khổ trong kháng chiến, vừa hoạt động, vừa nuôi con. Thậm chí, có lúc quá khó khăn đã phải ngưng công tác. Và cũng chính bác Hồ đưa người nữ cán bộ miền núi ấy trở lại với công tác.
    Trong dịp Quốc Hội đầu tiên, sau hoà bình, Bác mời các đại biểu Cao Bằng tới ăn cơm, thăm hỏi mọi cán bộ cơ sở cũ, và không quên cô học trò nhỏ ở Pắc Bó. "Trưng bây giờ làm gì ở đâu?". Khi nghe trả lời: "Thưa Bác, chị Trưng nghỉ ở nhà", Bác đổi sắc mặt, trách "Tại sao trước cách mạng khó khăn thế, nó vẫn hoạt động mà bây giờ lại nghỉ, các chú phải tìm hiểu rõ chứ". Về sau, mỗi khi có dịp, Bác đều cử người gặp trực tiếp bà Trưng hỏi xem bà có gặp khó khăn gì để giúp đỡ.
    Bác còn có cả một bài thơ tặng người học trò nhỏ của mình. Bà Trưng kể: "Hồi ấy giữa năm 1943 Bác mới ra khỏi nhà tù Trưởng Giới Thạch, trở về Lũng Cát ở trong một cái lán dưới chân núi. Một hôm Bác cho gọi tôi đến đưa cho một quyển vở và bảo rằng "Bác vừa dịch xong quyển Binh Pháp Tôn Tử, Bác cho cháu". Tôi giở ra, thấy ở bìa trong có bốn câu thơ viết bằng mực tàu:
"Vở này ta tặng cháu yêu ta
Tỏ chút lòng yêu cháu gọi là
Mong cháu ra công mà học tập
Mai sau cháu giúp nước non nhà."
    Tiếc thay , trong những năm kháng chiến, không có điều kiện bảo quản, quyển vở quí ấy đã bị mối xông mất .”
Bài viết chấm dứt nơi đây.
    Vừa gặp nhau lần đầu, người con gái Nùng chấp tay "Cháu chào cụ ạ". Có lẽ tiếng "cụ" nghe không "êm ái" nên HCM dặn dò "Từ nay ai hỏi, thì cháu nói mình là cháu chú Thu, tên Trưng". Và bí danh "Già Thu" và "Nông Thị Trưng " được khai sinh ra từ đó. Từ trước đến nay ông Hồ vẫn xưng mình là Bác với tất cả mọi người, riêng đặc biệt chỉ có mỗi một mình Nông thị Ngát là được làm "cháu" của "Chú Thu" mà thôi
    Qua lời kể trên đây thì tình cảm của "Chú Thu" dành cho "cháu Trưng" rất đậm đà thắm thiết "Mỗi ngày một giờ liên tục như thế gần một năm trời từ tháng 9-1941 cho đến 13-8-1942 thì lớp dạy kèm chấm dứt, "Chú Thu" qua Trung Quốc, bị bắt , ra tù trở về lại Cao Bằng, tìm lại cô học trò xưa tặng nàng một bài thơ viết vài giòng trên quyển "binh thư" và kể từ đó tuy xa nhau nhưng "Chú Thu" vẫn theo dõi tận tình giúp đỡ cho "cô học trò nhỏ" của mình.
    Tin từ nhóm "Câu Lạc Bộ Sinh Viên" cho biết thì "Kể từ đó Nông Thị Ngát đã vắng mặt khá lâu tại vùng biên giới này, mười năm sau Nông Thị Ngát bỗng nhiên được ưu đãi đặc biệt trở thành chánh án toà án nhân dân tỉnh Cao Bằng. Người ta đặt câu hỏi việc gì đã xảy ra trong những năm tháng đó, Nông đã đóng góp gì mà chỉ sau mười năm trở thành tỉnh uỷ viên, uỷ viên ban chấp hành trung ương và là người đứng đầu ngành tư pháp tại một tỉnh xung yếu phía Bắc?
    Như đã biết, tại Viêt Nam không có tự do báo chí, tất cả nằm trong tay Đảng. Nhà báo Kim Hạnh tổng biên tập của báo Tuổi Trẻ đã bị mất chức chỉ vì đăng tin HCM khi còn trẻ đã có một người vợ kèm theo đăng lá thư HCM gửi cho người vợ này. Vì sự thật đã không được phơi bày cho nên người dân chỉ còn biết đặt nghi vấn, tại sao Nông Thị Trưng lại được ưu đãi như thế? Tại sao tiểu sử Nông Đức Mạnh chỉ ghi: "Con một nhà cách mạng lão thành?” còn cô học trò nhỏ của ''Bác" thì chỉ hé mở chồng mình là "một cán bộ Việt minh cùng hoạt động những năm ba mươi"?. Tại sao lại phải dấu tên tuổi như vậy?.
    Gần đây hơn, đáng tin cậy nhất là William Duiker đã tường thuật lại, trong cuốn sách viết về Hồ Chí Minh (tái bản lần thứ hai) chuyện Nông Đức Mạnh đã tiết lộ với tác giả rằng " MẸ TÔI, THÀNH VIÊN CỦA DÂN TỘC THIỂU SỐ, Đà PHỤC DỊCH CHO ÔNG HỒ VÀO NHỮNG NĂM ĐẦU TIÊN CỦA THẬP NIÊN 40…"
    Một con người vốn bản tính lăng nhăng, thời gian ở ngoại quốc đã có tiếng là "anh thanh niên Quốc ăn mặc rất chải chuốt, luôn mang cà vạt màu, rất diện, xức cả nước hoa cực thơm.."(Hồ Chí Minh có mấy vợ- Trần Gia Phụng) mà nay lại đứng trước cảnh tượng "nửa đêm, giờ tý, canh ba" trong một nhà sàn thanh vắng ông "ké" nhìn lên, hai mắt sáng, ân cần bảo: "Cháu đến rồi à, cháu ngồi xuống đây nói chuyện" thì liệu "ông Ké” có làm ngơ được không nhất là khi nhan sắc của "cháu" Nông Thị Ngát lại mặn mà duyên dáng dễ làm say đắm lòng người !
    Xem như thế thì câu chuyện Nông Thị Ngát là một nghi vấn có nhiều khả năng xác thật để trả lời cho câu hỏi : AI LÀ MẸ CỦA NÔNG ĐỨC MẠNH vậy.
    Bí mật chuyện thâm cung bí sử triều đình đỏ Hà Nội

 


HCM có Chong Phap Gianh Doc Lap khong?


Đảng Cộng Sản Việt Nam cho rằng Hồ Chí Minh là một người thương dân lo nước, cả đời chỉ biết đấu tranh, không màng đến chuyện lấy vợ sinh con... Từ 1945 đến nay, những đánh bóng này vẫn còn vang dội, nhất là trong nước với bức màng che phủ và hệ thống thông tin một chiều. Huyền thoại được tạo dựng bởi những tiểu huyền thoại.

“Sự Thật về Hồ Chí Minh” là phim tài liệu dài gần 2 tiếng đa phần trình bày về con người Hồ Chí Minh, những hệ quả ông để lại, những hành động và “sáng tạo” của Đảng Cộng Sản Việt Nam khi đề cập tới nhân vật lãnh đạo của họ.

Những chứng minh ông không ra đi “tìm đường cứu nước” mà chỉ vì hoàn cảnh xuất ngoại để nuôi bản thân. Thân sinh ông là Nguyễn Sinh Sắc bị mất chức quan tại triều đình Huế vì khi say rựơu đã làm ra quyết định đánh chết một người dân, và ông phải xuôi Nam tìm phương sống khác. Các sử gia đã đưa ra nhiều tài liệu từ các văn khố cho thấy Hồ Chí Minh đã ăn ở với nhiều phụ nữ, trong số đó có cô Nông Thị Xuân và cô đã bị sát hại chỉ vì muốn làm vợ chính thức của ông Hồ. Phim trình bày tội ác ông Hồ khi phát động chiến thuật Cải Cách Ruộng Đất. Vụ ngụy tạo Hồ là danh nhân văn hoá thế giới khi UNESCO chưa hề vinh danh, vụ làm sai đi ngày chết đã được chứng minh rất khoa học. Phim cũng đã đánh tan luận điệu cho rằng Hồ Chí Minh có tư tưởng mà trong nước đã và đang bắt buộc tuổi trẻ phải học. Tư cách một gian hùng được phơi bày khi các học giả cho thấy “Ngục Trung Nhật Ký” không phải của Hồ Chí Minh làm ra, vụ ngụy tạo ra ngày sinh nhật v.v..

Dĩ nhiên DVD này không thể đưa ra hết trọn vẹn về Hồ Chí Minh, một con người có một không hai trong lịch sử. Có phải tất cả chúng ta, mặc dù đã nghe đã đọc một số tội ác của ông Hồ, nhưng thật dễ hiểu và rõ ràng hơn sau khi xem phim này. Có phải chúng ta đang mong tuổi trẻ trong nước được cơ hội biết ra sự thật về một người mà họ in trong đầu là “Bác Hồ kính yêu.” Được như thế có lẽ mỗi ngưòi trong chúng ta tự làm cái cái gì đó trong khả năng để tiến trình vạch trần huyền thoại mau kết thúc.

Ở đây, theo đà vạch trần huyền thoại, người viết xin trình bày thêm một “tiểu huyền thoại” về nhân vật lãnh tụ của Đảng Cộng Sản Việt Nam - Hồ Chí Minh có công chống Pháp giành độc lập.

Sau khi đã bị thất bại không được Hoa Kỳ công nhận 2/9/1945, Hồ Chí Minh đã tương kế tựu kế làm ra Hiệp Ước Sơ Bộ ký với Sainteny ngày 6/3/1946 để mang Pháp về cai trị tiếp, cùng Pháp chia chát quyền lợi, nhất là được Pháp công nhận và dùng bàn tay Pháp để triệt hạ các đảng phái quốc gia. Đây là giai đoạn nước Pháp cầm quyền bởi Đảng Xã Hội thân cộng dẫn đầu bởi thủ tướng Felix Gouin (1/1946 - 6/1946).

Đến cuối 5/1946 tình hình lại khác đi. Nước Pháp đang thay đổi thành phần lãnh đạo thuộc phe hữu, không thân cộng lãnh đạo bởi thủ tướng Georges Bidault. Bởi thế mới có vụ thống đốc D’argenlieu lên Hà Nội gặp Hồ Chí Minh để nói về Hiệp Ước Sơ Bộ và cuộc họp tại Fontainebleau sắp diễn ra bên Pháp. D’argenlieu chống đối Hồ Chí Minh quyết liệt khi biết trong Hiệp Ước Sơ Bộ có điều khoản “thống nhất ba kỳ” và ông đã sáng suốt thấy âm mưu nhuôm đỏ luôn miền Trung và Nam. Thế nên để mua chuộc lấy lòng hay đánh phủ đầu D’argenlieu, ông Hồ đã ra lệnh cho treo giăng biểu ngữ, hoa đèn khắp thành phố cho là mừng sinh nhật lãnh tụ Hồ Chí Minh. Câu chuyện này đã được ông Vũ Thư Hiên kể trong phim tài liệu nói trên.

Như vậy thì đủ biết ông Hồ trong lúc này đang lo sợ bởi vì phe cánh nắm quyền bên Pháp đang là đối thủ của ông. Hiệp Ước Sơ Bộ đã không được thực hiện trọn vẹn, mặc dù cũng vì hiệp ước này mà có ít nhất 6 ngàn dân Hà Nội và nhiều thành viên của các đảng phái chính trị bị Pháp và Việt Minh sát hại. Phong trào chống thực dân Pháp từ 1945 trở về trước hoàn toàn khác với giai đoạn chống Pháp đầy mâu thuẫn từ 1946. Pháp của năm 1946 và đồng minh Hoa Kỳ phải đương đầu với thế lực bành trướng làn sóng đỏ của Stalin ở Âu Châu và Hồ Chí Minh, Mao Trạch Đông ở Á Châu...

Hồ Chí Minh ra lệnh Phạm Văn Đồng hướng dẫn phái đoàn sang Pháp dự hội nghị Fontainebleau để bàn vấn đề Việt Nam ngày 28/5/1946, nhưng ông biết chắc sẽ thất bại. Hồ Chí Minh đi riêng để tìm cách vận động dù rất yếu ớt. Từ 5/1946 đến 9/1946, ông đã gặp nhiều đảng viên cộng sản bên Pháp để tìm cách giúp ông, nhưng cuối cùng thì những người này cũng phải nói rằng nước Pháp đang coi Hồ Chí Minh là đối thủ.




Giáo sư William Duiker, tác giả “Ho Chi Minh A Life” đưa ra hình chụp khác thường (trên) của Hồ Chí Minh khi đang đến Paris liên quan tới hội nghị tại Fontainebleau. Ông ghi (trang 426):
In early June 1946, the French representative Jean Sainteny escorted Ho Chi Minh from Biarritz to Paris to attend the peace conference at Fontainebleau. Here Ho and Sainteny await the arrival of their plane at the airport in Paris. Sainteny, in his memoirs, noted that Ho Chi Minh appeared exceptionally nervous on the occasion. - Đầu tháng 6/1946, đại diện nước Pháp Jean Sainteny hướng dẫn Hồ Chí Minh từ thành phố Biarritz đến Paris để dự cuộc họp về hoà bình tại Fontainebleau. Đây (trong hình này) Hồ và Sainteny chờ máy bay tại phi trường Paris. Sainteny, trong hồi ký của ông, đã ghi nhận là Hồ Chí Minh tỏ ra rất lo sợ một cách dị thường trên vấn đề Fontainebleau.
Hình ảnh một ông Hồ được đề cao và tôn trọng bị phản lại khi tác giả ngưòi Pháp Pierre Brocheux trong cuốn "Ho Chi Minh A Biography" cho người đọc thấy một Hồ Chí Minh bị khinh thường. Hồ đến dự Lễ Độc Lập 14/7/1946. Người ta đặt ghế cho ông ngồi gần thủ tướng Bidault, nhưng ông Bidault tỏ ra không thíện cảm với Hồ và đã kéo ghế của mình xuống chút để không ngồi ngang hàng với “địch thủ.” Hiện tượng buồn cười này đã được Jacques Dumaine ( lo về sắp xếp, protocol) đăng trên báo sau đó.

Giáo sư Brocheux viết (trang 120) về những tuyên bố của Hồ Chí Minh:
The Fontainebleau Conference came to a sudden halt. The night before Ho was to return to Vietnam, Salan said to him – and Ho must have known it was true – “We are going to fight each other, and it will be very difficult.” Indeed, Ho had told Sainteny and Marius Moutet, “If we have to fight, we will fight...You will kill ten of us and we will kill one of you, but you will be the ones who grow tired.”- Cuộc họp Fontainebleau bị tạm ngưng. Đêm trước khi Hồ trở về Việt Nam, ông Salan nói với ông ta – và ông Hồ phải đã phải biết đó là sự thật – “Chúng ta sẽ đánh nhau, và nó sẽ rất là khó khăn.” Hơn nữa, Hồ đã nói với Sainteny và Marius Moutet “Nếu chúng tôi phải đánh, chúng tôi sẽ đánh...Các ông sẽ giết chúng tôi 10 người và chúng tôi sẽ giết các ông có 1, nhưng các ông sẽ là những người trở nên mệt mỏi.”
Người ta đã thấy rõ bản chất sắc máu trong ông Hồ. Ông chủ trương dùng chiến thuật “biển người” và “tiêu thổ kháng chiến” trong chiến tranh để đạt tới mục đích tối hậu là thực hiện chế độ cộng sản.Thế nên hằng triệu thanh niên miền Bắc đã là con vật thiêu thân qua chính sách của ông.

Sainteny là thành viên Đảng Xã Hội, cũng như Marius Moutet. Hai người này đã thật sự giúp ông Hồ, ngay cả cũng trong đêm gặp tướng Salan, ông Hồ đến nhà Moutet rất khuya để ép Moutet ký cái gọi là “Tạm Uớc Fontainebleau 14/9/1946” hay gọi là “Modus Vivendi” khi Moutet lúc đó là Bộ Trưởng Thuộc Địa, không đại diện quốc hội Pháp. Điều nầy nói lên mưu chước Hồ Chí Minh, khi hết phương cứu chữa thì dùng cách câu giờ. Ông mang “tạm ước” ký giữa hai cá nhân về Việt Nam gạt dân chúng là nước Pháp đã ký với ông. Như vậy thì ông đã hạ mình bằng mọi cách để được nằm trong "liên hiệp Pháp" cho Pháp hiện diện tại Việt Nam để tiếp tục cai tri. Thế thì sao gọi là chống Pháp? Dù vận động lòn cúi cách mấy Pháp cũng không chiu. Cuối cùng thì Hồ Chí Minh cũng phải chuẩn bị chiến tranh với Pháp, và khi ấy thì ông hô hào bằng những văn thư kêu gọi toàn dân chống Pháp, và ông thừa biết Pháp lúc này không phải Pháp thực dân hay xâm lược, mà Pháp của màu sắc chính trị mới sau thế chiến thứ 2 chấm dứt.

Giáo sư Brocheux nhận xét rằng khi bốn tháng ông Hồ ở Pháp về vụ Fontainebleau, ông Hồ đã ghi lại những hiện tượng trong năm 1946.

Brocheux ghi (trang 122):
He also noted international events that were important to him, like the declaration of independence in the Philippines in July 1946 and the U.S. atomic test on Bikini Atoll. But was it through ignorance or courtesy that he failed to mention the French evacuation of Lebanon and Syria in 1946, when France was forced to give up its colonialist claims in the Middle East? - Ông ta đồng thời ghi nhận những hiện tượng trên thế giới quan trọng đối với ông, như ngày tuyên bố độc lập của Philippines vào tháng 7/1946 và thử nghiệm bom nguyên tử Hoa Kỳ tại Bikini Atoll. Nhưng có phải do ngu dốt hay tế nhị mà ông ta đã không ghi nhận Pháp rút ra khỏi Lebanon và Syria vào 1946, khi nước Pháp bị ép phải bỏ những thỉnh cầu về quyền thuộc điạ tại Trung Đông?
Nước Pháp cũng như các nước có thuộc địa khác, trong giai đoạn 1946, đã trao trả độc lập lại cho tất cả các nước bị làm thuộc địa thì dĩ nhiên Việt Nam không ngoại lệ. Hơn nữa, trước đó, 11/3/1945, sau khi Nhật đảo chánh Pháp, vua Bảo Đại đã xé hoà ước 1884 ký với Pháp và đã tuyên bố Việt Nam độc lập. Như lời Brocheux trên, Hồ Chí Minh đã cố tình "quên" vụ Pháp trả độc lập cho Lebanon và Syria vào 1946, trước khi chiến tranh hai bên xảy ra vào 12/1946, bởi vì nếu nêu lên sự thật Pháp đánh Hồ không phải với mục đích thực dân hay xâm lược thì chắc chắn không huy động được quần chúng chống Pháp.

Tóm lại, vì tham vọng biến Việt Nam thành một chư hầu của quốc tế cộng sản mà ông Hồ Chí Minh đã bất chấp thủ đoạn. Hồ Chí Minh đã muốn biến cuộc chiến 1946-1954 từ ý thức hệ thành thực dân, thành xâm lược. Ông biết chắc nhãn hiệu “chống thực dân” và “chống xâm lược” thì toàn dân mới hưởng ứng, còn nếu nói ra sự thật Pháp chống ông vì ông là tên quốc tế cộng sản sừng sỏ thì chắc chắn sẽ bất lợi.

Như vậy thì huyền thoại Hồ Chí Minh có công chống Pháp giành độc lập cần được phanh phui nhiều hơn cho tuổi trẻ được rõ. Dù lịch sử bị cộng sản bóp méo, xuyên tạc, nhưng phảng phất trong những chi tiết, người ta có thể dùng nó làm đối chiếu với những tài liệu khác để tìm ra một kết luận cho riêng mình. Chiến tranh 1946-1954 chỉ là những trận chiến của cuộc chiến tranh ý thức hệ kéo dài tới 30/4/1975. Cố tổng thống Hoa Kỳ Nixon và Reagan là hai nhân vật am tường về cộng sản và có chính sách đối đầu rất có hiệu quả. Nixon, tác giả "No More Vietnam", đã viết (trang 31):
 
"An obsessive fear of associating with European colonial powers blinded successive American administrations to a very simple fact: Communism, not colonialism, was the principal cause of the war in Indochina." - Sự lo lắng về liên hệ với những thế lực thực dân Âu Châu đã làm lu mờ sự thành công của chính phủ Mỹ về một vấn đề rất đơn giản, đó là: Chủ nghĩa cộng sản, không phải thực dân, là nguyên do chính của cuộc chiến tại Đông Dương.

Bút Sử
7/2009

OSS và HCM

Bài viết này xin đưa ra hình ảnh, chứng minh, trình bày, so sánh, và nhận xét.

 

"OSS và HỒ CHÍ MINH" là cuốn sách cộng sản cho ra vào tháng 11/2007 tại Việt Nam. Ngoài cái tựa nổi bật còn kèm theo phụ đề: ĐỒNG MINH BẤT NGỜ TRONG CUỘC CHIẾN CHỐNG PHÁT XÍT NHẬT, TƯ LIỆU MỚI CỦA MỸ LẦN ĐẦU TIÊN ĐƯỢC CÔNG BỐ TẠI VIỆT NAM, TÁC GIẢ DIXEE R. BARTHOLOMEW FEIS, NHÀ XUẤT BẢN THẾ GIỚI.

Ở đây người viết bài này chỉ chứng minh một thủ đoạn trong rất nhiều điều sai trái ngụy tạo trong cuốn sách. Không khó để hiểu là vào thời điểm cộng sản Việt Nam đang cần Mỹ vào Việt Nam làm kinh tế thì lại có trò "thân thiện" với Mỹ, bớt những hô hào "chống Mỹ cứu nước," và nếu một người Mỹ phản chiến viết sách biện hộ cho Hồ Chí Minh là một vũ khí cộng sản Việt Nam không thể bỏ qua. Hơn nữa,chưa chắc người dịch sách trình bày đúng quan điểm và tinh thần của tác giả, và kinh nghiệm cho thấy cộng sản hướng dẫn người đọc theo khía cạnh tuyên truyền một chiều, xuyên tạc lịch sử. Ông William Duiker, tác giả "Hồ Chí Minh" cũng là một nhân vật mà có người cho rằng ông viết có lợi cho Hồ, vì Duiker, khi viết sách, cũng lấy tài liệu của cộng sản. Cộng sản không dám dịch sách của Duiker, bởi vì nếu dịch không đúng hay cố ý chuệch hướng thì có lẽ sẽ rất phiền về phương diện pháp lý. Duiker không phải là một nhân vật thân cộng hay phản chiến. Ngoài những điểm có lợi, trong sách ông đã đưa ra nhiều chi tiết mà cộng sản cho là bất lợi cho Đảng. Dẫn chứng như tác giả hỏi Nông Đức Mạnh có phải là con của Hồ Chí Minh không thì ông Mạnh trả lời "không", nhưng mẹ là người Tày phục vụ cho Hồ nhiều năm vào đầu thập niên 40. Câu trả lời này người ta tự hiểu ra Mạnh chính là con của bà Nông Thị Ngác (Trưng), một nữ cán bộ thân cận nhất của Hồ Chí Minh, gần đến mức mỗi ngày "chú Thu cháu Trưng" gặp nhau để học tập.

Trở lại với cuốn "OSS và HỒ CHÍ MINH." Hình trên, trang 360, phần dưới ghi: " Khi kết thúc "nghi lễ" chào đón phái đoàn của Patti, quốc ca của Mỹ và Việt Nam vang lên, những lá cờ của Quân Đồng Minh tung bay sát cạnh quốc kỳ mới của Việt Nam. Võ Nguyên Giáp đứng giữa trong bộ quần áo trắng, dẫn giải cho Patti đứng bên phải ông rằng ông sẽ nhớ mãi giây phút này vì lần đầu tiên lá cờ của Việt Nam được treo lên và bài quốc ca nổi lên trong một nghi lễ quốc tế."

Trong "Why Vietnam," 1980, tác giả Archimedes Patti đã trình bày rõ ràng, chứng minh bằng hình ảnh là: Ngày 26 tháng 8, 1945 (sau khi cướp chính quyền Trần Trọng Kim 19/8/1945) Việt Minh tổ chức buổi lễ "nghênh tiếp phái bộ OSS..." nhưng ông Patti, trưởng cơ quan tình báo Hoa Kỳ tại Đông Dương, được lệnh không ra mặt. Sau đó Võ Nguyên Giáp được Hồ Chí Minh chỉ thị kéo một phái đoàn đến ngay văn phòng của ông Patti tại Hà Nội. Họ mang theo cờ Mỹ, kèn trống trổ bài quốc ca Hoa Kỳ. Buộc lòng ông Patti phải thay lễ phục ra chào. Patti bị cộng sản chụp hình. Tấm hình này được ông Hồ đem ra cho dân chúng xem như một bằng chứng Hoa Kỳ đã ủng hộ chính phủ ăn cướp "Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa" Sách ghi trên: quốc ca Mỹ và Việt Nam vang lên...lá cờ của Quân Đồng Minh (chữ Hoa) tung bay sát cạnh quốc kỳ mới của Việt Nam...Nhưng tại sao trong hình này không thấy cờ Mỹ và cờ gọi là "quốc kỳ mới của Việt Nam"? Chỉ thấy Võ Nguyên Giáp và phái đoàn Việt Minh đứng cạnh ông Patti.

Đây là một hình ảnh lịch sử để thêm phần chứng minh tội đồ dân tộc Hồ Chí Minh. Hình dưới đây,  trong "Why Vietnam" trang 234, cũng ngay tại quang cảnh này, cũng ngay giờ phút chào cờ này lại có lá cờ Mỹ. Phải chăng hình này do người của OSS chụp nên có tính trung thực hơn. Người ta thấy rõ ràng chỉ có một lá cờ Mỹ được một người trong bộ đồ trắng cầm vươn lên. Cũng có thể cờ đỏ sao vàng kẹp kế bên nhưng không thấy lộ ra rõ rệt.

Tác giả ghi dưới hình: Ngày 26/8/1945, Hà Nội. Hồ Chí Minh gửi một phái đoàn chính thức dẫn đầu bởi Võ Nguyên Giáp để nghênh tiếp nhân viên OSS tại Hà Nội. Trong khi giàn nhạc  trổi bài quốc ca Mỹ, ông Giáp và phái đoàn của ông hiệp cùng tác giả (Patti) và nhóm OSS nghiêm chào cờ Mỹ.

Ông Patti đã không hề nhắc tới cờ Việt Nam. Tài liệu (Ban Giảng Huấn Việt Tộc, cơ sở Paris) cho thấy ngay ngày 2/9/1945 khi Hồ Chí Minh ra mắt tại Ba Đình, Việt Minh treo một số cờ đỏ sao vàng rải rác dựng lên trong đám đông. Đến 10 ngày sau, tức sau khi Hồ biết chắc Mỹ không công nhận chính phủ vừa thành lập, cờ đỏ cộng sản mới xuất hiện công khai hơn.

Trở về ngày Nhật chính thức đầu hàng đồng minh ngày 16/8/1945, sau hai trái bom nguyên tử. Hôm sau, ngày 17/8/1945, tại Nhà Hát Lớn Hà Nội có cuộc mít tinh của Tổng Hội Công Chức đòi Nhật trả độc lập thật sự. Trong khi các diễn giả hô hào dân chúng, các phần tử Việt Minh hạ cờ chính phủ Trần Trọng Kim. Hai ngày sau, 19/8/1945, cũng tại công trường Nhà Hát Lớn, một cuộc biểu tình lớn hơn được Việt Minh tổ chức và từ từ chiếm cứ các công sở (dựa theo tài liệu trong cuốn Sử Địa 12ab, Ban Giáo Sư Sử Địa, nhà xuất bản Trường Thi, Saigon, 1973). 

Sau đó Việt Minh và các phe nhóm Quốc Gia hợp tác nhau, nên chắc chắn ông Hồ không dám lộ hẳn bộ mặt cộng sản. Ngày 30/8/1945, Việt Minh tổ chức một cuộc biểu tình nữa để chống Pháp (đang nịnh Mỹ mà), hình ảnh trong "Why Vietnam" không thấy biểu tượng cộng sản, chỉ thấy vài hình vẽ cờ đỏ sao vàng trên biểu ngữ rất khiêm tốn. Nên ghi nhận rằng Việt Minh gồm nhiều thành phần, trong đó không ít người dấn thân làm cách mạng vì yêu nước thật sự, ngây thơ, không hiểu cộng sản là gì, lại bị mạng lưới tuyên truyền của cộng sản tung tin Liên Hiệp Quốc đã nhìn nhận nền độc lập của Việt Nam do Việt Minh lãnh đạo...

Nhưng dưới cái nhìn của chính trị gia Mỹ, giai đoạn này không thể lầm lẫn cho rằng vai trò Hồ Chí Minh là người quốc gia yêu nước được. Thậm chí, đang làm việc lãnh lương của OSS, Hồ Chí Minh còn có nhiệm vụ quan trọng hơn là mỗi ngày tập họp cán bộ để huấn luyện đường lối cộng sản quốc tế. Mỹ còn quay cả hình ảnh Hồ và cán bộ tập dợt mỗi sáng khởi đầu bằng bài "Quốc Tế Ca" của cộng sản, vừa ca vừa vươn tay đầy khí thế sắc máu. Trong quang cảnh rừng, buổi tập họp nào cũng có treo 2 hình: một bên là tướng Mỹ Chennault và một bên là cờ đỏ sao vàng (sic). Trong các tài liệu, cũng như video của Mỹ quay quang cảnh ngày 2/9/1945 lá cờ đỏ sao vàng được dưng quanh đám đông bên cạnh nhiều biểu ngữ tiếng Anh, tiếng Việt.

Chắc chắn cộng sản có trong tay cuốn "Why Vietnam" của Patti, nhưng họ lờ đi về tấm hình chỉ có lá cờ Mỹ này lộ ra sừng sửng.

 Người Mỹ ngay lúc dùng Hồ Chí Minh chưa phải quan tâm đương đầu trực diện với cộng sản vì còn bận chuyện hậuThế Chiến Thứ Hai và đương đầu với làn sóng đỏ của Stalin đang lan rộng ở Âu Châu. OSS thừa biết Hồ Chí Minh chính là quốc tế cộng sản Nguyễn Ái Quốc, nhưng vẫn sử dụng trong vai trò liên lạc qua lại giữa ranh giới Tàu Việt khi đang đối đầu với Nhật. Tài liệu cho thấy khi Hồ được OSS mướn dưới tên Hoo Chi Ming, được OSS đặt bí danh là Lucius, đứng hạng thứ 13 trong danh sách. Sự kiện này cho thấy sự tầm thường của vai trò Lucius.

Dixee Feis là ai? Cuốn sách này lại không được công chúng nhắc đến. Một cái tựa thôi đã thấy quá sai rồi, chắc chắn giới trí thức Mỹ không hề quan tâm. Hai chữ "đồng minh" không thể dùng bừa bãi được. Một người cộng sản ẩn danh được Mỹ dùng làm chuyện lặt vặt trong công tác liên lạc  mà lại gọi là "đồng minh" thì thật là hết ý! Súng đạn đâu để Việt Minh chống Nhật?  OSS còn phải huấn luyện Hồ Chí Minh và cán bộ Việt Minh cách dùng lựu đạn, cung cấp cho Việt Minh một số vũ khí khi cần, ngay cả một viên thuốc trị bệnh thổ tả Hồ cũng không có, OSS cũng phải cho để cấp cứu cho ông ta...Hình bên: Hồ Chí Minh nằm trên căn gác đang được Mỹ cho thuốc uống.

Thật ra, năm cuối năm 2007 vừa qua, cộng sản cho ra cuốn "OSS và HỒ CHÍ MINH" cho rằng "OSS là một đồng minh bất ngờ" cũng là sự lập lại cái dỏm của thời 1945 khi ông Hồ quá muốn Mỹ chấp nhận "Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa." Tài liệu từ ông Patti cho biết, ngày 26/8/1945 tại trước "phủ chủ tịch", Việt Minh tập họp dân Hà Nội với biểu ngữ to có các chữ như "nghênh tiếp phái bộ đồng minh Hoa Kỳ.Patti đã cảnh báo là ông ta và nhân viên OSS không phải là "phái bộ đồng minh" gì cả, và ông yêu cầu gỡ ngay biểu ngữ ấy xuống, nhưng không hứa rõ ràng là có ra dự hay không. Sau đó vì đoàn người đợi lâu quá không thấy Patti đến nên Hồ Chí Minh ra lệnh cho phái đoàn hướng dẫn đám đông tới ngay nhà thiếu tá tình báo Patti, như hình ảnh chúng tôi trình bày trên.

Câu hỏi là: Lý do gì  ngày nay cộng sản gieo vào đầu người dân cái "thân thiện" giữa Mỹ và cộng sản Việt Nam? Ngày xưa thì muốn Mỹ công nhận chính thức nên phải quỳ lụy bằng mọi cách. Ngày nay có khác gì không? Từng phái đoàn, từng nhân vật lãnh đạo như Phan Văn Khải, Vũ Khoan, Nguyễn Tấn Dũng, Nguyễn Minh Triết... qua Mỹ khúm núm cầu cạnh. Mỹ về Việt Nam thì Đảng mới có tiền dollars vào túi đều đều, còn về chính trị thì có phải muốn cho người dân cảm thấy Mỹ đã "nhận" "Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam?"

Một thứ tiểu xảo mà cộng sản hay dùng qua phương pháp ông Hồ dạy "cứ nói láo, nói láo mãi rồi cũng có người tin là như vậy."  Họ muốn người dân phải tin là cộng sản có công đánh Nhật. Thật ra thì cộng sản có công cướp chính quyền mà công này họ đã và đang hô hào. Nếu Mỹ không thả hai trái bom nguyên tử tại Nhật để buộc Nhật đầu hàng thì cộng sản làm sao có cơ hội cướp chính quyền? Một sự thật hiển nhiên là vậy. Thế mà khi ông Nguyễn Chí Thiện, thời là một trí thức trẻ, dạy học trò là Việt Minh không có công đánh Nhật gì cả thì ngay tức khắc ông bị Đảng bỏ tù. Cái tù này làm thêm động lực cho sự tố giác tội ác cộng sản trong hàng trăm bài thơ đầy khí phách. 

Ngoài bìa cuốn sách ghi: "TƯ LIỆU MỚI CỦA MỸ LẦN ĐẦU TIÊN ĐƯỢC CÔNG BỐ TẠI VIỆT NAM." Thật là quá trớn, xem thường sự hiểu biết của người đọc. Đây là "tư liệu" thì cũng không sai, một cuốn sách do một Mỹ cộng hay thân cộng viết cho phe cộng sản, nhưng thủ đoạn ở chỗ  là làm cho tuổi trẻ thiếu kiến thức hiểu như "tư liệu của Mỹ." Chữ "Mỹ" đây được xem như "chính phủ" hay "dân chúng" nói chung. Tại quốc gia tự do dân chủ Hoa Kỳ, Đảng Cộng Sản Mỹ vẫn hoạt động đấy chứ, nhưng có bao nhiêu người ủng hộ? Có chăng nhóm họ chỉ dám lên website trình bày lung tung về thuyết Marx Lenin, những tin tức có nội dung đánh phá các chính đảng tại Hoa Kỳ. Tháng 12/ 2006, trong website của Đảng Cộng Sản Hoa Kỳ, có đăng hình ông đảng trưởng Sam Webb đến Việt Nam gặp Nông Đức Mạnh. Ông cộng sản Mỹ này được hướng dẫn tới thăm học sinh của một trường học tại Hà Nội. Các em học sinh chạy ồ ạt ra chào mừng. Thật là một cảnh đời bi đát của thế kỷ 21! Có đời nào những hãng thông tấn Hoa Kỳ hay thế giới làm tin về chuyện cộng sản Mỹ này? Cuốn sách của Dixee Bartholomew Feis chẳng qua chỉ đóng một vai trò nhỏ hẹp để cộng sản Việt Nam sử dụng làm vũ khí tuyên truyền.

Phải nói cộng sản không ngại dùng tiền cho công tác tuyên truyền. Những thành phần được cộng sản trả tiền làm những nhiệm vụ được giao phó, hay cộng sản viết hết và một người khác chỉ cần đứng tên tác giả. Tại thủ đô tỵ nạn Little Saigon cũng không thiếu những Việt gian, họ lấy tiền của cộng sản chi ra làm việc phá hoại cộng đồng, gây chia rẽ...Trong các tổ chức tôn giáo cũng có cộng sản gài vào mang bộ mặt quốc gia nhưng làm toàn chuyện phá hoại. Kế hoạch tuyên truyền từ trong ra ngoài nước, đánh phá những người đấu tranh, ru ngủ, kêu gọi người về làm kinh doanh, v.v.. đều nằm trong nghị quyết 36 của Đảng.

Ngày xưa, trước khi ra mắt ngày 2/9/1945, Hồ Chí Minh dùng tấm hình tướng Mỹ Chennault (Hồ yêu cầu Chennault ký tên sau tấm hình) đem phổ biến rằng Mỹ hậu thuẫn Việt Minh để lấy thêm lòng ủng hộ trong dân chúng, bởi vì lúc này Mỹ là số một, là hàng đầu trong phe đồng minh thắng phe phát xít, lại có thế lực và giàu có.Thế nên, ngày 2/9/1945, dân Hà Nội cứ tưởng Mỹ cùng phe Việt Minh nên ra đông chào đón. Nhiều người còn chưa biết Hồ Chí Minh là ai, ngay cả những người Pháp chưa ra khỏi Việt Nam cũng có mặt trong ngày này; họ phải dùng ống dòm nhìn lên sân khấu xem Hồ Chí Minh là ai, cuối cùng nhận ra chính là quốc tế cộng sản Nguyễn Ái Quốc.

Nếu Mỹ không nhận thì còn ai? Phe cộng sản thì sao? Nga đang lo chuyện bành trướng tại Đông Âu, Tàu thì do Tưởng Giới Thạch. Không nước nào cả, tất cả coi như kiệt quệ sau chiến tranh, còn về mặt chính trị thì nhiều nơi chưa ổn định...Nơi không ổn định nổi bật là Pháp, quốc hội thay như thay áo...Ngay lúc bị Hoa Kỳ không nhìn nhận, Hồ nhanh tay làm ra kế hoạch đem Pháp (Pháp cộng sản) về Việt Nam để công nhận và cùng hợp tác với ông ta. Khi chính trường thay đổi - Pháp đã thay đổi quốc hội bằng một đảng không thân cộng- Pháp thẳng tay trừng trị Hồ với sự hỗ trợ của Hoa Kỳ. Chính vì ông Hồ mang Pháp về qua Hiệp Định Sơ Bộ 6/3/1946 để Pháp có cớ đánh lại phe quốc gia, và khi bị Pháp bỏ rơi thì ông ta lại hô hào toàn dân chống Pháp.

 Người ta đã bị mắc mưu họ Hồ. Bài học đó đến nay có nên đem ra cho thế hệ con em suy ngẫm khi toàn dân đang bị chi phối bởi một hệ thống độc tài toàn trị, mà lãnh đạo đảng tôn thờ là Hồ Chí Minh. Nay cộng sản đem Mỹ vào để cứu nền kinh tế què quặt, đồng thời hô hào chiêu bài "da cam" để mong có chút "chính nghĩa" trong cuộc chiến tranh tương tàn giết hại đồng loại để phục vụ cho tập đoàn quốc tế cộng sản...Đồng thời, mâu thuẫn chồng chất mâu thuẫn phát ra từ nội tâm của Đảng. Tấm hình trong cuốn "OSS và HỒ CHÍ MINH" và những lời ghi chú nịnh bợ nói lên bản chất bất di dịch của Đảng Cộng Sản Việt Nam và theo gương lãnh đạo Hồ Chí Minh. Hiện tại cũng vậy, còn ai ngoài Hoa Kỳ cho tiền nuôi tấm thân của Đảng? Ngày trước, ông Hồ cho người dân có cảm tưởng Hoa Kỳ "cùng phe" để trấn an lòng dân để ủng hộ ông thêm, nhưng rồi sau đó lãnh quả đấm nặng nề làm hơn 600 ngàn bộ đội mất mạng trong chiến tranh mà miền Nam là tiền đồn chống cộng, một miền Nam nhỏ bé được đồng minh Hoa Kỳ hỗ trợ đối đầu lại cộng sản miền Bắc xâm lăng, và phải nói cả khối cộng sản quốc tế sừng sỏ. Ngày nay, hậu trường của cái sân khấu "thân thiện" này có hậu quả gì?

Bây giờ Đảng cũng đang muốn "gần" Mỹ như cách vá víu kiểu "kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa", cho thêm cái đuôi lòng thòng sau lưng để có đà mà dựa. Tiền thì phải dolllar, xe hơi thì phải của Nhật, Mỹ...nhưng miệng phải hô hào chủ nghĩa Marx Lenin, Hồ Chí Minh, và tiến tới độc đảng với người anh em Trung Cộng. Ngày ngày cả khối tay sai múa men với bao nhiêu mỹ từ cao đẹp trong cái dối lòng được bao bọc bởi Đảng. Loạn cả!

Nhưng rồi cái thân "đu giây" của Đảng kéo dài được bao lâu? Đu sao cho khéo, không thì bị đàn anh vĩ đại môi hở răng lạnh Trung Cộng cho một bài học đắng cay như 1979. Hay rồi cộng sản Việt Nam không xa sẽ bị lệ thuộc hoàn toàn vào Trung Cộng, còn tệ hơn Tây Tạng hiện nay?

Chủ trương lừa lọc, bất chấp dư luận, dùng thủ đoạn để mị dân miễn sao đạt được mục đích mà người cộng sản đã và đang thực hiện nhiều năm qua là hiểm họa vô cùng sâu rộng cho tương lai dân tộc. Tuổi trẻ là những thành phần lãnh đạo đất nước lại bị nhồi nhét những điều sai lầm, không tưởng. Đất nước Việt Nam sẽ đi về đâu?

Bút Sử 08/08


Ảnh Hưởng của Lenin trong HCM

 

                                 

Lenin's Influence on Ho Chi Minh.

Was Ho Chi Minh first and foremost a simple Vietnamese nationalist who used communism as a convienient tool? Or did his commitment to Marxism-Leninism run much deeper? ( Hawkins III)

Hồ Chí Minh trước tiên có phải là người quốc gia, ông đã dùng lý thuyết cộng sản như là một phương tiện? Hay ông đã tự uỷ nhiệm chủ nghĩa Mac Le một cách rất sâu đậm?

 

Trên là tựa một bài viết của A.W.R. Hawkins III trong cuốn Vietnam (magazine). Để đưa ra kết luận cho tiền đề trên, tác giả cũng là giáo sư tại trường đại học Texas Tech University in Lubbock, sau thời gian truy cứu từ những tài liệu, trong đoạn kết ông đưa ra Hồ Chí Minh là người đã rất say sưa chủ thuyết Mac Le, không có gì nói về quốc gia dân tộc Việt Nam cả.

 

Việc cướp chính quyền, ngày 19/8/1945, là cái đà để Hồ thực hiện chế độ độc tài toàn trị trên miền Bắc theo đường lối Lenin chỉ dạy. Những gì Lenin nói hầu như Hồ Chí Minh bắt chước nguyên vẹn, không có tư tưởng hay điều gì mới phát xuất từ chính nơi Hồ. Hawkins đưa ra dẫn chứng (hình trên), hình chụp, hai cuốn sách: sách của V. I. Lenin tựa "What is To Be Done", 1902; sách của Hồ Chí Minh có tựa "Sửa Đổi Lối Làm Việc", 1954. Trong sách của Hồ Chí Minh, những ý tưởng lề lối cách thức hoàn toàn từ cuốn của Lenin. Thay vì dịch nguyên văn ra tiếng Việt, nhưng không, Hồ Chí Minh thích làm chuyện "nhái lại" của người khác, nhưng làm ra vẻ mình cũng có tư tưởng và biết nhận thấy của người khác là hay.

 

Trang 26, cuốn Vietnam, tháng 08, 2006, nguyên văn:

"The Japanese were dealt a crushing blow that year by the United States' use of two atomic bombs, one on August 6 and the second on August 9. Japan's resolve to hold onto Vietnam was weakened, while simultaneously the Vietamese were emboldened to demand that Japan relinquish its grip on their nation. The Japanese units that did not capitulate were to be annihilated. On August 16 the Natìonal People's Congress convened, and the "frail, wan, elderly" man, significantly weakened by a recent illness and dressed in "faded indigo clothing," was recognized as the leader of the Vietnamse people.

Two weeks later, on September 2, Ho declared his nation's independence with words drawn from the America's Declaration of Independence: "All men are created equal. They are endowed by their Creator with certain inalienable rights; among these are Life, Liberty, and the pursuit of Happiness" other words were drawn from the Declaration of the French Revolution:" All men are born free and with equal rights, and must always remain free and have equal rights; and still others from the Leninist language of "Democratic Republic," which is what Ho declared Vietnam to be.

More than three decades after Ho Chi Minh's death in 1969, his legacy is seen in varied ways. For some, he personified anti-imperialism, in that he stood up to the bullies of the West and was a hero of the people. For others, he defended and propelled the movement of progressivism throughout the world. For many Americans, he simply was the enemy leader who inspired Vietnam's communist troops to keep fighting. Leninism was the common thread that bound these various aspects of his legacy together, for it was Lenin and his thoughts that guided Ho along the way.

As Ho himself wrote:" In Lenin's life, he was our father, teacher, comrade, and adviser. In his death he is our guiding star that leads to social revolution. Lenin lives on in our deeds. He is immortal."

 

Nhận xét về đoạn văn trích trên của giáo sư Hawkins, chúng ta thấy bộ mặt thật của Hồ Chí Minh, đúng hơn là bộ mặt phù phép, biến hình cải dạng đủ chiều đủ cỡ, nói sao cũng được, khi thì thế này khi thì thế khác. Nói tất cả cho quốc gia dân tộc, một mặt lại là tên tay sai vô cùng đắc lực của quốc tế cộng sản, ca ngợi Mac Le... Chủ nghĩa cộng sản là đối nghịch lại tư bản, hay nói đúng hơn kẻ thù của cộng sản mà cộng sản muốn tiêu diệt không ai khác hơn là khối tự do đứng đầu bởi Hoa Kỳ.

 

Sau khi cướp chính quyền (Hồ chụp cơ hội Nhật bị 2 quả bom nguyên tử nên đầu hàng), ngày 2 tháng 9, 1945, trong "Tuyên Ngôn Độc Lập," Hồ Chí Minh lại dùng ngay những câu trong Bản Tuyên Ngôn Độc Lập của Hoa Kỳ, trong Tuyên Ngôn của Cách Mạng Pháp, và một số ngôn ngữ của Lenin về "Dân Chủ Cộng Hòa." Ngay trong lúc này đã thấy sự nô lệ vô bờ bến của Hồ thay vì "độc lập" không dựa vào ai. Nếu cho rằng Hồ là một người tài giỏi, một anh hùng dân tộc, sao chỉ có một bài diễn văn viết cũng không được, phải "ăn cắp" (Hawkins dùng chữ "drawn = lấy ra từ) của Hoa Kỳ và Pháp. Tại sao Hồ Chí Minh khi theo cộng sản đã lên án khối tư bản, khối tự do là xấu, là cướp bóc sức lao động của người khác, mà ngay ngày quan trọng nhất, ngày nói lên quan điểm, mục đích chủ trương của mình, ngày đặt đường lối cho đất nước dân tộc lại lấy ngay cái cốt lũy của nước kẻ thù làm căn bản?

Nói tóm lại, Hồ Chí Minh, theo chủ trương của cộng sản, lúc nào, hoàn cảnh nào cũng phải biết lèo lái con thuyền vận mạng của Đảng Cộng Sản. Tất cả việc làm đều nhằm mục đích phục vụ Đảng. Hồ phải nhượng bộ Hoa Kỳ lúc đó để Hoa Kỳ nhìn nhận. Nga và Tàu chưa lộ hẳn bộ mặt cộng sản một cách công khai. Sau thế chiến thứ 2, chỉ còn Mỹ được xem như thắng thế trên chính trị và kinh tế. Còn ai ngoài Hoa Kỳ để Hồ Chí Minh dựa vào?  (Who else? Who else Ho was asking for help except the US, nói theo lời đại uý Grelecki, thuộc nhóm tình báo OSS của ông Archimedes Patti).

 

Hồ Chí Minh xanh vỏ đỏ lòng là vậy. Hồ "đu giây"- đang là một đảng viên quốc tế cộng sản đắc lực, nhưng lại mong phe thù địch công nhận "chính phủ."  Chủ trương của Hồ là làm tất cả những gì có thể làm miễn sao thực hiện được mục đích dù phương tiện đó có tàn bạo có dã man đến mấy cũng được. Phải giả nhân giả nghĩa, phải chiêu dụ lòng người, phải nói láo, hay rõ hơn hết phải là một đại kịch sĩ! Bởi do chính sách tuyên truyền, bưng bít, tự biên tự diễn, tự mình viết tiểu sử mình, tự mình đánh bóng mình, tự mình khen ngợi mình mà những cây viết người ngoại quốc cũng trở thành "nạn nhân". Họ cũng phải truy cứu từ các sách của phe cộng sản. Nhưng may mắn cũng còn một số tài liệu trung thực từ các thành phần khác mà ngày nay bộ mặt thật của Hồ Chí Minh mới lộ diện rõ ràng hơn, dù ông chỉ còn là cái xác khô đang được trưng bày để làm bùa cho Đảng.

 

Để kết thúc bài viết, một cách không nghi ngờ, một bằng chứng hùng hồn khi nói về não trạng và tâm huyết của Hồ Chí Minh, không gì hơn là lấy ngay chính lời của Hồ. Giáo sư Hawkins trích ra lời của Hồ: "Trong đời sống hiện thực của Lenin, ông là người cha, là bậc thầy, là bạn đồng hành, và là một người cố vấn. Trong cõi chết, Lenin là ánh sáng soi đường  để dẫn tới cuộc cách mạng xã hội. Lenin hiện diện trong tất cả việc làm, hành vi của chúng ta. Ông là bất tử!" 

 

Lenin và chủ thuyết cộng sản đệ tam quốc tế không có một liên hệ gì với truyền thống dân tộc Việt Nam, từ văn hoá, chính trị cho tới mọi khía cạnh khác cho đến khi Hồ mang về Việt Nam một hình ảnh Tây Phương lông lá  và một chủ thuyết không tưởng rồi ép bắt dân tôn sùng.Chiêu bài nói rằng Hồ Chí Minh là người quốc gia (nationalist) đã bị vạch trần. Hãy nhìn tấm ảnh tượng trưng bên cạnh bài viết của ông Hawkins: đôi mắt Hồ Chí Minh trên gương mặt Lenin. Tác giả có ngụ ý gì? Người đọc chắc hẳn đã hiểu rõ!

 

Bút Sử


Không Nên Để Cái Xác Khô Giữa Hà Nội


Nhàn SF

Từ khi chế độ cộng sản tại Liên Sô và các nước Đông Âu sụp đổ, nhiều bí ẩn về Hồ Chí Minh (HCM) đã được phơi bày ra ánh sáng qua các tài liệu xuất phát từ văn khố của các quốc gia cũng như qua sự liên tiếng của những cựu cán bộ cộng sản như Nguyễn Minh Cần, Vũ Thư Hiên, Bùi Tín, Hoàng Quốc Kỳ…

Huyền thoại "XUỐNG TÁU TÌM ĐƯỜNG CỨU NƯỚC" đã được phanh phui bằng lá thư hiện đang lưu trữ tại văn khố Pháp do chính ông Hồ ký tên Nguyễn Tất Thành, viết ngày 15/9/1911 ngay trên tàu "L'amiral la touche Treville" từ Marseille gửi đi. Trong thư ông Hồ xin Tổng thống Pháp cho vào học trường thuộc điạ (Ecole Coloniale) với câu: 'tôi muốn trở thành hữu ích cho nước Pháp đối với đối với đồng bào tôi." Trường Thuộc Địa là trường đào tạo các chuyên viên ra làm quan tại các thuộc điạ của Pháp, một chức vụ mà chính HCM sau này đã lên án là "bóc lột", hô hào cần phải tiêu diệt.

Huyền thoại về "BÁC HỒ HY SINH CHUYỆN VỢ CON ĐỂ LO CHO DÂN CHO NƯỚC" mà chính HCM đã từng lấy đó để hãnh diện khi khuyên răn cán bộ, đảng viên, thanh niên học sinh là "HỌC TẬP THEO BÁC THÌ HỌC CÁC THỨ CHỨ ĐỪNG HỌC VIỆC KHÔNG LẤY VỢ VÀ HÚT THUỐC CỦA BÁC NHÉ". Rồi như để chứng minh rằng mình vẫn còn " trai tơ ", tại lớp Chỉnh Đảng Trung Ương khoá 1 có hai phụ nữ nhờ Bác "gỡ rối tơ lòng" Bác đã hóm hỉnh trả lời " Chuyện quan hệ vợ chồng mà cô hỏi Bác thì có khác gì hỏi nhà sư mượn lược "….tất cả … ngày nay đã bị lột trần.

Theo tài liệu cho thấy ông Hồ đi đến đâu có vợ đến đó. Pháp thì có cô Marie Briere, Quảng Châu có Tăng Tuyết Minh, Mạc Tư Khoa có Vera Vasilieva , tằng tịu với vợ của Lê Hồng Phong là Nguyễn Thị Minh Khai, lấy Đỗ Thị Lạc là người phụ nữ duy nhất trong đoàn người từ Trung Quốc trở về nước, ăn ở với cô gái Nùng Nông Thị Xuân có con rồi cho bộ hạ là Trần Quốc Hoàn giết cô này phi tang khi cô muốn hợp thức hoá cuộc hôn nhân. Tháng 2 năm 1941 trở vế nước ở hang Pắc Bó Hồ Chí Minh lại "liên quan" đến một cô gái Tày tên Nông thị Ngát là "nữ đồng chí" được tuyển chọn và huấn luyện làm giao liên cho Hồ Chì Minh. Kết quả của mối tình giữa " chú Thu" (ông Hồ tự xưng là Chú chứ không còn là Bác nữa) và cháu Nông thị Trưng (tên do Hồ Chí Minh đặt cho Nông thị Ngát) là sự ra đời của Nông Đức Mạnh. Chính Nông Đức Mạnh trả lời gián tiếp khi nói với tác giả cuốn "Ho Chi Minh", ông William Duiker, rằng: "tôi từ chối lời đồn, nhưng tôi quả quyết rằng mẹ tôi là một thành viên của cộng đồng người thiểu số, và bà cũng là một người phục vụ (servant) cho HCM sau khi HCM trở về VN trong đầu thập niên 40."

THẾ CÒN HUYỀN THOẠI VỀ "CHẶNG ĐƯỜNG NGUYỄN Ái Quốc" ?

Theo báo Đảng cũng như do chính Hồ Chí Minh qua bút hiệu Trần Dân Tiên viết ra thì thời gian ở hải ngoại từ tháng 6 năm 1919 Bác Hồ đã thành lập hội " Người Việt Nam yêu nước", ký tên Nguyễn Ái Quốc cũng như bản yêu sách 8 điểm gửi các đoàn đại biểu dự hội nghị Verseille yêu cầu tôn trọng quyền tự do bình đẳng của nhân dân Việt Nam, phát hành tờ báo "Người cùng khổ" (Le Paria) do Bác làm chủ nhiệm kiêm chủ bút . Từ đó cái tên Nguyễn Ái Quốc trở thành mối lo ngại mất ăn mất ngủ cho chính phủ Pháp và chính quyền thực dân Pháp ở Đông Dương…."

Sự thật thì sau thế chiến thứ Nhất 1914-1918 trong các truyền đơn chống thực dân Pháp ngay tại Pháp đã ký tên Nguyễn Ái Quốc đi với giòng chữ " Thay Mặt Nhóm NHững ngườI Aí Quốc An – Nam- Mít" ( Pour le groupe des Patriotes Annamites : Nguyễn Ái Quốc ). Nhóm này, mới đầu gồm 3 người là Phan Chu Trinh – Phó Bảng sang Pháp năm 1911, Phan Văn Trường -luật sư- sang Pháp 1908 và Nguyễn Thế Truyền - cử nhân – sang Pháp 1910. Sau đó thêm 2 người là Nguyễn An Ninh- năm thứ hai trường luật- sang Pháp 1917 và Nguyễn Tất Thành -tiểu học- đến Pháp 1917. Hội "Người Việt Nam yêu nước" thành lập năm 1914, lúc đó nhóm còn gọi là " Tam Long" và Nguyễn Tất Thành còn sống bên Anh chưa gia nhập nhóm thì Nguyễn Ái Quốc này làm sao có thể là tên riêng của Hồ Chí Minh cho được ?

Linh hồn của nhóm Ngũ Long là cụ Phan Chu Trinh, thường đưa ra ý kiến trong các bài báo chống thực dân, còn Nguyễn Thế Truyền , Phan văn Trường và Nguyễn An Ninh thì lo phần phiên dịch ra tiếng Pháp và Nguyễn Tất Thành thì chỉ có nhiệm vụ đem giao cho các nhà báo với một bút hiệu chung là Nguyễn Ái QUỐC. Như vậy 5 người trong nhóm viết bài đêù ký tên là Nguyễn Ái Quốc . Sự thật trong 5 ngườI này Hồ Chí Minh là người có trình độ học vấn kém nhất ( tiểu học)

Vậy cái tên Nguyễn Ái Quốc mà báo Đảng ca tụng là đã làm cho thực dân mất ăn mất ngủ, có thể nào độc quyền dành cho riêng ông Hồ được hay không ? Thêm nữa chính ông Hồ ký tên Trần Dân Tiên trong " Những Mẩu chuyện về cuộc đời hoạt động của Hồ Chủ Tịch cũng đã tự nhận rằng rằng "…ý kiến đưa yêu cầu là do ông Nguyễn đề ra nhưng lại do luật sư Phan Văn Trường viết vì lúc bấy giờ ông Nguyễn chưa viết được tiếng Pháp". Cũng trong quyển sách này Trần Dân Tiên ( ông Hồ) mô tả Nguyễn Tất Thành như là "một người cực kỳ nguy hiểm cho Pháp vì đã dám bóc trần những tội ác của thực dân Pháp ngay ở Paris. Chính vì thế mà ông Nguyễn bị thực dân thù ghét rình mò doạ dẫm đến nỗi Bộ trưởng bộ thuộc địa là Albert Sarraut đã phải mời ông Nguyễn đến nói chuyện" ( sđd trang 36-37).Sự thật ra sao?

Trong khi đó, ông Hồ Hữu Tường, cộng sản đệ tứ, trong cuốn hồi ký " Bốn Mươi Mốt Năm làm Báo"khi viết về nhóm Ngũ Long đã kể câu chuyện cụ Phan Chu Trinh đánh lừa Bộ Trưởng thuộc đia Abert Sarraut , xin được tóm tắt như sau :

"Cụ Phan Chu Trinh chủ trương chống Pháp bằng đường lối ôn hoà, viết báo tuyên truyền , hội họp diễn thuyết. kết thân với các nhà trí thức Pháp có lập trướng ủng hộ những dân tộc bị trị giành lại độc lập. Những bài viết ký tên Nguyễn Ái Quốc được khâm phục và người ta tò mò muốn biết Nguyễn Ái Quốc là ai nhất là các thám tử Pháp. Nhân tại câu lạc bộ Faubourg có một thanh niên ( Nguyễn Tất Thành) đứng ra phát biểu tự xưng là Nguyễn Ái Quốc khiến thám tử mừng rỡ viết tường trình về cho Bộ trưởng về một Nguyễn Ái Quốc bằng xương bằng thịt. Bộ trưởng Thuộc điạ không tin , cho rằng "ngườI viết những bài báo ký tên Nguyễn Ái Quốc chỉ có thể là Phan Chu Trinh mà thôi", và để xem nhận xét của mình có đúng không , Bộ trưởng Albert Sarraut đã ra lệnh tống trát đòi Nguyễn Ái Quốc phải đến gặp ông. Trát lại gửi về nhà cụ Phan Chu Trinh. Cụ Phan mới gọi Nguyễn Tất Thành cầm tờ trát đến gặp ông Bộ trưởng và dặn nói như thế này " Nguyễn Ái Quốc là tôi, may mà trát gửi đến nhà chú tôi đưa lại, không thì lạc mất. Từ nay về sau hễ muốn gặp tôi thì gọi ngay tôi nơi địa chỉ, đừng làm phiền chú tôi nữa". Ông Bộ trưởng đành câm miệng chịu thua. Hôm đó nhóm Ngũ Long mở tiệc ăn mừng. CuốI năm 1922, Nguyễn An Ninh về nước, rồi Nguyễn Tất Thành đi Nga cắt đưt liên lạc với nhóm , 1923 cụ Phan Văn Trường về nước và cụ Phan Chu Trinh về 1925. Nhóm Ngũ Long tan rã." ( trích từ quyển " Thân thế và sự nghiệp của nhà cách mạng Nguyễn Thế Truyền của Đặng Hữu Thụ- Paris 1993 ).

Kể từ khi trực diện với Bộ trưởng Bộ Thuộc địa Albert Sarraut, Nguyễn Tất Thành đã mang tên mới là Nguyễn Ái Quốc, một biệt danh mà nhóm cụ Phan Chu Trinh đã dùng để ký tên viết báo chứ không lộ chịu lộ danh tánh của mình.
Năm 1924, do đơn xin và được chấp thuận bởi cộng sản Nga, Nguyễn Ái Quốc được đưa qua Trung hoa hoạt động gầy dựng cơ sở để làm cách mạng áp đăt chủ nghĩa cộng sản vào Việt Nam. Vì là đảng viên cộng sản quốc tế đang bị theo dõi, muốn che dấu để dễ hoạt động cho nên Nguyễn Ái Quốc đã phải đổi tên là Lý Thụy với chức vụ phóng viên cho một hãng thông tấn làm việc cho Borodin nhân viên tình báo Nga tại Quảng Châu.

GIỜ ĐÂY LẠ ĐẾN HUYỀN THOẠI VỀ "CÁI LĂNG CỦA BÁC"

Trên tờ Register ngày 13/6/1999 xuất bản n tại Nam California có ghi lại lời của một cựu đảng viên cộng sản nói về lăng của HCM như sau:

"Thực ra ông Hồ muốn xác mình được hoả táng chứ không phải ướp thuốc hoá học và mặc quần áo đẹp để lên cho quần chúng chiêm ngưỡng."

Ngay trên tờ di chúc được công khai phổ biến ông Hồ đã viết rằng:" SAU KHI TÔI QUA ĐỜI CHỚ NÊN TỔ CHỨC LINH ĐÌNH, LÃNG PHÍ NGÀY GIỜ VÀ TIỀN BẠC CỦA NHÂN DÂN"
Như vậy việc xây lăng không phải là ý muốn của ông Hồ mà do bộ chính trị đảng tự ý xây cất? Sự thật như thế nào?

Trong quyển "Ma Đầu Hồ Chí Minh", cựu cán bộ Hoàng Quốc Kỳ đã viết lên tất cả những gì mắt thấy tai nghe trong suốt thời gian ông làm việc kế cận HCM. Theo ông Hoàng Quốc Kỳ, lăng HCM được xây toàn bằng đá qúy cẩm thạch lấy từ núi Rual bên Nga và kỹ thuật ướp xác xây lăng theo cung cách vua chúa rất phức tạp, phải chuẩn bị một thời gian khá lâu.

Năm 1965 thấy sức khỏe yếu kém, HCM nghĩ đến việc nhờ Liên Sô ướp xác xây lăng cho mình giống như Lenin và Stalin. HCM đã soạn thảo kế hoạch do chuyên viên thương mại tại Mạc Tư Khoa Trần Hữu Lạc thương thảo với phía Liên Sô dưới sự chỉ đạo và giám sát chặt chẻ của Tham Tán Thương Mại tại Mạc Tư Khoa là Nguyễn Tu và đại sứ Việt cộng tại Mạc Tư Khoa là Võ Thúc Đồng.

Việc trước tiên là hai chính phủ ký một bức giác thư (memorandum) để các cơ quan thiết kế và xây dựng duyệt xét đồ án, chiết tính vật liệu nhân công. Sau đó các công ty thương mại mới ký hợp đồng gốc qui định bổn phận và trách nhiệm của hai bên. Căn cứ vào hợp đồng gốc này, hai bên còn phải ký những hợp đồng phụ lục (annex hay supplement) như hợp đồng phụ lục về lương bỗng, ăn ở, đi lại, thuế má của các chuyên viên, hợp đồng phụ lục mua bán vận chuyển vật liệu v.v.. Thời gian ký kết như thế cũng phải mất cả năm, rồi sau đó Liên Sô mới cho công nhân lên núi Ural đập phá, chở thiết bị máy móc qua Việt Nam. Nhờ sự chuẩn bị kỹ càng như vậy nên việc thiết kế lăng tẳm, chọn màu sắc các loại cẩm thạch, lót men bên dưới cũng như tường bên trong và bên ngoài, kiểu cách và kích thước, chữ làm bằng vàng khắc lên lăng, cho đến các thiết bị máy móc lớn nhỏ đặt trong lăng đều theo đúng ý muốn của HCM.

Như vậy bảo rằng HCM chết rồi, mở di chúc ra coi, Đảng họp nhau bàn luận quyết định không theo ý muốn "hoả thiêu" của Bác mà ướp xác xây lăng cho công chúng chiêm ngưỡng chỉ là điều bịp bợm. Một lần nữa Đảng lại đứng ra chịu tội, một cái tội đã dám "cãi lời lãnh tụ" tiêu pha hoang phí cho việc xây lăng ướp xác, chẳng khác nào cái tội giết người trong chiến dịch "cải cách ruộng đất" năm xưa của Bác đã được biện hộ rằng "Bác không sai, chỉ có cấp dưới mới làm sai."

Vào giữa năm 1969, HCM hôn mê sửa soạn đi thăm bác Lê bác Mác thì một chiếc máy bay Liên Sô trang bị đặc biệt đã được túc trực sẵn tại phi trường Nội Bài. Khi HCM tắt thở, xác được đưa ngay vào bệnh viện hữu nghị Việt Sô để các chuyên gia ướp xác người Nga móc bỏ các bộ phận bên trong, son phấn rồi đặt vào hòm kiếng do Liên Sô chế tạo theo đúng kích thước đã được đo từ năm trước theo hợp đồng đã ký giữa hai bên. Hòm kiếng được đặt trong hội trường Ba Đình cho quan khách quốc tế viếng thăm. Sau 7 ngày xác HCM được đưa vào một cái hang ở Hoà Bình. Hang này được xây trước đó 2 năm, trở thành một phòng thí nghiệm với đầy đủ điều kiện về nhiệt độ, độ ẩm, và vô trùng cùng những phương tiện máy móc đều được mang qua từ Liên sô. Điều này chứng tỏ kế hoạch ướp xác đã được chuẩn bị từ lâu. Những sự kiện trên đây đưọc chuyên viên ướp xác Liên sô kể lại trong một cuộc phỏng vấn trên tờ Phụ Nữ.

Lịch sử Việt Nam từ cổ chí kim chưa có lăng tẫm đền thờ nào vĩ đại như vậy. Nếu đem cộng tổn phí đền Hùng với đền Hai Bà Trưng thì cũng không tốn kém bằng cái bậc thềm đá hoa cương bước lên lăng HCM. Việc xây lăng Hồ đã gây biết bao tốn kém tham nhũng. Các huyện ủy, tỉnh uỷ đã cho bạn bè thân nhân vào rừng đốn hết gỗ qúy, đánh cắp vật dụng. Ai tố cáo sẽ bị quy tội "phản động, ngăn cản kế hoạch xây dựng lăng Bác"

Cũng trên tờ báo Mỹ Register thì lúc đó nhà cầm quyền cộng sản phải thuê mướn hơn 2 ngàn nhân viên chỉ để bảo trì khuôn viên của toà lăng tẫm. Ngoài ra, còn có cả đạo quân dưới quyền chỉ huy của một thiếu tướng lo việc canh gác bảo vệ cho lăng tẫm và xác ông Hồ. Tờ báo Mỹ còn nhận định rằng: "ngân sách ấy lẽ ra phải dùng cho những người dân đang thiếu thốn."

Với một người mà khi còn sống chỉ muốn làm "cha già dân tộc", muốn toàn dân phải tôn thờ mình hơn cả Chúa Phật, ký tên là Trần Dân Tiên và T. Lan để viết sách ca tụng mình, buộc trẻ con phải coi mình như thần tượng, thì thử hỏi khi chết ông ta có chịu âm thầm hoả tang hay không, nhất là trong khi đàn anh của mình đều được lộng kiếng nằm trong lăng tẫm nguy nga tráng lệ???

Thôi nói xa chẳng qua nói thật. Các cháu trung thành của Bác hãy nghe lời Bác đem cái xác khô ra mà hoả thiêu đi. Có thế đất nước Việt Nam mới có tự do. nhân quyền được bảo vệ, Việt Nam sẽ trở thành con rồng vàng Á Châu mà bấy lâu nay người cộng sản hằng mơ tưởng !

Nhàn SF


Hồ Chí Minh chạy về tổ quốc Liên Sô

 

Đôi mắt Hồ Chí Minh trên gương mặt Lenin (Vietnam Magazine)

Vô số sách báo tại Việt Nam trong nhiều năm qua không ngớt ca ngợi Hồ Chí Minh như là một anh hùng dân tộc, yêu tổ quốc, thương đồng bào...Nhưng sự thật thì như thế nào?

Hồ Chí Minh gia nhập Đảng Cộng Sản Pháp năm 1920, và sau đó 1924, Hồ chính thức trở thành đảng viên đảng cộng sản thuộc hệ thống Đệ Tam Quốc Tế. Từ đó coi như Hồ Chí Minh làm và lãnh lương của quốc tế cộng sản. Hồ Chí Minh, qua các tài liệu, cũng như chính ông ta viết ra, tỏ ra rất gương mẫu trong vai trò làm người quốc tế cộng sản.

Chủ trương của quốc tế cộng sản là không thể coi quốc gia mình là quan trọng, mà phải dùng quốc gia của chính mình làm cái đà bước lên danh vọng cá nhân và cho sự ích lợi của quốc tế cộng sản. Chủ trương "tam vô", vô gia đình, vô tổ quốc, vô tôn giáo làm căn bản. Do đó, qua nhiều năm được huấn luyện thành người cộng sản thuần thành, Hồ đã thấm nhuần phong cách trên của người cộng sản.

Bằng chứng cho việc "vô tổ quốc" của Hồ Chí Minh được chứng minh qua một câu văn của T.Lan viết trong "Vừa Đi Vừa Kể Chuyện." T. Lan là bút danh của Hồ Chí Minh mà chính Viện Bảo Tàng Hồ Chí Minh đã công bố. Trang 36, T. Lan viết:" Chỉ còn cách là chạy về Tổ quốc cách mạng - Liên Xô."  Năm 1927, nhận lệnh đàn anh, Hồ Chí Minh hoạt động tại Quảng Châu, nơi đây bị Quốc Dân Đảng ruồng bắt, Hồ chạy qua Thái Lan, rồi chạy sang Mã Lai...Tới Hongkong cũng bị sở mật thám theo dõi, rồi ông chạy sang Thượng Hải. Tại đây Hồ cũng bị trong tình trạng nguy hiểm có thể bị bắt dễ dàng vì quốc tế cộng sản Nguyễn Ái Quốc đã bị nhận dạng. Hồ đành phải chạy về "tổ quốc" của ông là Liên Sô mà chính T.Lan đã xác nhận.

Khi gia nhập Đảng Cộng Sản Đệ Tam Quốc Tế, điều kiện tiên quyết phải nhập tâm là phải biết yếu tố bạo lực cách mạng (violent revolution) mà tổ sư Marx đã đề ra. Khi thực hành thì đảng viên như Hồ Chí Minh phải biết là người thầy gương mẫu Lenin và Stalin áp dụng luật lệ rất gắt gao và sắc máu. Nếu không tuân hành sẽ không toàn mạng. Lenin đã đưa vào cương lĩnh Đảng là cán bộ phải là người "cách mạng chuyên nghiệp" (professional revolutionaries), phải hoạt động toàn thời gian và tuân theo giáo điều đưa ra trong các khóa huấn luyện một cách triệt để. Lenin còn cho rằng các cán bộ, dù được huấn luyện, nhưng khả năng còn kém chưa đủ để tự họ quyết định các vấn đề quan trọng có ảnh hưởng tới quyền lợi đảng cộng sản quốc tế. Cho nên, nhất nhất, khi cần làm điều gì đảng viên vẫn phải hỏi ý kiến và thông qua quyết định của cấp trên. (He was convinced that workers lacked the capacity to think and act effectively for themselves; therefore, they must follow the leadership of a small, elite group, the Communist Party, trang 95, Two Way of Life, the Communist challenge to Democracy).

Sau 30 hoạt động cho quốc tế cộng sản, sống bằng nghề làm "cách mạng chuyên nghiệp," Hồ đáo đầu về lãnh thổ Việt Nam, lập căn cứ tại hang Pac Bo. Tâm trí Hồ lúc nào cũng nghĩ về tổ quốc Liên Sô, đến phải thốt ra mấy câu thơ như "Đây núi Lê-nin, kia suối Mác...Hai tay xây dựng một cơ đồ." Tổ tiên của Hồ không phải là Hùng Vương, các chiến công oanh liệt của lịch sử của Hồ không phải Hai Bà Trưng, Lý Thường Kiệt, Trần Hưng Đạo...Đọc thêm lời của Hồ: "Ở nước tôi, có câu chuyện đời xưa về cái "cẩm nang" đầy phép lạ thần tình. Khi người ta gặp những khó khăn lớn, người ta mở cẩm nang ra, thì thấy ngay cách giải quyết. Chủ nghĩa Lê-nin đối với chúng ta, những người cách mạng và nhân dân Việt Nam, không những là cái "cẩm nang" thần kỳ, không những là cái kim chỉ nam, mà còn là mặt trời soi sáng con đường chúng ta đi tới thắng lợi cuối cùng, đi tới chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa cộng sản. Hồ Chí Minh."

Đấy, tâm thức của Hồ Chí Minh là thế. Tự ông nghĩ ra rồi gán ghép cho nhân dân. Nhân dân nào bằng lòng cái "cẩm nang" thần kỳ của Lenin? Nhân dân nào lại cho rằng Lenin là mặt trời soi sáng con đường...? Trong một câu chuyện nghe qua giữa những người lớn tuổi ngoài miền Bắc: người dân bình thường với cuộc đời bình dị, tự nhiên Hồ mang tới cho họ những sự thay đổi về cách sống, về một con người xa lạ mà Hồ cho là vĩ nhân và bắt mọi người phải tôn thờ. Người ta đã chán chường cảnh sống nô lệ dưới ách thực dân, Pháp đã ra đi coi như thoát nạn, nay lại có thêm hình mấy "thằng mũi lõ râu xồm" của ông Hồ mang về làm đảo lộn thêm đời sống. Suy nghĩ chi cho mệt. Mọi người khi thấy ông Hồ cho phát động chiến dịch treo hình Marx -Lenin, cứ nghĩ cũng là mấy "thằng Tây." Họ đâu phân biệt được các sắc tộc người Tây phương một cách rõ ràng.

Ông Hồ cũng đã từng nói 95% dân mù chữ kia mà, làm sao họ biết "biện chứng duy vật" của Marx là gì, làm gì họ biết chủ nghĩa cộng sản với những nhóm chữ "cách mạng bạo lực," "đấu tranh giai cấp" v.v.. Chỉ có một thiểu số người đầu tiên theo ông Hồ làm công tác tuyên truyền có chút kiến thức, mà trên thực tế thì họ cũng không thấu đáo về lý thuyết cộng sản, nói chi là dân. Ông Hồ cũng đã viết trong "Văn Hồ Chủ Tịch," khi ông hỏi một cán bộ rằng: Hỏi: vậy chú có đọc các bài giảng về Mác Lê chưa? Đáp: Dạ có. Hỏi: Chú đã đọc, nhưng có hiểu gì không? Đáp: Dạ, không hiểu gì hết! Vậy mà Hồ dám cho là nhân dân coi Lenin là "cẩm nang" là "mặt trời soi sáng!"

Người ta lại quay về thời ông Hồ khi gia nhập Đảng Cộng Sản Pháp, tại đại hội Tour, ông Hồ cũng không phân biệt được cộng sản đệ tứ, đệ tam, đệ nhị là gì. Trong lúc này, khi ông viết mấy dòng trên về Lenin, cái "cẩm nang" thần kỳ, thì những người quốc gia tranh đấu cùng thời với Hồ đã hiểu qua thuyết Marx Lenin và lắc đầu cho rằng không bao giờ thích hợp tại Việt Nam. Điển hình như cụ Phan Bội Chậu, 1925, khi Hồ Chí Minh thuyết phục theo cộng sản, cụ đã sáng suốt không chấp nhận, liền sau đó cụ bị Hồ bán cụ cho Pháp. Và trước đó còn có các ông Phan Văn Trường, Nguyễn Thế Truyền, Phan Chu Trinh, Nguyễn An Ninh, họ học về thuyết cộng sản trước Hồ Chí Minh, nhưng họ có theo cộng sản đâu?

Nói như thế để thấy cái u tối của ông Hồ, và để thấy Lenin nhận định về các cán bộ của ông ta không sai. Ông cho rằng cán bộ, chẳng hạn như Hồ Chí Minh, không đủ khả năng suy nghĩ và làm việc có hiệu quả nên chính Lenin mới viết ra một chính sách mới thêm vào những điều căn bản Marx đã đưa ra. Đó là cán bộ phải nhất nhất nghe theo lệnh của cấp trên (small, elite group-the communist party),tức trong đó lãnh đạo chính là Lenin. Nếu không tuân theo thì chính chủ trương bạo lực của chủ nghĩa cộng sản sẽ làm cho cán bộ như ông Hồ không toàn mạng. Hồ nô lệ từ tâm thức nô lệ ra ngoài là vậy.

Khi Hồ Chí Minh đã vong bản như thế thì chẳng lẽ đàn em của Hồ lại không. Những kẻ làm nghề "cách mạng chuyên nghiệp" như Tố Hữu chẳng hạn, phải làm việc, không thể ngồi không lãnh lương, mà khi làm việc thì phải đi theo tiêu chuẩn của Đảng đề ra.Có ai cả gan dám cãi lại? Rất dễ hiểu. Giết người, thủ tiêu hay thanh trừng người khác trong chế độ cộng sản không phải do cảm tính hay giao động tùy lúc, tùy hứng của người hành động, mà đó là chính sách do Marx đề ra và Lenin thi hành chính sách đó đầu tiên. Lenin là thầy, là ánh sáng soi đường của Hồ Chí Minh, mà trong chủ thuyết cộng sản, bạo động được đưa lên hàng đầu, nên dĩ nhiên, Hồ ca ngợi Lenin đồng nghĩa với ca ngợi bạo lực giết người để thi hành mục đích. 

Vì thế, người ta không mấy ngạc nhiên khi đọc những câu thơ của Tố Hữu: "Như giọt máu trong dòng nhiệt huyết chảy về tim...Tôi hòa trong dòng người bất tuyệt...Đi lặng im...Trên đá lát Hồng trường...Mạc Tư Khoa yêu mến...Cám ơn Người đã cho ta hãnh diện...Làm những con người có đủ óc đủ tim...Thà mất đầu, không chịu cúi đầu im...Trước Krem-li!" 

Tố Hữu đã theo gương Hồ coi Lenin như "mặt trời soi sáng" lời dạy của Lenin như "cẩm nang thần kỳ" nên đã cám ơn "Người" đã làm cho Tố Hữu hãnh diện khi đang đi trước Hồng trường, yêu mến Mạc Tư Khoa, một thành phố thuộc tổ quốc Liên Sô của Hồ Chí Minh. Đọc tiếp vần thơ Tố Hữu đúng theo chủ trương sắc máu của Marx Lenin: "Giết, giết nữa bàn tay không phút nghỉ...Cho ruộng đồng lúa tốt, thuế mau xong...Cho Đảng bền lâu, cùng rập bước chung lòng...Thờ Mao chủ tịch, thờ Stalin bất diệt!"

Ở đây, người ta không luận bàn nội dung hay dở, bởi cũng là lẽ thường, khi người cộng sản phản ảnh trong thơ chủ trương tàn ác của chế độ cộng sản, nhưng là nhân cách và nhân phẩm của người cầm bút, người làm thơ. Trong lời thơ của Tố Hữu ta thấy đầy máu tươi của đồng bào ông ta. Tố Hữu dùng ngôn ngữ để vẽ lên hình ảnh của Việt Nam dưới sự lãnh đạo của Hồ Chí Minh, phụ họa bức tranh đẫm máu bên Liên Sô và Trung Cộng khi Stalin và Mao đã giết hằng triệu những người có ý chống Đảng. Có thể nói, những người như Hồ Chí Minh, như Tố Hữu, họ đã bán lương tâm cho phường quỷ đỏ, sẵn sàng đánh đổ văn hóa phong tục ngàn đời của tổ tiên để phụng sự cho thế giới vô nhân bản, vô thần, vô gia đình. "Thương cha, thương mẹ, thương chồng...Thương mình thương một, thương ông thương mười."  cũng là câu thơ nổi danh của nhà thơ văn hóa số một của chế độ cộng sản. Nó đã nói lên bản chất vong bản hết mức của tập đoàn cộng sản. Nhà thơ Nguyễn Chí Thiện đã cho rằng ngôn ngữ Việt không đủ từ để diễn tả hết cái ác của chế độ này.

Để nói lên tính nô lệ của Hồ Chí Minh, Nguyễn Chí Thiện đã gẩy gọn: "Tôi biết nó, đồng bào miền Bắc này biết nó...Việc nó làm, tội nó phạm ra sao...Nó đầu tiên đem râu nó bện vào...Hình xác lão Mao lông lá...Bàn tay Nga đầy băng tuyết giá...Cũng nhoài qua lục địa Trung Hoa...Không phải xoa đầu, mà túm tóc nó từ xa...Nó đứng không yên, tất bật, điên đầu...Lúc rụi vào Tàu, lúc rụi vào Nga...Nó gọi Tàu Nga là cha anh nó...Và tình nguyện làm con chó nhỏ...Xông xáo giữ nhà gác ngõ cho cha anh..."

Sự lệ thuộc đàn anh từ ngày có Đảng được coi như nguyên tắc rồi. Chưa bao giờ Đảng Cộng Sản Việt Nam đứng thẳng trên hai bàn chân, lúc nào cũng dựa vào kẻ khác, khi thì Nga, khi thì Tàu, nay thì nghiêng hẳn theo Tàu để bảo đảm quyền lợi cai trị, theo Mỹ tiếp tế cho nền kinh tế què quặt, vì có thế mới còn cơ hội tiếp tục thống trị. Đảng "đu giây" không ngừng, đu không khéo thì bị té ngã, và cái tài này xem ra khá nhuần nhuyễn vì Đảng đã thực hiện trong hơn 60 năm qua. Một lực lượng của Đảng được dàn dựng đi đi lại lại ở các nước tự do để mưu cầu những lợi ích về kinh tế, nuôi Đảng vinh thân phì da, đi ngược lại 180 độ về chủ trương tiêu diệt tư bản của Đảng. Sau khi mục đích nhuộm đỏ đã hòan thành thì khi bị vấn đề nguy kịch Đảng cũng đã theo gương chủ tịch Hồ chạy về tổ quốc Trung Cộng để nghe giảng huấn và mệnh lệnh, không phải là Liên Sô nữa vì nó đã tan rã từ 1991. Để bảo đảm sinh mạng chính trị của Đảng, Đảng phải nạp mình tự làm nô lệ. Sự nô lệ này được thể hiện rõ rệt qua việc người Tàu vào Việt Nam không cần visa, việc Đảng đã dâng đất nhượng biển, tặng hải đảo cho đàn anh Trung Cộng liên tiếp, văn thư chính thức và bí mật, từ các năm 1958, 1974, 1999, 2000, 2007. 

Thêm nữa, đầu năm 2009, việc bành trướng thế lực chính trị tại Đông Nam Á nói chung và Việt Nam nói riêng của Trung Cộng một cách công khai. Hàng ngàn nhân công (thật ra ra cán bộ, bộ đội?) đã và đang đổ bộ vào miền Tây nguyên qua việc khai thác Bọ Xít. Không có một thái độ chống đối, Đảng còn "hồ hởi" nhìn ngoại nhân đang xâm chiếm lãnh thổ một cách mãn nguyện? Bởi hai bên với nhau là "đồng bào Hoa"(báo Saigon GP) là "môi hở răng lạnh", còn quyền lợi của toàn dân Việt Nam là con số không to tướng.

Bút Sử


Tại Sao HCM dùng Tuyên Ngôn Độc Lập của HK trong ngày 2/9/45?

Nhiều người đã từng bàn tán về việc lý do gì ông Hồ Chí Minh đọc "Tuyên Ngôn Độc Lập" trong ngày 2/9/1945 tại Ba Đình, Hà Nội, lại mượn nguyên văn trong Bản Tuyên Ngôn Độc Lập của Hoa Kỳ? Mở đầu Hồ Chí Minh đọc: "Hỡi đồng bào cả nướcTất cả mọi người đều sinh ra có quyền bình đẳng. Tạo hoá cho họ những quyền không ai có thể xâm phạm được; trong những quyền ấy, có quyền được sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc." Câu tiếng Anh là : "All men are created equal. They are endowed by their Creator with certain inalienable rights; among these are Life, Liberty, and the pursuit of Happiness."

Có người cho rằng ông Hồ, mặc dù là lãnh tụ của Đảng Cộng Sản Việt Nam, nhưng không đủ khả năng tự viết ra những lời lẽ riêng có ý nghĩa để đọc trong ngày quan trọng này. Điều này suy ra cũng có lý. Trong hằng ngàn các bài viết Hồ Chí Minh dùng nhiều bút danh khác nhau đăng trên các báo Đảng cũng chỉ là những lời kêu gọi nung đúc tinh thần cán bộ và dân chúng, những câu chuyện "anh hùng" từ trí tưởng tượng, những bài viết chửi Mỹ, ca tụng lãnh tụ Lenin, Mao...Nói riêng về tư tưởng thì Hồ Chí Minh không có gì cả. Những quyển sách với bút danh Trần Dân Tiên, T. Lan....,Hồ Chí Minh cũng chỉ viết theo lọai chuyện kể: tài lãnh đạo, dạy mưu kế, tài lèo lái của "Bác Hồ,"  ông Hồ như một vĩ nhân có một không hai...

 Ông William Duiker, tác giả "Ho Chi Minh - A Life" mà có người cho rằng quyển sách này ca tụng Hồ như một người "quốc gia," không hẳn  hòan tòan cộng sản. Duiker cũng nhận xét rằng ông Hồ không có gì để lại cho đời như là một "tư tưởng." Trang 5: "Nor did he write frequently about his ideas or inner motivations....For that reason, Ho has often been dismissed by scholars - and sometimes by his own contemporaries - as a mere practitioner, rather than as a revolutionary theoretician. The distinction never seemed to bother him. To an interviewer who once asked why he had never written an ideological treatise, he playfully replied that ideology was something he would leave to Mao Zedong."  Đọan văn trên được dịch là " Ông ta không thường viết về những tư tưởng hoặc là những  tác động nội tại của ông...Vì lý do này, ông Hồ không được chú ý bởi những học giả uyên bác - và có khi những người bạn đồng hành của ông ta cũng nghĩ vậy. Một người phóng viên đã có lần hỏi tại sao ông chưa bao giờ viết một bài luận có tính tư tưởng, ông trả lời một cách giởn cợt là tư tưởng là thứ mà ông ta dành cho ông Mao Trạch Đông lo." 

Những lời trong "Tuyên Ngôn Độc Lập" cần phải có tư tưởng không? Tư tưởng cao không có thì ông Hồ chắc cũng có đủ khả năng viết lên những suy nghĩ phù hơp với hiện tình đất nước trong giai đọan đó mà. Ông lại "copy" nguyên văn một vài câu căn bản của Bản Tuyên Ngôn Độc Lập Hoa Kỳ năm 1776 và  Tuyên Ngôn Nhân Quyền và Dân Quyền của Pháp năm 1791. Tại sao Hồ Chí Minh (Nguyễn Ái Quốc) lúc này là một thủ lãnh Đảng Cộng Sản Đông Dương và Việt Nam, nghĩa là kẻ thù của chế độ tự do, lại dùng ngay lời trong Tuyên Ngôn của nước thù địch? Để trả lời câu hỏi trên, thử phân tách và nhận xét một cách chi tiết liên quan tới giai đọan Việt Minh cướp chính quyền:

1. Nhật đảo chánh Pháp ngày 9 tháng 3, 1945. Pháp ra đi. Vua Bảo Đại tuyên bố độc lập, xé hòa ước 1884 với Pháp, gia nhập khối Đại Đông Á. Ông Trần Trọng Kim thành lập chính phủ  ngày 17 tháng 4, 1945, gồm đầy đủ thành phần: Thủ Tướng, Ngọai Giao, Nội Vụ, Tư Pháp, Giáo Dục và Mỹ Nghệ, Tài Chánh, Thanh Niên, Công Chánh, Y Tế, Kinh Tế, Tiếp Tế....Tuy nhiên, trong lúc chính phủ còn mới đang cần sự trợ giúp của Nhật, mà Nhật lại sắp thua trận. Nhật phải đầu hàng Đồng Minh, ngày 15 tháng 8, 1945,  sau hai trái bom nguyên tử tại Nagasaki và Hiroshima. Đây là cơ hội cho Việt Minh nổi dậy và cướp chính quyền ngày 17 tháng 8, 1945. Sau đó 2 ngày, tức 19 tháng 8, 1945, Việt Minh tổ chức một buổi tập họp quy mô hơn để chính thức tuyên bố cướp chính quyền của chính phủ Trần Trọng Kim. Ngày 2 tháng 9, tại Ba Đình, Hà Nội, Hồ Chí Minh công khai thành lập chính phủ lâm thời và đọc tuyên ngôn.

2. Kết thúc thế chiến thứ hai, Hoa Kỳ được coi như quốc gia sáng giá. Pháp, Anh, Nga, Tàu bị kiệt quệ về nhiều mặt... Trong lúc Hồ Chí Minh là chủ tịch của chính phủ "Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa" mà trên thực tế chưa có quốc gia nào công nhận.  Không còn ai ngòai Hoa Kỳ mà Hồ muốn nhắm vào. Hồ Chí Minh là một người cộng sản đã có thành tích họat động trên 20 năm với tập đòan cộng sản Nga Tàu. Vi` quá muốn Hoa Kỳ công nhận, nên Hồ Chí Minh đã có nhiều thủ thuật trước ngày 2 tháng 9: nhờ thiếu tá tình báo OSS Archimedes Patti vận động với chính phủ Hoa Kỳ, làm những cuộc biểu dương đóan tiếp vinh danh phái đòan OSS...Và thủ thuật cuối cùng là dùng ngay lời trong Bản Tuyên Ngôn Độc Lập của Hoa Kỳ. Nhưng rồi, cuối cùng thì Hoa Kỳ đã không công nhận Hồ Chí Minh.

3. Không ngừng ngay tại đó sau khi bị Hoa Kỳ bỏ rơi, Hồ Chí Minh tiếp tục vận động, viết thư gửi lãnh đạo Hoa Kỳ. Đã có 8 lá thư từ 1945 đến 2/1946 ông Hồ gửi cho Tổng Thống Truman. Trong những lá thư, nhất là những lá thư đầu ông Hồ đề cập tới nạn đói nhờ Hoa Kỳ giúp đỡ, nhưng ông Truman đã bỏ qua không hề quan tâm. Lý do tại sao? Tổng thống Truman đã thừa biết Hồ Chí Minh chính là Nguyễn Ái Quốc, một đảng viên cao cấp của Đảng Quốc Tế Cộng Sản, mặc dù ông Hồ dấu kín quá trình họat động cộng sản, chưa bao giờ Hồ tiết lộ vấn đề này cho những người Mỹ biết, ngay cả trong giai đọan làm tình báo cho OSS với bí danh Lucius. Vai trò của ông Hồ trong OSS chỉ quá khiêm nhường nên khi biết Hồ Chí Minh là đảng viên cộng sản, Mỹ vẫn cứ dùng hay đúng hơn là dùng trong giai đọan đang đối đầu với Nhật (Đảng và ông Hồ lại hay huyên hoang Đảng có công chống Nhật mới là điều tức cười). Có quan niệm cho rằng Hồ Chí Minh quay đầu sang tìm sự hỗ trợ của phe cộng sản và trở thành một cán bộ cộng sản cao cấp vì Hoa Kỳ bỏ rơi. Đây là nhận xét vô cùng sai lầm, hay đã bỏ qua giai đọan của cuộc đời người quốc tế cộng sản họat động không ngừng nghỉ trong hơn 20 năm trước.  

Tóm lại, chủ trương của cộng sản là dùng phương tiện để đạt được mục đích, dù cho phương tiện ấy xem ra có nghịch lý với chủ trương. Dùng Hoa Kỳ để thực hiện một số kế họach trong giai đọan vừa cướp chính quyền, nhưng Hồ Chí Minh đã không đạt được dụng ý. Như bản chất của người cộng sản, cả đời của chế độ cộng sản là sống trong mâu thuẫn: nói và làm đối nghịch nhau, mọi giải quyết bằng vũ lực, luật lệ viết ra đó chỉ là để màu mè cho có vẻ văn minh. "Mọi người sinh ra đều bình đẳng...có quyền được sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc" được thực hiện chính xác tại đất nước Hoa Kỳ, nơi khai sinh ra Bản Tuyên Ngôn, và đây mới chính là vương đạo. Kẻ bá đạo, ngày trước là Hồ Chí Minh đã không ngượng ngập "đạo văn" từ Bản Tuyên Ngôn Hoa Kỳ, nay Đảng và Nhà Nước Cộng Sản Việt Nam không biết xấu hổ khi lập lại lời trên, và trên thực tế thì mọi nhân quyền tại Việt Nam bị cướp đọat, lãnh đạo Đảng thì vươn tay ra Hoa Kỳ và các nước tự do để cầu viện và làm giàu cho chính bản thân những đảng viên.

Bút Sử


 

Ho Chi Minh and the OSS

By Claude G. Berube 

 As U.S. Army Major Allison Thomas sat down to dinner with Ho Chi Minh and General Vo Nguyen Giap on September 15, 1945, he had one vexing question on his mind. Ho had secured power a few weeks earlier, and Thomas was preparing to leave Hanoi the next day and return stateside, his mission complete. He and a small team of Americans had been in French Indochina with Ho and Giap for two months, as part of an Office of Strategic Services (OSS) mission to train Viet Minh guerrillas and gather intelligence to use against the Japanese in the waning days of World War II. But now, after Ho’s declaration of independence and Japan’s surrender the previous month, the war in the Pacific was over. So was the OSS mission in Indochina. At this last dinner with his gracious hosts, Thomas decided to get right to the heart of it. So many of the reports he had filed with the OSS touched on Ho’s ambiguous allegiances and intents, and Thomas had had enough. He asked Ho point-blank: Was he a Communist? Ho replied: “Yes. But we can still be friends, can’t we?”

It was a startling admission. In the mid-1940s, the Viet Minh leadership, under Ho Chi Minh, looked to the West for help in its independence movement and got it. As World War II ended, the United States and its allies, most of them former colonial powers, now confronted a new problem. Independence movements were emerging all over the East. But former colonial powers had lost their military muscle, and the Americans simply wanted to “bring the boys home.” During the war, the United States had sought any and all allies to combat the fascist powers, only to find, years later, it may have inadvertently given birth to new world leaders either through misconceptions or missed opportunities. Vietnam’s independence leader, Ho Chi Minh, had been only a relatively minor figure just a few years earlier. In 1945, Ho became the leader of a movement that would result in revolutionary tumult for decades to come.

Deer Team Meets a "Mr. Hoo"

Two months before Thomas’ farewell dinner with Ho and Giap, he and six others from Special Operations Team Number 13, code-named “Deer,” had parachuted into a jungle camp called Tan Trao, near Hanoi, with directions to proceed to the headquarters of Ho Chi Minh, whom they naively knew only as a “Mr. Hoo.” Their mission, as they understood it, was to set up a guerrilla team of 50 to 100 men to attack and interdict the railroad from Hanoi to Lang Son to prevent the Japanese from going into China. They were also to find Japanese targets such as military bases and depots, and send back to OSS agents in China whatever intelligence they could. And they were to provide weather reports for air drops and U.S. Army Air Forces (USAAF) operations on an as-needed basis.

Thomas had parachuted in on July 16, 1945, part of a three-man advance team that also included radio operator 1st Sgt. William Zielski and Pfc Henry Prunier, their interpreter. Not knowing who or what to expect when they reached the drop zone, Thomas and his team soon found themselves surrounded by 200 guerrilla fighters who greeted them warmly and showed them to their huts. They then met with Ho Chi Minh, who called himself “C.M. Hoo,” at his headquarters to coordinate operations with him. Thomas had no idea that Ho was a Communist, spoke Russian or had visited the Soviet Union. Nonetheless, Ho openly discussed politics with Thomas, stressing not only the abuses by the French, but also his desire to work with the French toward a solution.

 In his first official report to OSS Director Archimedes L.A. Patti in Kunming, China, the following day, Thomas noted, referring to Ho: “He personally likes many French but most of his soldiers don’t.” This may have been one of Ho’s ongoing ruses to ingratiate himself with potential but temporary allies. In his mid-50s, Ho apparently thoroughly convinced the Deer Team commander of his sincerity. In an effort to further dispel OSS or U.S. government concerns about Ho, Thomas emphatically wrote in the report: “Forget the Communist Bogy. VML [Viet Minh League] is not Communist. Stands for freedom and reforms from French harshness.”

On July 30, the remainder of the Deer Team parachuted in, consisting of the assistant team leader, Lieutenant René Defourneaux, Staff Sgt. Lawrence R. Vogt, a weapons instructor, photographer Sergeant Aaron Squires and a medic, Pfc Paul Hoagland. Defourneaux, a French expatriate who had become a U.S. citizen, had parachuted into France earlier in the war to help the Resistance before joining the OSS.

The first person that Defourneaux met when he reached the drop zone was a “Mr. Van,” General Giap, who seemed to be in charge. Ho was not around much, but when Defourneaux saw him, his first impression was of a sick old man clearly suffering from some disease. In one of the ironies of history, the Vietnam War, at least with the Communists under Ho Chi Minh, might never have happened if the Americans hadn’t arrived when they did.

“Ho was so ill he could not move from the corner of a smoky hut,” Defourneaux said. Ho didn’t seem to have much time to live; Defourneaux heard it would not be weeks but days. “Our medic thought it might have been dysentery, dengue fever, hepatitis,” he recalled. “While being treated by Pfc Hoagland, Ho directed his people into the jungle to search for herbs. Ho shortly recovered, attributing it to his knowledge of the jungle.”

In other reports to the OSS, Thomas had raised a number of political concerns, from Ho’s allegiances, to Indochina’s struggle with the French, Vichy, Japanese, Chinese and the British. In a July 27 report, Thomas had stated that Ho’s league was an amalgamation of all political parties that stood for liberty with “no political ideas beyond that.” Thomas added, “Ho definitely tabooed the idea that the party was communistic” since “the peasants didn’t know what the word communism or socialism meant—but they did understand liberty and independence.” He noted that it was impossible for the French to stay, nor were they welcome since the Vietnamese “hated them worse than the Japs….Ho said he would welcome a million American soldiers to come in but not any French.”

Control of French Indochina During WWII

French Indochina during World War II was a simmering cauldron of colonial powers on the decline, of colonial powers divided and other powers on the rise. Comprised largely of Vietnam, Cambodia and Laos, French Indochina had become in the late 19th century the “jewel in France’s crown” in Southeast Asia.

Among the several competing global, regional and internal interests in French Indochina during World War II were: Vichy France, which controlled its colony only with permission of its Japanese ally and German dominator; followed then by the French Republic, which sought to reclaim its colonial territories; the United States, which was fighting against Japan; and Japan, which sought to maintain its regional hegemony. Also involved were the warring Communists and Nationalists in China, which sought to influence the region to their south; and a variety of independence-seeking indigenous factions that all wanted to remove the yoke of any colonial or imperial power.

 Vietnam itself was divided into three main regions with their own factions fighting for control: the northern Tonkin, central Annam and southern Cochinchina. French control over Indochina was challenged only when France fell to the Germans in 1940 and was divided into two governments—occupied France, and to the south the nominally neutral, German-dominated Vichy government under World War I hero Marshal Henri Philippe Pétain. Vichy retained control of most of the French overseas territories during the war, including Indochina. However, the French remaining in Indochina were less loyal to the German puppet Vichy government than they were to Pétain.

As Japan expanded into the Pacific and Asia early in World War II, it ironically found itself hamstrung by its own alliance with Nazi Germany. For, so long as both the Vichy government and Imperial Japan were tied to Germany, the French retained de facto control of Indochina, although Japan was permitted to establish military bases. As the war in the Pacific wound down, however, the Allied invasion of Normandy and liberation of Paris resulted in the fall of Vichy France in August 1944 and, with it, any claims on colonial territories.

Throughout most of World War II, the United States was finding and supporting allies in China and other Southeast Asian regions, including French Indochina, to pose a threat to the Japanese military wherever possible. With the liberation of France in 1944, the U.S. government turned to its primary coordinator of intelligence during the war: the OSS, created in 1942 by President Franklin D. Roosevelt.

OSS to Ho: Work With Us Against the Japanese

At the time, the OSS was operating a base in China’s wartime capital, Chungking. With the growing military complications in Indochina, Brig. Gen. William Donovan, the director of the OSS, instructed his staff to use “anyone who will work with us against the Japanese, but do not become involved in French-Indochinese politics.” The Viet Minh, a liberation movement that had emerged under Ho Chi Minh in the early 1940s, was seeking not only Vietnam’s independence from France, but also freedom from the Japanese occupation. In mid-1944 the OSS approached Ho to help organize an intelligence network in Indochina to help fight the Japanese and to help rescue downed American pilots. By then, “Ho had been cooperating with the Americans in propaganda activities,” wrote Captain Archimedes Patti, head of the OSS base in Kunming, China, and later Hanoi.

The American association with Ho had actually begun in December 1942 when representatives of the Viet Minh approached the U.S. Embassy in China for help in securing the release of “an Annamite named Ho Chih-chi (?) [sic]” from a Nationalist Chinese prison, where he was being held for having invalid documents. In September 1943, when Ho was finally released, he returned to Vietnam to organize Vietnamese seeking independence. An October 1943 OSS memo proposed that the United States “use the Annamites…to immobilize large numbers of Japanese troops by conducting systematic guerrilla warfare in the difficult jungle country.” The missive went on to suggest the OSS’s most effective propaganda line was to “convince the Annamites that this war, if won by the Allies, will gain their independence.”

As the Axis retreated in Europe, and what remained of the Vichy French government fell, Japan was no longer restrained in Indochina by its ties to Germany. The Japanese quickly made inroads into Vietnam, staging a coup d’état in March 1945 that dissolved the French government and established a puppet government. On March 11, Emperor Bao Dai proclaimed Vietnam’s independence and his intent to cooperate with the Japanese. Ho Chi Minh was surprised by this development, and regarded another independence movement as a threat to the Viet Minh’s. At the same time, with the Japanese coup against the French, the OSS realized it was cut off from the flow of intelligence from French Indochina to its base in Kunming, and it urged Ho to work with the United States.

 “The coup has produced many new and perhaps delicate problems which will demand considerable attention,” the OSS officers in China reported to headquarters. “The French are no longer in power. There are 24 million [Vietnamese] in Indochina [offering] support for the new nationalistic regime. Militarily, it calls for an alteration of military plans; we can’t count on French and native troops.” The Japanese did not have the military strength to defend all of Vietnam, however, and the Viet Minh began to organize themselves as the provisional government in all but the largest towns, where the Japanese had strongholds.

Also in March 1945, Viet Minh guerrillas rescued a U.S. pilot who had been shot down in Vietnam. Ho Chi Minh himself escorted the pilot back to the American forces in Kunming, where the Fourteenth Air Force was based. Rejecting an offer of a monetary reward, Ho asked only for the honor of meeting Maj. Gen. Claire Chennault, founder of China’s legendary American Volunteer Group, the “Flying Tigers,” and now commander of the Fourteenth Air Force. During the meeting on March 29, Chennault thanked Ho, who, after promising to help any other downed American pilots, requested only an autographed photo of the general. Ho would later cannily show the picture to other nationalist Vietnamese factions as proof of his warm relations with—and implied support from—the Americans. At this time, few knew that Ho (whose real name was Nguyen Ai Quoc) was a long-time Communist who had been trained in the Soviet Union. Even the Office of War Information reportedly was impressed by Ho and his “English, intelligence and obvious interest in the Allied war effort.”

On April 27, Captain Patti met with Ho Chi Minh to ask him for permission to send an OSS team to work with him and the Annamites to gather intelligence on the Japanese. “Welcome, my good friend,” said Ho in greeting Patti. He agreed to work with an OSS team and asked Patti for modern weapons. Ho then set up a training camp in the jungle, at place he called Tan Trao—the former hamlet of Kimlung and the new location of Viet Minh headquarters—about 200 kilometers from Hanoi. There he prepared for the Americans’ arrival.

Deer Team Begins Training the Viet Minh

Captain Patti’s OSS group, the Deer Team, was established on May 16 and made its way from the United States to the OSS station in Kunming, where it waited two months for permission to enter French Indochina. Finally the decision was made for Major Thomas and the team’s six other members to parachute to the Tan Trao training camp in July.

Captain Patti had served with Thomas in North Africa and thought he “was a fine young officer but understandably unsophisticated in the way of international power struggles.” Thomas became quick friends with Ho and Giap at Tan Trao, often ignoring the rest of the team. Part of the team’s mission was to indicate targets for the USAAF, but Thomas spent most of his time with Ho and Giap, and even redirected USAAF targets against the Japanese based on Ho’s recommendations, in direct conflict with orders he had received from the OSS.

Defourneaux, who had assumed the alias of Raymond Douglas, the son of a Franco-American mother, to protect him from the locals, had a different experience with Ho. The leader continually probed Defourneaux and challenged his cover story, wary of him. Ho told Defourneaux he hoped the United States would handle Vietnam the way it had the Philippines. “We deserved the same treatment,” said Ho. “You should help us reach the point of independence. We are self-sufficient.” Defourneaux did not believe that Giap and Ho were “on the same wavelength,” and that Giap was doing things independently. At the time, he did not know that Giap, or “Mr. Van,” another of the OSS’s “friends of the forest,” was running an indoctrination school on communism.

 As Thomas’ friendship with Giap and Ho grew, his relationship with his own men deteriorated, and Defourneaux became wary of them. Ho, and especially Giap, had “full control over our leader,” said Defourneaux. In his diary, Defourneaux wrote of Thomas: “I stay with the boys and cannot help hear their conversations. They hate him, personally I hate him more and more every day.” He said that Thomas thought Ho and Giap were simply agrarian reformers, “but Ho didn’t know how to use a shovel and Giap didn’t know how to milk a cow.”


Deer Team members supervise small-arms training at Ho's Tan Trao jungle camp in August 1945. (National Archives)

The members of the Deer Team had to wait a couple of weeks for supply drops in early August before they could start small-arms and weapons training for the guerrilla forces. Once the arms arrived, the Americans showed the Viet Minh (most were recently civilians) how to fire the American M-1 rifle and M-1 carbine, and how to use mortars, grenades, bazookas and machine guns. For training, they used U.S. Army field manuals, and focused on guerrilla warfare.

Japan Surrenders and Ho Declares Vietnamese Independence

Shortly after training began the second week in August, Sergeant Zielski, the team’s radio operator, picked up a broadcast on August 15 announcing the Japanese surrender, following the atomic bombing of Hiroshima on August 6, and Nagasaki on the 9th.

Realizing its training mission was over, the Deer Team issued arms to the soldiers and prepared to leave the following day. Under the terms of Japan’s surrender, the British would occupy the south of Vietnam, and the Chinese would move to the north to disarm Japanese soldiers and return them to their homeland.

The Americans left camp on August 16 and traveled on foot with Giap and his troops to Thai Nguyen, the French provincial capital. There, the guerrillas fought the French and the Japanese until the French governor capitulated, on August 25, and the Japanese, finally realizing their homeland had surrendered, accepted a truce the next day. During this fighting, Giap had arranged for the Deer Team to stay hidden away in a safe house on the outskirts of town.

Meanwhile, the Viet Minh had planned to hold a conference in Tan Trao on August 16, the National People’s Congress. About 30 delegates from Vietnam, Thailand and Laos had assembled in the village to discuss their concerns. Over the next several days, amid political uncertainty, several of the delegates had attempted to seize control. Ultimately Ho Chi Minh claimed leadership and was elected president of the provisional government on August 27. They proposed and voted on a new national anthem, and a new national flag with a gold star on a red background, which would become intimately familiar to most U.S. ground troops two decades later.

A week later, on September 2, the same day General Douglas MacArthur received the formal Japanese surrender aboard the battleship Missouri, Ho Chi Minh was in Hanoi and declared Vietnamese independence from all colonial powers, using the American Declaration of Independence as his template. Banners of “Welcome to the Allies” (specifically, the United States) flew in the city’s Ba Dihn Square, the OSS contingent in Hanoi photographed the occasion and Minister of the Interior Giap recognized U.S. support in a speech.

Coincidentally, the same day of Ho’s declaration of independence, Lt. Col. Peter Dewey, the nephew of two-time presidential candidate Thomas Dewey, arrived in Saigon. The colonel was commander of another OSS team in Indochina, code-named “Embankment,” which was overseeing intelligence in the Saigon area. As the month wore on in Saigon, the British, free from hostilities with the Japanese, became politically involved, chaos ensued and civil war raged. Dewey was ordered out of Vietnam by the British, who suspected him of working with the Viet Minh. Before leaving, Dewey wrote in a report to the OSS: “Cochinchina is burning, the French and British are finished here, and we ought to clear out of Southeast Asia.”

 On September 26, two days after the Viet Minh led a national strike in response to British-imposed martial law, Dewey was ready to depart Saigon. Leaving in an unmarked jeep for the airport, he was ambushed and killed a few yards from an OSS house, thus becoming the first American casualty in Vietnam, nearly two decades before full U.S. involvement in the Vietnam War. Although there was wide speculation on the shooters, ranging from conspiracies involving allies to cases of mistaken identities, an investigation failed to produce an answer. Captain Patti informed Ho Chi Minh of Dewey’s death, and Ho expressed his regrets to U.S. headquarters in Saigon.

OSS Ends Its Mission in Indochina

With the war in the Pacific over, the OSS ended its mission in Indochina. The Deer Team had stayed in Thai Nguyen for a few days following the Viet Minh victory there, “getting fat, getting a sun-tan, visiting the city and waiting for permission [from Patti] to go to Hanoi,” said Defourneaux. “The Viet Minh did everything to make our stay as pleasant as possible for us.” Once they arrived in Hanoi, the Americans prepared to return to the United States. The night before leaving, Major Thomas had his private dinner with Ho and Giap.

In the years that followed, Ho Chi Minh continued to write letters of a diplomatic nature to President Harry Truman, asking for U.S. aid, but the letters were never answered. Ho didn’t break with the United States until the Americans gradually became involved with the French in working against the Vietnamese in the 1950s.

Although OSS agents clearly played a role in Indochina during the World War II, clear causes and effects with regard to the future U.S.-Vietnamese conflict are far more cloudy.

First, working with individuals or organizations that did not share American values or interests was not uncommon, particularly during World War II. Perhaps the best example was the U.S. alliance with the Soviet Union, specifically with Josef Stalin.

Second, the United States needed to reach out to an established and recognized organization within Indochina. There was no natural indigenous U.S. ally in that region, nor was there an embedded colonial interest because France itself was divided.

Third, through its in situ OSS team, the United States had little immediate effective tactical, operational or strategic impact on Ho Chi Minh, the future General Giap or the Viet Minh.

Was America, through the OSS, responsible for the rise of Ho Chi Minh and his subsequent war against the United States? No, but neither was it completely free of such responsibility. Ho manipulated the inexperienced leader of the Deer Team as well as U.S. diplomatic officials in Kunming to serve his unstated needs. Having a personal photo of Chennault or having OSS agents stand by his side demonstrated his international standing among the Vietnamese. Also, the failure to identify Ho Chi Minh as Soviet-trained and a Communist ideologue was a major American intelligence shortcoming that smoothed the way for Ho’s emergence as a national leader and in the end, an enemy of the United States.

In later years when asked by journalists or historians about his relationship with Ho, Thomas was defensive: “I was friendly with him and why shouldn’t I be? After all, we were both there for the same purpose, fighting the Japanese…it wasn’t my job to find out whether he was a Communist or not.”

Ultimately, out of the chaotic and momentous conclusion of World War II—almost imperceptibly—the die was cast for the coming storm that over the next three decades would pit the world’s greatest superpower against an indigenous movement led by men who, at its birth, sought the friendship and support of the United States.

 

 OSS trained Viet Minh

 

OSS Deer Team members pose with Viet Minh leaders Ho Chi Minh and Vo Nguyen Giap during training at Tan Trao in August 1945. Deer Team members standing, l to r, are Rene Defourneaux, (Ho), Allison Thomas, (Giap), Henry Prunier and Paul Hoagland, far right. Kneeling, left, are Lawrence Vogt and Aaron Squires. (Rene Defourneaux)

Claude G. Berube teaches at the United States Naval Academy and is the co-author with John Rodgaard of A Call to the Sea: Captain Charles Stewart of the USS Constitution.

dd your main content here - text, photos, videos, addons, whatever you want!

====================================================

The Blood Red Hands of Ho Chi Minh

        THE BLOOD - RED HANDS OF HO CHI MINH

                                                                                       By John G. Hubbell

 

·         His Goal: total subjugation of the Vietnamese people, South and North.

·         His means: a coldly calculated campaign of terror, torture and murder

The Reader's Digest November 1968

 

The village chief and his wife were distraught. One of their children, a seven-year-old boy, had been missing for four days. They were terrified, they explained to Marine Lt. Gen. Lewis W. Walt, because they believed he had been captured by the Vietcong.

Suddenly, the boy came out of the jungle and ran across the rice paddies toward the village. He was crying. His mother ran to him and swept him up in her arms. Both of his hands had been cut off, and there was a sign around his neck, a message to his father: if he or any-one else in the village dared go to the polls during the upcoming elections, something worse would happen to the rest of his children.

The V.C. delivered a similar warning to the residents of a hamlet not far from Danang. All were herded before the home of their chief. While they and the chief's pregnant wife and four children were forced to look on, the chief's tongue was cut out. Then his genital organ were sliced off and sewn inside his bloody mouth. As he died, the V.C. went to work on his wife slashing open her womb. Then, the nine-year-old son: a lance was rammed through one ear and out the other. Two more of the chief's children were murdered the same way. The V.C. did not harm the five-year-old daughter – not physically; they simply left her crying, holding her dead mother's hand.

General Walt tells of his arrival at a district headquarters the day after it had been overrun by V.C. and North Vietnamese army troops. Those South Vietnamese soldiers not killed in the battle had been tied up and shot through their mouths or the backs of their heads. Then their wives and children, including a number of two- and three-year-olds, had been brought into the street, disrobed, tortured and finally executed: their throats were cut; they were shot, beheaded, disemboweled. The mutilated bodies were draped on fences and hung with signs telling the rest of the community that if they continued to support the Saigon government and allied forces, they could look forward to the same fate.

These atrocities are not isolated cases; they are typical. For this is the enemy’s way of warfare, clearly expressed in his combat policy in Vietnam. While the naive and anti-American throughout the world, cued by communist propaganda, have trumpeted against American “immorality” in the Vietnam war -aerial bombing, the use of napalm, the inevitable (but relatively few) civilian casualties caused by American combat action- daily and nightly for years, the communists have systematically authored history’s grisliest catalogue of barbarism. By the end of 1967, they had committed at least 100,000 acts of terror against the South Vietnamese people. The record is an endless litany of tortures, mutilations and murders that would have been instructive even to such as Adolf Hitler.

Perhaps because until recently the terrorism has been waged mainly in remote places, this aspect of the war has received scant attention from the press. Hence the enemy has largely succeeded in casting himself in the role of noble revolutionary. It is long past time for Americans, who are sick and tired of being vilified for trying to help South Vietnam stay free, to take a hard look at the nature of this enemy.

Blood-Bath Discipline:

The terror had its real beginning when Red dictator Ho Chi Minh consolidated his power in the North. More than a year before his 1954 victory over the French, he launched a savage campaign against his own people. In virtually every North Vietnamese village, strong-arm squads assembled the populace to witness the “confessions” of landowners. As time went on, businessmen, intellectuals, schoolteachers, civic leaders – all who represented a potential source of future opposition – were also rounded up and forced to “confess” to “errors of thought.” There followed public “trials,” conviction and, in many cases execution. People were shot, beheaded, beaten to death; some were tied up, thrown into open graves and covered with stones until they were crushed to death.

Ho has renewed his terror in North Vietnam periodically. Between 50,000 and 100,000 are believed to have died in these blood-bath-in a coldly calculated effort to discipline the party and the masses. To be sure, few who escape Ho’s terror now seem likely to tempt his wrath. During the 1950s, however, he had to quell some sizable uprisings in North Vietnam – most notably one that occurred in early November 1956, in Nghe An province, which included Ho’s birthplace village of Nam Dan. So heavily had he taxed the region that the inhabitants finally banded together and refused to meet his price. Ho sent troops to collect, and then sent in an army division, shooting. About 6000 unarmed villagers were killed. The survivors scattered, some escaping to the South. The slaughter went largely unnoticed by a world the preoccupied with the Soviet Union’s rape of Hungary.

With North Vietnam tightly in hand, the central committee of the North Vietnamese communist party met in Hanoi on March 13, 1959, and decided it was time to move against South Vietnam. Soon, large numbers of Ho’s guerrillas were infiltrating to join cadres that had remained there after the French defeat in 1954. Their mission: to eliminate South Vietnam’s leadership, including elected officials, “natural” leaders, anyone and everyone to whom people might turn for advice. Also to be liquidated were any South Vietnamese who had relatives in their country’s armed forces, civil services or police; any who failed to pay communist taxes promptly; any with five or more years of education.

A captured V.C. guerrilla explained how his eight-man team moved against a particular target village: “The first time we entered the village, we arrested and executed on